1
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình làm luận văn, tác giả đã luôn nhận được sự động
viên, giúp đỡ rất nhiệt tình của các cấp lãnh đạo, các thầy giáo, cô giáo, đồng
nghiệp, bạn bè và gia đình.
Với tình cảm chân thành từ đáy lòng, xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới:
- Các thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu trong suốt
thời gian tác giả học tập tại Học viện Quản lý Giáo dục.
- Ban Giám hiệu trường THPT Trần Phú cùng các đồng nghiệp đã tạo
điều kiện tốt nhất về tinh thần và thời gian để tôi hoàn thành khóa học.
- Các cán bộ quản lý và giáo viên 02 trường THPT ngoài công lập khu
vực Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện trong thời
gian tác giả thực hiện các nghiên cứu tại nhà trường.
- Đặc biệt, xin được bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến
thầy giáo PGS. TS. Trần Quốc Thành, trong thời gian qua đã hết lòng, tận tình
hướng dẫn phương pháp nghiên cứu và sử dụng những kiến thức khoa học để
giúp tác giả hoàn thành luận văn này.
Tuy nhiên, về thời gian nghiên cứu chưa được nhiều mà thực tiễn vấn đề
nghiên cứu thì đa dạng, còn nhiều bất cập cần được giải quyết. Vì thế luận
văn chắc sẽ không thể tránh khỏi thiếu sót và hạn chế nhất định.
Tác giả kính mong nhận được sự đóng góp chân thành của các cấp lãnh
đạo, các thầy giáo, cô giáo và đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Điệp
2
5
THPT
Trung học phổ thông
6
THCS
Trung học cơ sở
7
GD&ĐT
Giáo dục và Đào tạo
8
UBND
Ủy ban nhân dân
9
TW
Trung ương
MỞ ĐẦU
4
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phát triển đội ngũ GV THPT NCL
10
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
10
1.2. Quản lý và quản lý nhà trường
14
1.3. Trường THPT ngoài công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân
18
1.4. Giáo viên và đội ngũ giáo viên THPT NCL
22
1.5. Nội dung quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT NCL
28
1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý phát triển ĐNGV THPT NCL
THPT NCL khu vực Chí Linh, tỉnh Hải Dương
3.1. Định hướng và các nguyên tắc đề xuất các biện pháp
73
3.2. Các biện quản lý phát triển cụ thể
75
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp
98
3.4. Khảo nghiệm tính hợp lý và tính khả thi của các biện pháp
99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
103
TÀI LIỆU THAM KHẢO
106
PHỤ LỤC
109
MỞ ĐẦU
5
Hiện nay, với nền kinh tế thị trường cùng nhiều chính sách đổi mới của
nhà nước càng đòi hỏi phải đa dạng về trình độ học vấn, làm cho đại đa số
thanh niên nhận thức được rằng: học là để tạo ra cho mình một vốn tri thức
nhất định, cần thiết, thì mới có cơ hội tìm kiếm việc làm, học còn để biết sống
hoà nhập, biết tự khẳng định mình và để thích ứng với thời đại... Điều này tạo
ra nhu cầu ngày càng lớn của xă hội đối với giáo dục và cũng tạo ra một sức ép
không nhỏ cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân, các trường công lập không
đủ khả năng đáp ứng nhu cầu, vì vậy các trường ngoài công lập đã ra đời là
một tất yếu phù hợp với quy luật phát triển, quy luật cung cầu của xã hội. Nghị
quyết Trung ương 2 khoá VIII, với việc khẳng định sự cần thiết “Đa dạng hoá
các loại hình trường lớp”, đã tạo ra động lực để phát triển các cơ sở trường học
nói chung và phát triển các trường ngoài công lập nói riêng.
Loại hình các trường ngoài công lập ở cấp trung học phổ thông hiện nay
đã được hình thành ở hầu hết các tỉnh, thành phố trên toàn quốc, đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của người học, đảm bảo thực hiện chủ trương xã hội hoá
giáo dục, tiến tới mục tiêu cơ bản là: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài; đồng thời cũng đáp ứng quyền được học của mọi người dân,
mọi học sinh muốn được học ở bất cứ hoàn cảnh nào.
