Nghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng loài tre mai (Dendrocalamus yunnanicus Hsueh et D. Z. Li) ở tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 54

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRIỆU ĐÌNH HOÀNG

NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN CÂY ĐẦU DÒNG
LOÀI TRE MAI (Dendrocalamus yunnanicus
Hsueh et D. Z. Li) Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

THÁI NGUYÊN - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRIỆU ĐÌNH HOÀNG

NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN CÂY ĐẦU DÒNG
LOÀI TRE MAI (Dendrocalamus yunnanicus
Hsueh et D. Z. Li) Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ TỈNH BẮC KẠN
Ngành: Lâm học
Mã số: 8.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Thị Thu Hà


Thái Nguyên, tháng 9 năm 2018
Tác giả

Triệu Đình Hoàng


iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... ii
MỤC LỤC ......................................................................................................... iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ............................................................................... v
DANH MỤC HÌNH ẢNH ................................................................................ vi
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ...................................................................... 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................. 4
1.1.

Cơ sở khoa học ........................................................................................ 4

1.1.1. Khái quát về cây Tre Mai ........................................................................ 4
1.1.2. Đặc điểm phân bố .................................................................................... 4
1.1.3. Đặc điểm hình thái .................................................................................. 4
1.1.4. Đặc điểm sinh thái ................................................................................... 5
1.1.5. Giá trị kinh tế........................................................................................... 6
1.1.6. Cơ sở khoa học về cây đầu dòng ............................................................. 7
1.2.

Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam .................................... 7


Đặc điểm sinh học cây Tre Mai ............................................................ 38

3.1.1. Đặc điểm hình thái cây Tre Mai ........................................................... 38
3.2. Đánh giá thực trạng phát triển cây Tre Mai ở hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn
............................................................................................................... 44
3.2.1. Đặc điểm sinh trưởng câyTre Mai theo vùng sinh thái ........................ 45
3.2.2. Đặc điểm địa hình nơi gây trồng cây Tre Mai ..................................... 46
3.2.3. Hiện trạng rừng cây Tre Mai phân theo tuổi cây ................................. 48
3.3.

Đánh giá các lâm phần cây Tre Mai tuyển chọn cây đầu dòng ........... 48

3.3.1. Tuyển chọn cây đầu dòng theo phương pháp điều tra thống kê ........... 50
3.3.2. Tuyển chọn cây đầu dòng theo phương pháp 5 cây so sánh ................. 51
3.3.3. Các tiêu chí lựa chọn cây đầu dòng....................................................... 57
3.4.

Biện pháp kỹ thuật lâm sinh và quản lý cây đầu dòng để phục vụ công
tác xây dựng rừng giống, vườn giống ................................................... 57

3.4.1. Biện pháp kỹ thuật lâm sinh .................................................................. 57
3.4.2. Biện pháp quản lý cây đầu dòng ........................................................... 58
Chương 4.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................... 59
4.1.

Kết luận ................................................................................................. 59

4.1.1. Đặc điểm sinh học của loài cây Tre Mai .............................................. 59
4.1.2. Thực trạng phát triển cây Tre Mai tại hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc

Sinh trưởng của cây Tre Mai theo vùng sinh thái .......................... 45

Bảng 3.6.

Đặc điểm địa hình và sinh trưởng cây Tre Mai tại 2 tỉnh Thái Nguyên,
Bắc Kạn .......................................................................................... 46

Bảng 3.7.

Hiện trạng cây Tre Mai phân bố theo tuổi tại tỉnh Thái Nguyên, Bắc
Kạn .................................................................................................. 48

Bảng 3.8.

Kết quả điều tra tình hình sinh trưởng các lâm phần cây đầu dòng
loài cây Tre Mai.............................................................................. 49

Bảng 3.9.

Kết quả điều tra độ vượt của các cây đầu dòng .............................. 50

Bảng 3.10. Kết quả tính độ vượt của cây đầu dòng loài cây Tre Mai .............. 51
Bảng 3.11. Kết quả xếp loại cây đầu dòng tại Thái Nguyên ............................ 54
Bảng 3.12. Kết quả xếp loại cây đầu dòng dự tuyển tại tỉnh Bắc Kạn ............. 56


vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 3.1.


