Nghiên cứu nhện (Araneae) trong hang động tại vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn(Luận văn thạc sĩ) - Pdf 48

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

---------------------------------------

ĐINH THỊ THU HÀ

NGHIÊN CỨU NHỆN (ARANEAE) TRONG HANG ĐỘNG
TẠI VƢỜN QUỐC GIA BA BỂ, TỈNH BẮC CẠN

Chuyên ngành: Động vật học

Hà Nội - 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

1




LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành luận văn, em được sự chỉ bảo, hướng dẫn rất lớn

từ thầy hướng dẫn: TS Phạm Đình Sắc. Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy
và lời xin lỗi vì trong quá trình làm luận văn em đã chưa thực sự cố gắng và chăm

chỉ.
Em xin chân thành cảm ơn cơ sở đào tạo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh



3




MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Bộ nhện (Araneae) là một trong những nhóm động vật chân khớp cổ có tính
đa dạng sinh học cao, phân bố rộng khắp và phổ biến nhất ở hệ sinh thái trên cạn.

Nhện được tìm thấy ở mọi nơi: trong nhà, trong rừng, vườn cây, trên cánh đồng
lúa, công viên, bụi cây, ven sông, ven suối,... Nhện không chỉ đa dạng về số loài
mà còn chiếm ưu thế về mặt số lượng trong quần thể các nhóm chân khớp.

Thức ăn chủ yếu của chúng là côn trùng, nhờ đó mà nhện được xem như là
một trong những tác nhân quan trọng trong việc kiểm soát quần xã côn trùng trong
hệ sinh thái cạn. Nhện có vai trò tích cực trong việc hạn chế sự phát triển của côn
trùng gây hại trên cây trồng nông nghiệp. Ngoài ra, nhện còn được coi như sinh vật

chỉ thị tốt để so sánh đặc điểm sinh thái của các khu hệ có điều kiện môi trường
khác nhau và đánh giá ảnh hưởng của môi trường lên hệ sinh thái.

Việc nghiên cứu đa dạng sinh vật nói chung và đa dạng thành phần loài nhện
nói riêng ở nhiều sinh cảnh khác nhau có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá

chất lượng môi trường tại các vùng nghiên cứu. Khu hệ nhện Việt Nam được đánh
giá là có mức đa dạng sinh học cao, nhưng chưa được tập trung nghiên cứu. Trong

những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về nhện. Tuy nhiên, các

Nhện là một trong những nhóm động vật không xương sống phong phú và đa
dạng nhất ở hệ sinh thái trên cạn. Chúng được xem như là tác nhân chủ yếu trong
việc kiểm soát quần xã côn trùng trong hệ sinh thái cạn. Nhện còn được coi như
sinh vật chỉ thị tốt để so sánh đặc điểm sinh thái của các khu hệ có điều kiện môi
trường khác nhau và đánh giá ảnh hưởng của môi trường lên hệ sinh thái.
Môi trường trong hang động rất đặc trưng, khác biệt với các môi trường khác

cả về ánh sáng, độ ẩm, và độ sâu.... nên các sinh vật ở đây rất đặc trưng về hình
thái và có tính đặc hữu cao. Hiện nay, các nghiên cứu về nhện hang động được coi
là lĩnh vực khá mới.
Vườn Quốc Gia (VQG) Ba Bể có một hệ thống hang động rất phong phú, đa
dạng và độc đáo. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về nhện
trong hang động tại khu vực.

Lần đầu tiên, nghiên cứu về nhện hang động tại VQG Ba Bể được tiến hành;
nhằm xác định thành phần loài nhện trong các hang động khu vực nghiên cứu, tìm
hiểu các hoạt động của con người ảnh hưởng như thế nào đến nhện trong hang
động. Qua đó, là cơ sở để đưa ra một số khuyến nghị góp phần bảo tồn đa dạng
sinh học và quản lý hang động tại địa phương.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

5




CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.