Các trường trung học phổ thông ngoài công lập ra đời có những thuận
lợi do chủ trương sáng suốt của nhà nước, do nhu cầu thực tế của nhân dân.
Nhưng loại hình này cũng gặp nhiều khó khăn với cơ sở vật chất thiếu, đội
ngũ giáo viên thường thiếu, yếu và không ổn định. Thực tế hiện nay các
trường THPT ngoài công lập đang gặp nhiều vướng mắc cần tháo gỡ về công
tác quản lý và phát triển giáo viên. Có thể thấy nguyên nhân chính của vấn đề
này xuất phát từ nhiều góc độ: từ hình thức tổ chức và nguồn hình thành đội
ngũ giáo viên, từ cơ chế hoạt động và đặc thù của trường ngoài công lập. Đội
ngũ giáo viên các trường ngoài công lập có nguồn hình thành đa dạng dẫn đến
7
lượng giáo dục của các trường THPT ngoài công lập ở khu vực Chí Linh, tỉnh
Hải Dương.
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ giáo viên THPT ngoài công lập
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT ngoài
công lập khu vực Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
4. Giả thuyết khoa học
Các trường THPT ngoài công lập khu vực Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã
rất quan tâm quản lý đội ngũ giáo viên của mình. Nhưng do đặc thù của
trường ngoài công lập, công tác quản lý vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập. Nếu
phân tích rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý giáo viên ở các trường THPT
ngoài công lập khu vực Chí Linh thì có thể đề xuất được các biện pháp quản
lý phát triển có hiệu quả đội ngũ giáo viên ở các trường trung học phổ thông
ngoài công lập khu vực này.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về đội ngũ giáo viên và quản lý phát
triển đội ngũ giáo viên THPT ngoài công lập.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên và quản lý đội ngũ
giáo viên các trường THPT ngoài công lập ở khu vực thị xã Chí Linh, tỉnh
Hải Dương.
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường
THPT ngoài công lập ở khu vực Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
9
Tổng kết, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn của Nhà trường về công tác
quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THPT ngoài công lập.
7.3. Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu thu được
- Xử lý số liệu bằng toán học thống kê.
- Sử dụng các phần mềm tin học trong xử lý số liệu, thiết kế, trình bày,
minh họa.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn có 03 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THPT ngoài
công lập
Chương 2. Thực trạng đội ngũ và quản lý đội ngũ giáo viên các trường ngoài
công lập khu vực Chí Linh, tỉnh Hải Dương
Chương 3. Biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT ngoài
công lập khu vực Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
10
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THPT NGOÀI CÔNG LẬP
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới
Ở Mỹ, để phát triển nguồn nhân lực, Chính phủ rất coi trọng môi
trường sáng tạo và khuyến khích phát triển nhân tài, bồi dưỡng và thu hút
nhân tài trong nhiều lĩnh vực. Chiến tranh thế giới thứ hai đã mang lại cho Mỹ
- nước duy nhất trên thế giới, cơ hội thu hút nguồn chất xám rất lớn, đó là rất
nhiều các nhà khoa học, bác học giỏi từ châu Âu và nhiều nước khác đã nhập
cảnh vào Mỹ. Thực tế này trả lời cho câu hỏi, tại sao hiện nay Mỹ là một
trong những nước có nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới trong nhiều lĩnh
về phát triển nguồn nhân lực thời kỳ 2006-2010 được xây dựng và thực hiện
hiệu quả.
Nội dung chính của các chiến lược này đề cập tới sự tăng cường hợp tác giữa
các doanh nghiệp, trường đại học và các cơ sở nghiên cứu; nâng cao trình độ
sử dụng và quản lý nguồn nhân lực, nâng cao tính chuyên nghiệp của nguồn
nhân lực trong khu vực công; xây dựng hệ thống đánh giá và quản lý kiến
thức, kỹ năng và công việc; xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin cho phát triển
nguồn nhân lực; xây dựng và phát triển thị trường tri thức...
Tại Trung Quốc, Chính phủ đang hết sức quan tâm đến việc đào tạo và
sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực hiện có trong nước, nhằm nâng cao chất
lượng nguồn lực này khi chuyển dần sang kinh tế tri thức.