Cải thiện giống cây rừng được xem là một lĩnh vực khoa học đóng vai trò hết
sức quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng. Một chương
trình cải thiện giống muốn đạt được kết quả tốt không chỉ dừng lại ở chỗ có những
nguồn giống được cải thiện mà điều quan trọng tiếp theo là cần phải sản xuất được
những giống đó trên quy mô lớn để phục vụ lâu dài cho các chương trình trồng rừng
nhằm đáp ứng được các giá trị xã hội, cho năng suất và giá trị kinh tế cao. Vì vậy các
nhà chọn tạo giống cây trồng một mặt vừa áp dụng các biện pháp chọn lọc, một mặt
vừa nghiên cứu gây tạo giống mới, nhất là đối với các giống cây được trồng rộng rãi
hiện nay có giá trị kinh tế cao. Áp dụng các phương pháp chọn lọc đã có được nhiều
giống cây trồng mới có năng suất, chất lượng cao, có khả năng thích ứng với những
vùng sinh thái có điều kiện hoàn cảnh khắc nghiệt và nhiều đặc tính mới khác. Việc
xây dựng rừng giống và vườn giống vẫn là một biện pháp quan trọng trong các
chương trình cải thiện giống cây rừng và vẫn được áp dụng phổbiến ngay cả khi đã
sản xuất được giống này bằng con đường sinh dưỡng.
Trong chương trình cải thiện giống cây rừng, việc thu hái hạt giống cây đầu
dòngđể thiết lập làm rừng giống từ hạt được coi là hướng đi chủ yếu trong giai đoạn
đầu của quá trình cải thiện giống. Các rừng giống sau khi được tỉa thưa di truyền sẽ là
nơi cung cấp hạt giống được cải thiện cho sản xuất và tạo lập được quần thể chọn giống
có mức độ di truyền cao phục vụ cho công tác cải thiện giống ở các mức độ cao hơn.
Đồng thời tiến hành xây dựng các khảo nghiệm tăng thu di truyền sử dụng nguồn hạt
giống dùng trong sản xuất đại trà và chọn được những giống có giá trị cao phục vụ cho
công tác trồng rừng trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài.
Trong các phương pháp chọn lọc tạo ra giống mới hiện nay thì phương pháp
chọn lọc cây đầu dòng được áp dụng rộng rãi. Nguồn giống thu nhận được từ phương
pháp chọn lọc cây đầu dòng đã khẳng định được chất lượng giống và đã được thực
nghiệm trong các chương trình trồng rừng hiện nay. Phương pháp chọn lọc cây đầu
dòng là phương pháp chọn ra những cây có sức sống cao, sinh trưởng tốt và các giống
này đòi hỏi phải là những giống có độ vượt hơn hẳn so với giống đại trà. Công tác



phát triển sản xuất.


3
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định được các đặc điểm sinh học của loài cây Tre Mai.
- Đánh giá thực trạng phát triển loài cây Tre Mai tại Thái Nguyên và Bắc Kạn.
- Đánh giá các đặc điểm lâm phần loài Tre Mai đưa ra các tiêu chí lựa chọn
cây đầu dòng.
- Đưa ra được các biện pháp kỹ thuật quản lý cây đầu dòng.
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài đã xác định được một số khóm đầu dòng làm cơ sở cho việc nhân giống
và phát triển cây Tre Mai của các đề tài nghiên cứu tiếp theo.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển, nhân rộng cây Tre Mai
(Dendrocalamus yunnanicus Hsueh et D. Z. Li). Xác định được khóm cây Tre Mai
đầu dòng để nhân giống, cải thiện nguồn giống cho người dân, góp phần tăng thu
nhập, nâng cao đời sống của người dân.