Khả năng săn mồi của nhện khác nhau không chỉ phụ thuộc vào loại con mồi
mà cả số lượng vật mồi. Nếu số lượng vật mồi nhiều, nhện có thể ăn nhiều hơn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

6




bình thường. Điều này giúp cho nhện có thể hấp thu được đầy đủ năng lượng
không chỉ giúp chúng tồn tại, phát triển mà còn giúp chúng trưởng thành nhanh
hơn. Ngoài ra, việc ăn nhiều cũng giúp chúng dự trữ được một nguồn năng lượng

lớn để chúng có thể duy trì sự sống nếu sau đó chúng gặp điều kiện bất lợi về thức
ăn. Mỗi loài nhện tiêu thụ một lượng thức ăn nhất định mỗi ngày. Ví dụ, nhện sói

họ Lycosidae ăn khoảng 3,5 mg côn trùng hàng ngày, tương đương với 12% trọng
lượng cơ thể của loài nhện đó. Những loài nhện chăng lưới thuộc họ Linyphiidae
ăn một lượng thức ăn tương đương khoảng 10-25% trọng lượng cơ thể của nó

(Foelix 1996). Khi gặp điều kiện bất lợi, thức ăn khan hiếm cũng làm giảm thành
phần loài nhện. Những loài nhện nào có khả năng chống chọi tốt sẽ sống sót,
những loài này hoặc là có kỹ năng săn mồi tốt hoặc là có khả năng dự trữ và tích
lũy năng lượng để chịu đựng đói trong một thời gian dài.

Nhện bắt mồi theo hai phương pháp là giăng lưới bắt mồi (thụ động), hoặc
rình và săn mồi tự do (chủ động). Đối với nhóm nhện giăng lưới bắt mồi, sau khi
giăng lưới, chúng nằm yên một chỗ đợi con mồi mắc phải lưới, chúng sẽ nhả tơ


bụng, họ nhện càng cua lớn Heteropodidae mang trứng ở dưới ngực, còn họ
Phocidae thì thường ngậm trứng ở hàm trước. Nhện mẹ canh giữ trứng và nhện con

cho tới khi nhện con đủ cứng cáp và phân tán. Nhện con mới nở thường tập trung
trong ổ trứng.
1.2.

Tình hình nghiên cứu nhện trên thế giới

Việc đặt tên khoa học cho nhện được bắt đầu từ năm 1757; tác giả Ovid đã
đưa ra tên của bộ nhện là Araneae, Clerek đã đưa ra tên của bộ nhện là Aranei. Đến
năm 1801, Latreille đưa ra tên bộ nhện là Araneida. Năm 1862, Dallas cũng nêu ra
tên của bộ nhện là Araneida. Năm 1938, Bristowe đưa tên bộ nhện là Araneae và
tên này được sử dụng cho đến ngày nay (Platnick, 2012).
Năm 1965, hội nhện quốc tế (International Society for Arachnology) được
thành lập, cho đến nay đã có hàng nghìn thành viên từ trên 70 nước trên thế giới.
Nghiên cứu về nhện đã thực sự trở thành một môn khoa học Arachnology – Nhện

học.
Theo thống kê của Platnick (2012), trên thế giới đã ghi nhận được 42.351 loài
nhện thuộc 3859 giống của 110 họ nhện. Trong số các loài nhện đã ghi nhận được
trên thế giới hiện nay, có 15 loài được ghi vào danh lục đỏ của IUCN.
Tác giả Davies (1986, 1988) đã nghiên cứu và xây dựng khoá định loại tới họ

của bộ nhện và khoá định loại tới loài của nhóm nhện chăng lưới đã ghi nhận được
tại Australia.
Năm 2000, Murphy đã đưa ra danh sách các loài nhện đã ghi nhận được tại
các nước khu vực Đông Nam châu Á, sắp xếp theo thứ tự số lượng loài đã ghi nhận
được từ cao đến thấp là: Indonesia (660 loài), Malaysia (463 loài), Myanma (455
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

111 loài, 20 giống (Zhu và cs, 2003); họ Therididae với 223 loài, 27 giống (Zhu,

1998); họ Gnaphosidae với 166 loài, 3 4 giống (Song và cs, 2004 ); họ
Philodromidae với 30 loài, 3 giống (Song và Zhu, 1997).
Nghiên cứu nhện ở các trang trại trồng cây ăn quả ở Trung Quốc, Chen và

Gao (1990) đã ghi nhận được 332 loài nhện.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

9




1.3.