Năm 2003, Trung Quốc đã đề ra Chiến lược tăng cường hơn nữa công tác bồi
dưỡng, đào tạo nhân tài nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng toàn diện xã hội
khá giả được đề ra trong Đại hội XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nội
dung của chiến lược là: lấy nhân tài chấn hưng đất nước, xây dựng đội ngũ
12
đông đảo nhân tài có chất lượng cao; kiên quyết quán triệt phương châm tôn
trọng lao động, trí thức, tôn trọng nhân tài và sự sáng tạo, lấy thúc đẩy phát
triển làm xuất phát điểm cơ bản của công tác nhân tài, điều chỉnh nhân tài một
cách hợp lý, lấy xây dựng năng lực làm điều cốt lõi, ra sức đẩy mạnh công tác
bồi dưỡng nhân tài, kiên trì đổi mới sáng tạo, nỗ lực hình thành cơ chế đánh
giá và sử dụng nhân tài một cách khoa học...
Trong khu vực Đông nam Á, Singapore được coi là hình mẫu về phát
triển nguồn nhân lực. Thực tế đã minh chứng, quốc gia nhỏ bé này đã rất
thành công trong việc xây dựng một đất nước có trình độ dân trí cao và hệ
thống giáo dục phát triển hàng đầu châu Á. Hệ thống giáo dục của nước này
rất linh hoạt và luôn hướng đến khả năng, sở thích cũng như năng khiếu của
từng học sinh nhằm giúp các em phát huy cao nhất tiềm năng của mình. Bên
tham mưu và tổ chức thực hiện.
- Phát triển ĐNGV và cán bộ quản lý giáo dục sao cho đảm bảo về số
lượng, hợp lý về cơ cấu, chuẩn về chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu vừa tăng
quy mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.
- Chuẩn hoá đội ngũ về các mặt: Vững vàng về chính trị; Gương mẫu
về đạo đức; Trong sạch về lối sống; Có trí tuệ, kiến thức và năng lực thực
tiễn; Gắn bó với nhân dân.
Trong những năm gần đây, nhiều đề án, giải pháp về quản lý phát triển
đội ngũ nhà giáo ở các cấp học, bậc học đã được nghiên cứu và áp dụng:
“Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010” (QĐ số 201/2001/QĐ-TTg
ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ); Đề án “Xây dựng,
nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn
2005 – 2010” (QĐ số 09/2005/QĐ- TTg ngày 11 tháng 1 năm 2005 của Thủ
tướng Chính phủ).
14
Các giải pháp quản lý nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên
của trường THPT chuyên Chu Văn An tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay
(Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục của Hà Thị Khánh Vân, Đại học sư phạm
Hà Nội- trường Cán bộ quản lý Giáo dục và Đào tạo, 2005).
Các biện pháp phát triển ĐNGV trường trung học cơ sở Bồ Đề Quận
Long Biên Hà Nội trong giai đoạn hiện nay (Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo
dục của Trịnh Hoàng Hoa, Đại học sư phạm Hà Nội- Học viện Quản lý giáo
dục, 2007).
Quy hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ
thông tỉnh Bắc Ninh đến năm 2010 (Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục của
Nguyễn Công Ngọ, Đại học sư phạm Hà Nội, 2005).
Các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra được các giải pháp phát triển
ĐNGV và cán bộ quản lý giáo dục cho một đơn vị hay một cơ sở cụ thể. Tuy
có điểm thống nhất về bản chất của quản lý đó tác động của chủ thể quản lý
đến khách thể quản lý nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ đề ra.
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người
quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Trong
giáo dục nhà trường đó là tác động của người quản lý đến tập thể giáo viên,
học sinh và các lực lượng khác nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục.
Bản chất của hoạt động quản lý có thể mô hình hoá qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1. Mô hình quản lý
Công cụ
Chủ thể quản lý
Đối tượng quản lý
Phương pháp
16
Trong đó:
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức.
Đối tượng quản lý là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên
các quan hệ giữa những con người, giữa các nhóm người khác nhau.
Công cụ quản lý và phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách
thể quản lý như: Mệnh lệnh, quyết định, chính sách, luật lệ...