4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học
1.1.1. Khái quát về cây Tre Mai
Tên khoa học: Dendrocalamus yunnanicus Hsueh et D. Z. Li.
Phân họ Tre (Bambusoideae).
Họ Cỏ (Poaceae).
Cây Tre Mai có tên khoa học Dendrocalamus yunnanicus Hsueh & D.Z.Li

bông nhỏ dài 1- 1,5cm, rộng 3-4mm, lúc khô màu tím, đầu có mũi nhọn, gốc mang
1-2 lá bắc, bông nhỏ chứa 5-8 hoa, hoa trên cùng bất thụ, sau khi chín giữa các hoa
không cách rời nhau; lá bắc 2, dài 3-4mm; mày ngoài hình trứng rộng, dài khoảng
1cm, rộng lớn hơn chiều dài, có nhiều gân (khoảng 25 chiếc), mặt lưng và mép đều
có lông nhỏ, đầu có mũi nhọn nhỏ; mày trong dài bằng mày ngoài, lông có 2 gờ,
khoảng cách giữa 2 gờ 2,5mm, có hai gân; trên gờ mọc dày lông mảnh, đầu tù hay
hơi lõm (ở hoa tận cùng không gờ, không lông); không có mày cực nhỏ, chỉ nhị dài
khoảng 1cm, bao phấn dài 6,5mm; đầu có trung đới thò ra và có mũi nhọn; nhuỵ dài
1cm, toàn bộ phủ lông mềm ngắn, bầu hình trứng, vòi rất dài, đầu nhuỵ 1, cong, màu
tím. Quả hình tròn dài, dài 7-8mm, đầu tù, có lông nhung.
1.1.4. Đặc điểm sinh thái
Cây Tre Mai được trồng ở độ cao từ 200-1000m trên mặt biển. Đây là loài tre
thuộc nhóm mọc cụm có thể trồng ở độ cao lớn nhất. Cây chịu được nhiệt độ thấp
trong mùa đông, có khi nhiệt độ xuống đến 00C. Cây ưa đất feralite mùn trên núi hoặc
đất feralite phát triển trên các đá sa thạch, phiến thạch hoặc đá vôi. Cây cũng ưa đất
bồi tụ ven sông suối, độ mùn từ trung bình đến giàu, kết cấu hạt viên, ít đá lẫn, thành
phần cơ giới thịt hoặc thịt nhẹ. Sau khi trồng, cây đẻ măng ngay từ năm thứ nhất.
Kích thước và chiều cao của thân tăng dần hàng năm. Năm thứ 7, thân tre định hình,
không tăng về kích thước nữa. Giai đoạn cây măng, mai tăng trưởng rất nhanh, có thể
đạt trên 20- 30cm/ngày. Sau 3-4 tháng, cây măng đạt chiều cao tối đa. Mức độ tăng
trưởng của cây non phụ thuộc vào độ ẩm và độ chiếu sáng. Nếu đất khô, cây tăng
trưởng chậm hơn ở đất ẩm. Chưa gặp hiện tượng cây Tre Mai khuy hàng loạt. Thường
chỉ gặp cây Tre Mai ra hoa ở từng khóm hoặc từng cây. Theo Sở Nông nghiệp và


6
Phát triển nông thôn tỉnh Cao Bằng cho biết đã có hiện tượng Tre Mai tái sinh bằng
hạt ở Bảo Lạc (Cao Bằng), năm 1972.
1.1.5. Giá trị kinh tế
Thân Tre Mai được dùng nhiều để làm cột nhà, dui mè, đòn tay. Cột nhà làm