Tình hình nghiên cứu nhện ở Việt Nam

Những công bố về nhện đầu tiên ở Việt Nam bởi Simon (1886, 1896, 1903,
1904, 1906, 1908), và Hogg (1922). Hai tác giả trên đã công bố ra 20 loài nhện
mới cho khoa học được phát hiện ở Việt Nam.
Zabka (1985) đã công bố kết quả chuyến khảo sát của mình về họ nhện nhảy

Salticidae ở Việt Nam. Tác giả đã ghi nhận được 100 loài nhện nhảy, trong đó bao
gồm 51 loài và 8 giống mới cho khoa học.
Qua việc phân tích các mẫu vật thu được ở Việt Nam, Ono (1997, 1999, 2002,
2003) đã phát hiện 7 loài nhện mới cho khoa học thuộc các họ Zodaridae và

Liphistidae.

Vĩnh Phúc. Thái Trần Bái và cs (2005) đã phát hiện được 33 loài nhện trên cây vải

thiều ở Thanh Hà, Hải Dương.
Khu hệ nhện ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam
rất ít được nghiên cứu. Tại vườn quốc gia Ba Bể, Phạm Đình Sắc (2003) bước đầu
đã công bố danh sách 82 loài thuộc 23 họ nhện. Lần đầu tiên ở Việt Nam, một loài

nhện có nọc độc họ Theraphosidae đã được tìm thấy ở VQG Tam Đảo tỉnh Vĩnh
Phúc và khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên tỉnh Lạng Sơn (Phạm Đình Sắc và Vũ
Quang Côn, 2005).
Cho đến năm 2005, Việt Nam đã ghi nhận được 275 loài thuộc 144 giống của

30 họ nhện (Phạm Đình Sắc, 2005). Năm 2007 bổ sung thêm 45 loài, 15 giống, 1
họ cho khu hệ nhện Việt Nam (Phạm Đình Sắc và cs, 2007).
Trong giai đoạn từ 2009 đến 2012, tác giả Phạm Đình Sắc phối hợp với các
chuyên gia nước ngoài tiến hành các đợt khảo sát nhện ở miền Bắc Việt Nam, đã
công bố 30 loài nhện mới cho khoa học (Lin & Pham & Li, 2009; Liu, Li & Pham,

2010a, 2010b; Zha, Pham & Li Shuqiang, 2012; Yao, Pham & Li, 2012).
Gần đây nhất, Hirotsugu Ono, Tạ Huy Thịnh, Phạm Đình Sắc (2012) đã thống
kê danh sách các loài nhện ở Việt Nam từ năm 1837 đến 2011 đã ghi nhận được
456 loài thuộc 41 họ. Tuy nhiên, cũng theo các tác giả trên, một số họ đã ghi nhận
được ở khu vực Đông Nam châu Á, nhưng vẫn còn chưa tìm thấy ở Việt Nam như:

Atypidae,

Idiopidae,

Dipluridae,


trong các loại đá khác nhau, đủ lớn để con người đi vào. Thuật ngữ này mang tính

chủ quan, chỉ dựa trên khả năng tiếp cận của con người, không dựa vào quá trình
hình thành, do đó thiếu khoa học (J. Fromaget, 1997). Đến nửa sau thế kỷ 19, nhờ

những tiến bộ trong thăm dò hang động của nhiều nhà khoa học trên thế giới, khái
niệm về hang động mới dần chính xác và khoa học hơn (Alexander Klimchouk,
1998). Một số khái niệm được chấp nhận và sử dụng hiện nay như:
- Theo hiệp hội hang động quốc tế, hang là sự mở rộng tự nhiên ở dưới các
khối núi đá có chiều rộng đủ để con người đi vào.
- Theo the National Park Service, hang có tổng chiều dài ít nhất 50 feel
(khoảng 15m), chứa các vùng bóng tối hoặc chiều dài của các đoạn hang
vượt quá chiều rộng của cửa ra vào.

- Theo Federal Cave Resources Protection Act of 1988, USA – FCRPA,
bất cứ chỗ trống, hốc, ngách, hoặc hệ thống các đoạn nối liền với nhau,
xảy ra tự nhiên bên dưới bề mặt của trái đất, trong một vách đá hoặc gờ
đủ lớn để cho phép người đi vào, dù lối vào hình thành tự nhiên hoặc do
con người tạo nên.