Phương pháp quản lý được xác định theo nhiều cách khác nhau. Nó có
thể là do nhà quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể quản lý và khách
thể quản lý.
Quản lý có bốn chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Các chức năng chính của hoạt động quản lý luôn được thực hiện liên tiếp, đan
xen vào nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành chu trình quản lý.
Trong chu trình này, yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn,
giáo dục phù hợp với mọi lứa tuổi, có phương tiện kỹ thuật phục vụ cho giáo
dục. Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt trong xã hội, thực hiện chức năng
tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho duy trì và phát triển của xã hội. Trường
học là một tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước, xã hội, là nơi trực tiếp
làm công tác đào tạo thế hệ trẻ.
1.2.2.2. Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là lĩnh vực quản lý tác nghiệp giáo dục, nghĩa là
quản lý việc dạy - học diễn ra trong trường học. Quá trình giáo dục là một hệ
thống phức tạp bao gồm các thành tố: Mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục,
phương pháp giáo dục, phương tiện, người dạy, người học, môi trường giáo
dục, kết quả giáo dục. Các thành tố đó vừa có tính độc lập tương đối, có tính
đặc trưng riêng biệt nhưng có mối quan hệ mật thiết lẫn nhau, tác dụng tương
hỗ nhau, gắn bó với nhau tạo nên một thể thống nhất. Người quản lý phải làm
sao cho các thành tố đó của quá trình giáo dục vận động đồng bộ và phát triển
18
không ngừng, có như vậy thì tổ chức giáo dục sẽ phát triển bền vững.
Trường học là tổ chức giáo dục, là một đơn vị cơ sở trong cấu trúc của
hệ thống giáo dục quốc dân. Do đó, xét về bản chất, trường học là tổ chức
mang tính chất nhà nước - xã hội - sư phạm thể hiện bản chất giai cấp, bản
chất xã hội và bản chất sư phạm, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ. Nó là tế bào chủ
chốt của hệ thống giáo dục từ trung ương đến địa phương. Các quan điểm
đường lối, chính sách giáo dục được thể hiện và thực hiện trong nhà trường.
Trường học thực hiện chức năng kiến tạo các kinh nghiệm xã hội thông qua
quá trình sư phạm một cách tối ưu theo quản lý xã hội.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý trường học là thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa
nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục,
mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học
bộc lộ điểm yếu của nó: Học sinh phải đóng học phí cao nhưng vẫn không
được ưu tiên về giáo viên và các điều kiện học tập, bị mang tiếng là học sinh
yếu kém nên số học sinh này thường hay quậy phá, thiếu cố gắng rèn luyện,
tu dưỡng. Mặt khác giáo viên dạy số học sinh này vất vả hơn nhưng không
được bồi dưỡng thỏa đáng nên không muốn dạy, kết quả là chất lượng các lớp
này bị thả nổi. Trước tình hình đó, một số tỉnh, thành phố chủ trương tập trung
các lớp hệ B trong các trường THPT công lập để mở trường THPT bán công
với phương thức toàn bộ cơ sở vật chất là của nhà nước nhưng lương giáo
viên và mọi khoản chi phí cho hoạt động của nhà trường đều từ nguồn thu học
phí của học sinh. Đối tượng tuyển sinh của trường THPT bán công được mở
rộng tạo cơ hội cho những học sinh học lực trung bình, yếu kém nhưng có
điều kiện và có nhu cầu đi học.
Trong những năm qua, nền kinh tế thị trường phát triển mạnh, đời sống
nhân dân ngày càng nâng cao, số lượng và chất lượng trường THPT công lập
21
không đáp ứng đủ nhu cầu học tập ngày càng cao và phong phú của nhân dân
dẫn tới hàng loạt các trường THPT ngoài công lập ra đời với những loại hình
như: bán công, dân lập, tư thục. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo
cho đến nay toàn quốc có khoảng 700 trường ngoài công lập với khoảng
17.000 lớp, tương ứng với số học sinh khoảng 850.500 em và khoảng 25.000
giáo viên, tỷ lệ giáo viên/ lớp đạt 2,16.