Cây đầu dòng: là cây có năng suất, chất lượng cao và ổn định, tính chống chịu
tốt hơn hẳn các cây khác trong quần thể một giống (giống địa phương, giống mới
chọn tạo, giống nhập nội) được cơ quan có thẩm quyền bình tuyển và công nhận để
làm nguồn vật liệu nhân giống.
Vườn cây đầu dòng: là vườn cây được nhân bằng phương pháp vô tính từ cây
đầu dòng; được cơ quan có thẩm quyền thẩm định và công nhận để làm nguồn vật
liệu nhân giống.
1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới liên quan về loài
1.2.1.1. Các nghiên cứu tre trúc
Tre trúc bao gồm những loài thuộc phân họ Tre (Bambusoideae),họ Cỏ (Poaceae),
trên thế giới có khoảng 500 loài (Dai Qihui, 1998)[42]. Tre trúc là một nguồn lâm sản
ngoài gỗ chiếm một vị trí quan trọng trong tài nguyên rừng ở nhiều nước trên thế giới,
đặc biệt là các nước vùng phía Nam và Đông Nam Á. Ở các nước này người dân đã biết
sử dụng tre trúc từ lâu đời để tạo ra hàng trăm sản phẩm phục vụ thiết thực cho đời sống
hàng ngày.
Chính vì vị trí quan trọng của nguồn tài nguyên này, tre trúc đã được nghiên
cứu từ lâu đời về nhiều mặt như: nhân giống, trồng, khai thác, sử dụng. Gần đây có
nhiều nghiên cứu nhằm phát triển gây trồng một số loài tre trúc theo mô hình rừng
công nghiệp thâm canh với năng suất, chất lượng cao, hướng theo mục đích sử dụng
nhất định. Trung Quốc có khoảng 100.000 ha rừng tre trúc trồng lấy măng với năng
suất trung bình 10 - 20 tấn/ha/năm và cao nhất đạt 30 - 35 tấn/ha/năm. Trung Quốc
cũng có khoảng 3 triệu ha vừa sản xuất măng lại vừa sản xuất thân tre. Tổng sản
lượng măng của Trung Quốc khoảng 1 triệu tấn/năm (Fu Maoyi, Xiao Jianghua,
1996).[44]
Những nghiên cứu đầu tiên về tre trúc là các nghiên cứu về mặt phân loại, hình
thái và sinh thái học công trình "Các loài tre trúc" của Gamble (1896)[45] đã đề cập
tương đối chi tiết về phân bố, hình thái và một số đặc điểm sinh thái của 151 loài tre
trúc có ở các nước Ấn Độ, Pakistan, Mianmar, Malayxia và Inđônexia. Đến đầu thế


[45] đã mô tả chi tiết đặc điểm các loài có cả hình vẽ của 16 loài thuộc chi Luồng ở
Ấn Độ. Tewari (1993)[56] đã mô tả chi tiết đặc điểm hình thái và có hình thái và có


9
hình vẽ minh họa của 14 loài thuộc chi Luồng của Ấn Độ. Hsueh & Li (1996)[46] mô
tả chi tiết và vẽ hình minh họa của 11 loài tre thuộc chi này ở Trung Quốc. Li &
Stapleton (2006)[48] mô tả chi tiết và hình vẽ minh họa đặc điểm loài ở quyển riêng
cho 24 loài tre thuộc chi này ở Trung Quốc. Theo Ohrnberger (1999) [50]có 52 loài
thuộc chi Luồng trên toàn thế giới.
Theo Munro (1868)[49] cho rằng các loài thuộc chi Luồng phân bố ở Ấn Độ,
Malacca, Java (Indonesia) và Trung Quốc. Gamble (1896)[45] xác định 16 loài thuộc
chi Luồng phân bố ở Trung Quốc, Ấn Độ, Myanmar, Malaysia, Indonesia. Tewari
(1993) [56]đã cung cấp đầy đủ các thông tin về nơi phân bố, trồng và độ cao của 14
loài Tre thuộc chi Luồng ở Ấn Độ được mô tả. Theo Li & Stapleton (2006)[48] chi
Luồng có phân bố ở vùng nhiệt đới, Á nhiệt đới của Châu Á, ở Trung Quốc phân bố
chủ yếu ở phía Tây Nam. Ohrnberger (1999)[50] cho rằng các loài chi Luồng trên thế
giới có phân bố ở phía Nam Trung Quốc kéo dài ra phía Tây và phía Đông và miền
Trung của Trung Quốc, ở Ấn độ có dãy Himalaya và các đảo Andaman, ngoài ra còn
gặp ở các nước Nê pan, Bu tan, Băng-la-det, Sri-lan-ca, đảo Andaman, Myanmar,
Lào, Ma-lai-xia, Campuchia, Việt Nam, Philippine, In-đô-nê-xia và pa-pua-niu-ghinê.
Ramanayake và các tác giả (2007)[51] đã sử dụng chỉ thị phân tử RAPD để
nghiên cứu đa dạng di truyền của 23 khóm tre D.giganteus thuộc một quần thể ở
Vườn thực vật Hoàng Gia ở Peradeniya, Sri Lanka được di thực đến đây năm 1856
từ một cây và khẳng định quần thể có đa dạng di truyền thấp, chỉ 0,045±0,004. Quần
thể này đồng nhất về hình thái, các cá thể tăng lên do nhân giống vô tính.
Tian và các tác giả (2012) đã phân tích đa dạng di truyền của 108 khóm tre
A.giganteus thuộc 7 quần thể ở tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) bằng chỉ thị phân tử
ISSR cho rằng đa dạng di truyền trong quần thể là rất thấp, trung bình là 11,33% khác
nhau, nhưng rất đa dạng di truyền giữa các quần thể rất cao, trung bình 88,57% khác