Từ các khái niệm trên, thì hang động được hiểu là một hang, động kết nối
với mặt đất thông qua lối vào, mà không xét đến hình thái, khích thước và nguồn
gốc.
Mặc dù, chưa có sự thống nhất về cách định nghĩa hang động giữa các quốc
gia gia với nhau, nhưng khái niệm về hang động của hiệp hội hang động thế giới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

12



dài trên 1.000m. Ngoài ra, ở khu vực Ba Bể còn có một số hang động nhỏ khác

nằm trong những núi đá thiên tạo, được tô điểm bởi các loài thực vật có hoa, có âm
thanh dấu vết của các loài chim, thú, côn trùng... hoàn toàn tạo cảm giác khám phá
mới mẻ cho khách du lịch và có ý nghĩa sinh học như: Động Tiên, Động Nả Phòng,
Động Ba Cửa, Hang Sơn Dương. Đặc biệt là các hang động này ở gần khu dân cư

rất dễ tiếp cận.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

13




CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.

Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loài nhện trong hang động.

Ø Đặc điểm cấu tạo ngoài của nhện
Cơ thể nhện chia ra 2 phần: phần giáp đầu ngực (Cephalothorax) và phần

bụng (Abdomen), hai phần này được nối với nhau bởi cuống bụng. Phần giáp đầu
ngực bao gồm tấm lưng ngực (carapace) và tấm bụng ngực (sternum). Phía trên
đầu của giáp đầu ngực có miệng (môi trên – endite; môi dưới – labium) và một đôi
chân kìm (chelicera), bên cạnh chân kìm là một đôi chân xúc giác (Palp). Cuối đôi


phận sinh dục của con đực (xúc biện) dùng để giao hợp. Đối với con cái thì chân
xúc giác có cấu tạo bình thường, thuôn đều.

a

b

Hình 2: Cấu tạo ngoài của cơ thể nhện: mặt bụng

a. Phân bộ nhện Araneomorphae
b. Phân bộ nhện Mygalomorphae
Phần bụng nhện đa dạng về hình dạng, kích thước và màu sắc tùy vào từng
loài. Mặt dưới bụng con cái có cơ quan sinh dục cái và cơ quan hô hấp (booklung),
còn con đực thì chỉ có cơ quan hô hấp. Phần cuối của bụng là hậu môn (anal

tubercle) và bộ phận nhả tơ (Spinnerets). Bộ phận nhả tơ thường có 2 ống nhả tơ
bên trước (ALS - Anterior lateral spinnerets), hai ống nhả tơ bên sau (PLS -

Posterior lateral spinerets), một số loài có thêm 2 ống ở giữa sau (PMS –
Posterior median spinerets). Một số loài nhện thuộc phân bộ Araneomorphae có
tấm nhả tơ (cribellum – cribellate) ở phía trước bộ phận nhả tơ (spinnerets).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

16





a

b
Hình 4. Cấu tạo trong cơ quan sinh dục của nhện cái

(a: Haplogyne; b: Entelegyne (Epigastric furrow: vùng thượng vị; Entrance duct:
ống dẫn vào; Fertilization duct: ống dẫn ra; copulatory: thể giao cấu)
Cơ quan sinh dục của nhện có hai dạng:

-Entelegyne: Cơ quan sinh dục của nhện có thể sinh dục ngoài với các ống
dẫn tách biệt cho việc vận chuyển tinh dịch trong suốt quá trình thụ tinh (đối với
túi nhận tinh - spermathecae) và sự thu tinh (đối với tử cung - uterus).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

18




-Haplogyne: Cơ quan sinh dục của nhện thiếu thể sinh dục ngoài do đó chỉ
có một cặp ống dẫn để vận chuyển tinh dịch từ tử cung tới túi nhận tinh trong suốt
quá trình thụ tinh

2.2. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trong ba năm 2012-2014. Thu thập mẫu vật được

tiến hành trong 2 đợt:
- Đợt 1: Tháng 9-10 năm 2012
- Đợt 2: Tháng 4-5 năm 2013
Thời gian còn lại, chúng tôi tiến hành thu thập tài liệu, phân tích mẫu, xử lý số

Với ranh giới này VQG Ba Bể mở rộng bao gồm diện tích rừng và đất rừng
thuộc 7 xã huyện Ba Bể thuộc vùng núi đá vôi đặc trưng cho vùng caxtơ khu Đông
Bắc và các núi đất thuộc dãy Phia Biooc.