Năm học 2012- 2013, tỉnh Hải Dương có 12 trường THPT ngoài công
lập, chiếm 27,3% tổng số trường, thu hút khoảng 21,8% học sinh.
1.3.3. Đặc điểm trường THPT ngoài công lập
Khẳng định rằng, việc mở ra loại hình trường lớp ngoài công lập ở phổ
thông là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với sự chuyển đổi cơ chế quản lý
kinh tế và nhu cầu học tập ngày một tăng của nhân dân, đáp ứng những đòi
hỏi của việc chuẩn bị đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp
đội ngũ, tuyển sinh, tài chính…Thực tế, cho đến hiện nay vẫn còn nhiều lo
lắng, băn khoăn có cơ sở về thực trạng chất lượng đào tạo của các trường
ngoài công lập đang thấp hơn so với trường công lập. Nguyên nhân có nhiều,
song việc nhà nước chưa có một quy chế hợp lý đối với giáo dục ngoài công
lập cũng đã được chỉ ra. Nhiều chuyên gia giáo dục còn lưu ý thêm vấn đề
học phí của các trường ngoài công lập “ hiện nay cao hơn các trường công
lập” nhưng “nếu so với khoản kinh phí mà nhà nước cấp cho các trường công
lập, trong đó có đất đai, cơ sở vật chất thì kinh phí hoạt động của các trường
ngoài công lập lại quá nhỏ nhoi”.
Học sinh các trường ngoài công lập cũng thường mang tâm lý tự ti khi
tiếp cận với điều kiện trường lớp, phương tiện học tập còn khá khiêm tốn. Khi
tham gia các hoạt động giao lưu học sinh trường ngoài công lập cũng thường
rơi vào hoàn cảnh bị “ phân biệt đối xử” so với học sinh trường công lập.
1.4. Giáo viên và đội ngũ giáo viên THPT ngoài công lập
23
1.4.1. Giáo viên
Đội ngũ giáo viên là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán bộ của
Đảng và Nhà nước ta. Việc phát triển đội ngũ giáo viên đã trở thành nhiệm vụ
trọng tâm, cấp thiết vì khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo
dục là phải đặc biệt chăm lo đào tạo và chuẩn hoá đội ngũ giáo viên cũng như
đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và năng lực
chuyên môn, nghiệp vụ.
Tại điều 70 Luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 2005 đã đưa ra định nghĩa pháp lý đầy đủ về nhà giáo và những tiêu
chuẩn của nhà giáo[25].
1. Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà
trường, cơ sở giáo dục khác.
2. Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:
là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp, thành
một lực lượng”[32].
Các khái niệm về đội ngũ tuy có khác nhau, nhưng đều thống nhất một
điều: đó là nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực
hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc không, nhưng
đều có chung một mục đích nhất định.
Đối với các tác giả trong nước, vấn đề này được quan niệm như sau:
“Đội ngũ giáo viên trong ngành giáo dục là một tập thể người, bao gồm
cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên, nếu chỉ đề cập đến đặc điểm của
ngành thì đội ngũ đó chủ yếu là một đội ngũ giáo viên và đội ngũ quản lý
giáo dục”
Từ những quan niệm trên, ta có thể hiểu: Đội ngũ giáo viên là một tập
hợp những người làm nghề dạy học, được tổ chức thành một lực lượng có tổ
25
chức, cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra.
Họ làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và
tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp luật, thể chế xã hội.
Từ điển giáo dục học đã đưa ra định nghĩa: "Đội ngũ giáo viên là tập
hợp những người đảm nhận công tác giáo dục và dạy học có đủ tiêu chuẩn
đạo đức chuyên môn và nghiệp vụ quy định" [31]. Trong thực tế có nhiều
cách hiểu khác nhau về khái niệm đội ngũ giáo viên, bởi vậy có thể hiểu về
đội ngũ giáo viên như sau: Đội ngũ giáo viên là tập hợp những người làm
công tác giáo dục và dạy học ở một trường học hay một cấp học, ngành học
nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tổ chức đó.
Trong từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Đội ngũ là tập hợp một số đông
người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt
động trong hệ thống (tổ chức) và cùng chung một mục đích nhất định”[32].
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Đội ngũ là một tập thể người gắn kết