có độ tuổi 1-2 năm và lấy từ cây 3 năm tuổi. Nhân giống có thể thực hiện tốt vào
tháng 2 đến tháng 9, tuy nhiên vào tháng 2-3 cho tỷ lệ sống cao hơn.
Cusack (1997) [39] đã nghiên cứu sử dụng hom thân kết quả cho thấy: tỷ lệ
thành công khi nhân giống bằng hom thân là khác nhau giữa các loài tre và phụ thuộc
vào kỹ thuật sử dụng, nhân giống tốt nhất nên vào mùa xuân.
Rao & Rao (2000)[52] nghiên cứu về giâm hom sử dụng hom thân cũng cho
rằng đây là một phương pháp có hiệu quả để nhân giống các loại tre có vách dày và


11
kích thước lớn (8-12cm đường kính) như loài Bambusa blumeata. Một nghiên cứu
khác của Fu Maoyi & cs. (2000) [43]về nhân giống bằng hom thân 1 đốt cho thấy,
cắt hom có thể thực hiện ở cây 1 hoặc 2 năm tuổi.
Về nghiên cứu sử dụng giống gốc trong trồng tre đã được một số tác giả đánh
giá là có tỷ lệ thành công cao, tuy nhiên cũng có nhiều mặt hạn chế như chi phí cao,
số lượng giống hạn chế. Theo Zhou (2000) [61] cho rằng sử dụng giống gốc thích
hợp cho các loài cây giống như Bambusa, Dendrocalamus, Sinocalamus,... Chọn
những cây mẹ đánh gốc có một ít rễ và cắt phần trên thân khí sinh chỉ để lại chiều dài
khoảng 1m. Khi đánh gốc, rễ và thân ngầm được giữ lại, cây được cắt lại 5-6 cành và
để lại lá. Theo Cusack (1997)[39] chi thấy nhân giống bằng gốc có thể đạt được tỷ lệ
thành công 100%, tuy nhiên chỉ nên áp dụng cho những loài tre có kích thước nhỏ vì
có thể sản xuất với quy mô lớn. Tương tự, Rao & Rao (2000)[52] cũng cho rằng nhân
giống tre sử dụng giống gốc là một phương pháp tốt nhất, khả năng mọc mạnh nhất
được thấy ở các gốc 1 năm tuổi.
Verma và Arya (1998) đã nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần ruột bầu đến
sinh trưởng, sinh khối và khả năng hút dinh dưỡng của cây Dendrocalamus asper
nuôi cấy mô.
Ngoài phương pháp nhân giống sinh dưỡng, ở một số nơi trên thế giới, các loài
tre Luồng cũng được nhân giống từ hạt. Tại Thái Lan và Ấn Độ, việc nhân giống
bằng hạt đã được thực hiện cho các loài cây như Dendrocalamus brandisii,