- Vị trí địa lý của VQG Ba Bể rất thuận lợi cho giao thông và phát triển du lịch.
Hiện nay trong các tuyến du lịch Hà Nội - Bắc Kạn - Cao Bằng, du khách thường
lưu trú từ 1 đến 2 ngày tại VQG Ba Bể sau đó tiếp tục đi tới các điểm tham quan
khác tại Bắc Kạn và Cao Bằng. Khách nước ngoài tới Ba Bể là du lịch tự do hay
các nhóm nhỏ từ 3 đến 5 người.
*Khí hậu, thủy văn
Vườn quốc gia Ba Bể mang đặc điểm khí hậu của vùng núi phía Bắc Việt Nam.
Trung tâm của vườn là hồ Ba Bể với diện tích 500 ha. Sự bốc hơi liên tục tạo nên
vi khí hậu vùng hồ mát mẻ, giảm bớt sự khắc nghiệt của các mùa ( mùa hè không
quá nóng, mùa đông không quá lạnh ).
+ Nhiệt độ trung bình năm: 220 C.
+ Độ ẩm tương đối trung bình năm: 83,3%.
+ Lượng mưa trung bình năm 1.378mm.
+ Số ngày mưa phùn trung bình trong năm: 33,3 ngày.
+ Số ngày có dông, mưa trung bình năm tại chợ Rã: 41,2 ngày.

- Hồ Ba Bể là hồ tự nhiên lớn có diện tích 500 ha, được cấp nước bởi các sông
Chợ Lèng, Ta Han, Nam Cường, các suối Tả Nam, Pó Lù...tốc độ dòng chảy 0,5m
/ giây. Hồ có chiều dài 8 km, sâu nhất 35 m, độ sâu trung bình 25 m. Nước hồ
trong xanh quanh năm với độ trong từ 150 tới 200m. Nhiệt độ nước tầng mặt biến
thiên theo mùa, phụ thuộc vào nhiệt độ không khí. Ước tính hồ chứa 90.106. Hồ có
chức năng điều tiết lũ cho sông Năng và mang hai tính chất rõ rệt:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

20


theo hướng Bắc - Nam. Trong lòng hồ có các đảo nhỏ gắn liền với truyền thuyết
vùng hồ, là những nơi có nhiều loài phong lan và chim muông sinh sống. Hồ nằm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

21




trong hệ tự nhiên của VQG Ba Bể một di sản thiên nhiên quý giá có diện tích 7.610
ha. Đây là một hệ thống rừng nguyên sinh trên núi đá vôi với sự đa dạng lớn về tài
nguyên động thực vật, là tiềm năng lớn cho hoạt động phát triển loại hình DLST.
Đặc điểm cấu tạo địa chất tạo nên địa hình khu vực đa dạng, hấp dẫn, độc
đáo cho phát triển DLST dưới các loại hình tìm hiểu và tham quan các d anh lam
thắng cảnh, các hang động, các đảo gắn liền vối truyền thuyết về Hồ Ba Bể và lịch
sử hào hùng của dân tộc. Ngoài ra, với điều kiện địa hình như vậy, việc mở rộng
loại hình du lịch mạo hiểm có thể là một hướng đi mới cần được lưu ý.

* Thực vật
Theo điều tra ban đầu, khu hệ thực vật VQG Ba Bể bao gồm 4 yếu tố: thực
vật bản địa Bắc Việt Nam - Nam Trung Quốc, thực vật di cư India - Myanma, thực
vật quý hiếm và thực vật đặc hữu của vùng.
Chỉ riêng loài thân gỗ đã đến 620 loài thuộc 300 chi, 138 họ, trong đó có đủ
các loài đặc trưng điển hình của vùng núi đá vôi Đông Bắc Việt Nam: Nghiến,
Đinh, Trai, Lát, Lát Hoa... và hàng trăm loài Phong lan, Địa lan, đặc biệt loài Trúc
dây quý hiếm chỉ có ở Ba Bể thường mọc ở các vách đá ven hồ và sông Năng, thân
rủ xuống hồ tạo ấn tượng đẹp cổ kính.
VQG Ba Bể có thảm thực vật rừng đặc trưng riêng thể hiện ở các kiểu rừng
và trạng thái rừng sau:
Rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi: phân bố từ