không phủ gốc, tiến hành bón phân và duy trì cây 1 tuổi và cây 2 tuổi theo tỷ lệ 6:6
cây/khóm.
Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và năng suất của các loài
tre,Suwannapinunt & Thaiutsa (1988) [54] đã kết luận: sử dụng hỗn hợp phân NPK
15-15-15 có hiệu quả rõ rệt đến năng suất của các loài Tầm vông (Th. siamensis),
Mạy tông (D.asper), D.strictus và Bambusa sp. Bón 100kg NPK/ha sẽ đủ để tăng
năng suất và bón 200 kg NPK/ha là thích hợp. Dranssfield & Widjaja (1995) cho rằng
bón 20 -25kg phân hữu cơ cho mỗi khóm trước mùa sinh trưởng, phân hóa học bón
4 lần mỗi năm, mỗi lần bón cho 1 ha là 80kg NPK theo tỷ lệ 40:10:30 và 0,65 Si.
Cusack (1997) cho rằng bón phân làm cho tre trúc phát triển tốt, măng to nhưng phải
bón một cách hợp lý tùy thuộc vào loài nhất định. Đối với loài Mạy tông (D. asper)
hàng năm bón 300kg phân NPK (15:15:15)/ha + 40 - 60kg bụi rơm hoặc cỏ khô để
phủ+0,65kg silic dioxyt/ha. Đối với loài Mai xanh (D. latiflorus) bón 40 kg NPK
(40:30:10)/ha và bón 4 lần trong năm kết hợp 0,65kg Silic dioxyt/ha/năm và 20-25kg
phân compost trước mùa sinh trưởng.
Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2001) [41] bằng các thí nghiệm
với loài Mai cây xanh (D. latiflorus) và Lục trúc (D. oldhamiii) cho rằng: phân bón
làm tăng nhiệt độ trong đất giúp không khí và nước lưu thông tốt hơn, kích thích
măng ra sớm hơn, sản lượng măng và thân khí sinh tăng cao hơn. Điều này cho thấy
việc bón phân cho rừng Dendrocalmus là rất cần thiết nhằm kinh doanh rừng bền
vững và có năng suất cao. Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2008) [40] cho


13
rằng: Trong kinh doanh tre, bón phân từ 1-3 lần hàng năm để tăng sản lượng cao của
măng. Bón phân lần đầu vào tháng 3 được gọi là phân bón của lứa măng đầu chủ yếu
là phân chuồng kết hợp phân hóa học từ 750 - 900kg/ha như ure, phân hỗn hợp… Lần
bón phân thứ 2 vào tháng 8 được gọi là phân bón giai đoạn măng và chủ yếu là phân
urê hoặc phân hỗn hợp 0,5 -1kg/khóm. Lần 3 bón phân vào tháng 12 và chủ yếu là
phân hữu 50kg/khóm.

và phủ đất cách cổ rễ 10cm.
+ Về kỹ thuật bón phân, theo Dai Qihui (1998)[42] đối với cây Dendrocalamus
trồng lấy măng, để sản xuất 100kg măng tươi, cây cần 500 - 700g Nitơ, 100 - 150g
Phốt pho và 200 - 250g Kali từ đất. Theo Fu Maoyi, XiaoJianghua (1996)[44] đã
xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh măng, sinh trưởng vàphát
triển của thân khí sinh là: độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm
sinh, sâu bệnh. Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện
pháp thâm canh tăng năng xuất măng và thân khí sinh. Victor Cusack (1997)[57] cho
rằng biện pháp bón phân làm cho nhiều loài tre trúc phát triển tốt, măng to, nhưng
phải bón một cách hợp lý tuỳ thuộc vào loài nhất định. Nghiên cứu về chu trình dinh
dưỡng trong rừng Bambusa bambos các tác giả Shanmughavel và Fracis (1997)[53]
cho biết lượng dinh dưỡng trong cây đứng gia tăng theo tuổi của cây, vì vậy lượng
dinh dưỡng trả lại cho đất không đủ so với lượng dinh dưỡng mà cây đã lấy đi. Nghiên
cứu của Jha và Lalnunmawia (2004)[47] về trồng xen giữa các loài cây
Dendrocalamus hamiltonii, D.longispathus và gừng trong các công thức thí nghiệm
về bón phân đã cho thấy sản lượng của các loài trong các thí nghiệm bón phân cao
hơn rõ rệt so với công thức không bón phân.
+ Về kỹ thuật khai thác, thu hoạch, Dai Qihui (1998)[42] cho rằng đối với các
loài tre trồng để lấy măng, nếu muốn chế biến măng khô, khi kích thước măng có
chiều cao đạt từ 1,3 - 1,5m có thể tiến hành thu hoạch, nếu muốn chế biến thành các
sản phẩm khác, thu hoạch măng non có chiều cao khoảng 30cm. + Về sâu bệnh hại,
Xu Tiansen (1998)[58] cho biết các loài chi Dendrocalamus thường gặp các loại sâu
ăn lá, sâu đục thân, sâu hút nhựa, sâu ăn búp măng. Tùy vào đặc điểm từng loại sâu


15
tác giả đã đưa ra các biện pháp phòng trừ thích hợp như: làm cỏ, xới đất, sử dụng các
thiên địch, sử dụng các loại thuốc hóa học để tiêu diệt và hạn chế sự phát triển của
các loài sâu, bệnh hại.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam liên quan đến loài

Lê Nguyên & cs. (1971) [25] đã giới thiệu khá đầy đủ về gây trồng phát triển
tre trúc mọc khóm và mọc tản cho mục đích kinh tế, bao gồm: Điều kiện nhân giống,
gây trồng, kỹ thuật trồng,… tuy nhiên chỉ khái quát, hầu như không đề cập đến biện
pháp thâm canh nào.
Châu Quang Hiền (1981)[10] nghiên cứu “Kết cấu quần thể và quá trình phục
hồi sau khai thác trắng của rừng tre Lồ ô (Schizostachyum zollingery Stend) tại huyện
Phước Long (sông Bé)” đã chỉ ra: Phương thức khai thác trắng có ảnh hưởng tiêu cực
đến sinh trưởng và phát triển, làm thay đổi cấu trúc, giảm sức sản xuất và hạn chế khả
năng sản xuất liên tục của rừng Lồ ô, do đó phương thức chặt chọn là phù hợp.
Lâm Xuân Sanh và Châu Quang Hiền (1984) trong công trình “Tre trúc Lồ ô”
đã thống kê mô tả được một số đặc điểm của rừng tre Lồ ô như: thời vụ ra măng, hình
thái cây măng và quá trình sinh trưởng của măng.
Ngô Quang Đê&cs (1994) [4]đã giới thiệu kỹ thuật gây trồng tre trúc cho 3
loài: Luồng, Mạy sang và Vầu đắng gồm các khâu ươm giống, kỹ thuật trồng, chăm
sóc, khai thác và sử dụng.
Năm 2000, Lê Quang Liên[18] và cộng sựđã thực hiện đề tài “Nghiên cứu
kỹ thuật trồng tre trúc để lấy măng” cho 2 loài Luồng (Dendrocalamus barbatus) và
tre Gầy (Dendrocalamus sp), trong đó có khảo nghiệm 3 công thức bón phân NPK
và khẳng định muốn trồng tre trúc để lấy cây hay lấy măng có năng suất cao thì cần
phải trồng thâm canh.
Theo Hứa Vĩnh Tùng (2001)[35], cường độ khai thác 25% và 50% số cây trong
lâm phần có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng chiều cao và đường kính cây măng.
Triệu Văn Hùng & cs. (2002) [12] trong “Kỹ thuật trồng một số loài cây đặc
sản rừng” đã giới thiệu kỹ thuật trồng cho 2 loài là Trúc sào và Vầu đắng gồm: Điều
kiện gây trồng, nguồn giống, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến.
Lê Viết Lâm và cộng sự (2005)[16] với đề tài “Điều tra bổ sung thành phần
loài, phân bố và một số đặc điểm sinh thái các loài tre chủ yếu ở Việt Nam” đã thống
kê thành phần loài tre trúc ở Việt Nam, giới thiệu 40 loài tre trúc thông dụng gồm:



khẩu có giá trị. Vì vậy, ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, tài nguyên tre trúc ở



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status