tác động xấu của du khách tới TNTN và môi trường. Đó được coi như là một

nguyên tắc không thể thiếu trong sử dụng bền vững nguồn TNTN.
* Động vật
Theo kết quả điều tra 1995 - 1997, khu hệ động vật VQG Ba Bể gồm 38 loài
thú, 111 loài chim, lớp bò sát và lưỡng cư có 24 loài, 54 loài cá, với rất nhiều loài
có tên trong sách đỏ Việt Nam. Trong đó có Voọc mũi hếch là loài đặc hữu và
Voọc đen má trắng là loài quý hiếm. Lớp chim gần 111 loài (47 họ) . Lớp bò sát và
lưỡng cư có 24 loài, trong đó có loài Cá Cóc Tam Đảo mới được phát hiện tại Ba
Bể, có 54 loài cá chiếm 1/3 số loài cá nước ngọt Việt Nam ( có 10 loài quý hiếm có
tên trong sách đỏ ). Có hơn 400 loài bướm trong đó có 2 -3 loài mới được phát hiện
lần đầu tiên tại Ba Bể, chưa kể các loài không xương sống khác.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

23




Tại hồ Ba Bể có 137 loài thực vật nổi, gồm nhiều loài như tảo lam, silic, tảo
lục, tảo giáp, tảo vàng...
Khu hệ động vật VQG Ba Bể được xếp vào khu đa dạng sinh học loại A, là
đối tượng cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và tham quan. Tuy nhiên, rất
khó tiếp xúc với động vật hoang dã trong môi trường tự nhiên, nên cần xây dựng
khu nuôi chim, động vật bán hoang dã để khách du lịch dễ dàng tiếp cận với chúng
hơn. Đây cũng là phần nhạy cảm nhất của hệ sinh thái. Vì vậy, cần quy hoạch,
phân vùng các khu bảo tồn nghiêm ngặt nhằm bảo vệ động vật hoang dã, cấm tất
cả các hoạt động săn bắn trong phạm vi quản lý của vườn.

2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu


·Phương pháp sử dụng bẫy hố: Bẫy hố cấu tạo gồm hai cốc nhựa. Cốc nhựa
ngoài (kích thước 8cm x 14 cm) được chôn ngập xuống đất sao cho bề mặt cốc

nhựa bằng với bề mặt nền hang. Cốc trong được lồng vào trong cốc ngoài, trong
cốc nhựa này cho 100ml dung dịch hỗn hợp gồm cồn 95%, nước và ethylen glycol
theo tỷ lệ 70:15:15. Đối với mỗi đợt thu mẫu, một hang chúng tôi đặt 18 bẫy hố
chia theo 3 vị trí (vùng cửa hang, vùng chuyển tiếp và vùng tối), mỗi vùng đặt 6
bẫy hố chia làm 3 cụm, mỗi cụm đặt 2 bẫy, mỗi bẫy trong một cụm cách nhau 3m.
Bẫy được đặt trong 5 ngày sau đó lọc mẫu nhện (có cả các nhóm động vật đất
khác) bằng rây lọc rồi giữ mẫu trong cồn 80 độ. Mỗi đợt nghiên cứu thực địa
chúng tôi đặt bẫy trong vòng khoảng 1 tháng với 5 lần lặp lại. Như vậy, với mỗi
đợt, một hang đặt 90 bẫy (5 lần lặp lại x 18 bẫy một lần) ; với 3 hang sẽ có 270

bẫy/ 1 đợt. Tổng 2 đợt thu mẫu chúng tôi đã đặt tất cả 540 bẫy hố.
Tại mỗi hang, chúng tôi nghiên cứu nhện tại 3 vị trí gồm có: vùng cửa hang,
vùng chuyển tiếp và vùng tối. Các vùng này tương ứng với chế độ ánh sáng và các
điều kiện môi trường khác nhau (theo Humphreys, 2000)

- Vùng cửa hang (vùng sáng) là khu vực có chế độ ánh sáng gần với bên
ngoài, thậm chí cây cối vẫn xảy ra quá trình quang hợp, nhiệt độ và ẩm độ thay đổi
hàng ngày.

- Vùng chuyển tiếp là vùng cách xa vùng cửa hang, ưu thế bởi các loài địa y
và các loài tảo là những loài thích hợp với điều kiện ánh sáng yếu. Nhiệt độ và độ
ẩm vẫn có thể thay đổi, và độ ẩm thường cao hơn so với bên ngoài.

- Vùng tối (vùng hang sâu) là vùng không có ánh sáng tự nhiên, có nhiệt độ và
ẩm độ gần như ít biến đổi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status