SKKN một số biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi - Pdf 54

1. MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài:
Trẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của dân tộc. Việc
bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em là trách nhiệm của xã hội và của mỗi gia
đình, Bác Hồ thân yêu của chúng ta từng nói:
“Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan.” [1]
Trẻ em phải được sống và được dạy dỗ trong một xã hội tràn ngập tình
thương với những điều tốt đẹp luôn hiện diện xung quanh. Ngoài ra, các bé phải
được học về lòng yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên, yêu mọi người quanh mình.
Từ những điều hết sức giản đơn ấy, sẽ dần giúp các em yêu thêm mảnh đất quê
hương mà mình đang sống. Các em phải được dạy dỗ để có thể phân biệt tốt xấu,
đúng sai. Nhưng, chúng ta cũng không nên quá gò ép để rồi để các em đánh rơi
mất tuổi thơ, có những suy nghĩ già dặn không phù hợp với lứa tuổi chỉ cần “biết
ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”. Giáo dục trẻ ngay từ khi còn nhỏ là vô
cùng quan trọng trong sự nghiệp hình thành và phát triển nhân cách toàn diện
cho trẻ sau này. Bác Hồ cũng nói: “Không có giáo dục thì không nói gì đến kinh
tế văn hóa”[2]. Sản phẩm của giáo dục là con người mà con người là mục tiêu,
động lực của sự phát triển đất nước trong tương lai đó chính là thế hệ trẻ. Trong
những năm gần đây, giáo dục Mầm non đang nhận được sự quan tâm rất lớn của
các cấp các ngành và của toàn xã hội điều đó chứng minh giáo dục mầm non là
nền tảng vững chắc trong tương lai của đất nước.
Chính vì vậy, việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đóng một vai trò quan
trọng và rất cần thiết trong sự hình thành và phát triển tâm hồn của trẻ thơ một
cách có định hướng, giúp trẻ biết quý trọng bản thân mình, từ đó nuôi dưỡng
những giá trị cuộc sống, giúp trẻ cân bằng cuộc sống trong các lĩnh vực: nhận
thức, thể chất, trí tuệ và thẩm mỹ, từ đó xây dựng cho trẻ những kỹ năng sống
biết hoà nhập với môi trường xung quanh.
Kỹ năng sống là những kỹ năng cần thiết cho hành vi đẹp lành mạnh. Kỹ
năng sống chính là chiếc chìa khoá vàng cho sự sống còn, sự phát triển và sự
thành công của mỗi con người. Có thể nói kỹ năng sống chính là phương tiện

mặt đức, trí, thể, mỹ...
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Một số biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường
mầm non Vĩnh Long.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong đề tài này, tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp quan sát sư phạm.
- Phương pháp dùng lời.
- Phương pháp dùng trò chơi, trải nghiệm.
- Phương pháp phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1. Cơ sở lý luận:
Giáo dục kỹ năng sống là một quá trình tác động sư phạm có mục đích, có
kế hoạch nhằm hình thành năng lực hành động tích cực, có liên quan tới kiến
thức và thái độ, giúp cá nhân có ý thức về bản thân, giao tiếp, quan hệ xã hội,
thực hiện công việc, ứng phó hiệu quả với các yêu cầu thách thức của cuộc sống
hàng ngày…Kỹ năng sống được hình thành theo nhiều cách khác nhau, tùy vào
môi trường sống và giáo dục…
Trong giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non, mẫu giáo, đó là những
hoạt động tích cực, hướng vào những hoạt động cá nhân hoặc một nhóm trẻ với
mục đích giúp trẻ có thể ứng phó hiệu quả với các tình huống, thách thức trong
cuộc sống hàng ngày. Định hướng của giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là giúp trẻ
làm chủ bản thân, ứng xử phù hợp với cộng đồng và xã hội, thích nghi, học tập
hiệu quả, nâng cao sức khỏe tinh thần và thể chất, ứng phó tích cực trong các
2


tình huống của cuộc sống. Giáo dục kỹ năng sống là rất quan trọng và cần thiết
cho trẻ nhỏ. Giáo dục kỹ năng sống giúp cho trẻ phát triển nhân cách, thể chất,
tình cảm, giao tiếp, ngôn ngữ, tư duy một cách toàn diện, là nền tảng để trẻ tự tin

thống giáo dục, đòi hỏi nền giáo dục phải đào tạo ra những con người “phát triển
về trí tuệ, cường tráng về thể lực, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo
đức”.[4] Trong đó giáo dục kỹ năng sống là cốt lõi của nền tảng giáo dục.
Trẻ lứa tuổi mầm non là lứa tuổi đang dần hình thành và phát triển về mọi
mặt, việc dạy kỹ năng sống cho trẻ là vô cùng quan trọng, đặc biệt với trẻ độ tuổi
5 - 6 tuổi, ở độ tuổi này, nhận thức cũng như về mặt giao tiếp, khả năng làm việc
theo nhóm và ý thức tự biết tham gia vào các hoạt động cùng với các bạn trong
lớp. Tuy nhiên hiện nay do sự phát triển nền kinh tế nhiều gia đình rất quan tâm
đến con cái nhưng lại không có thời gian để trò chuyện vui chơi cùng con hoặc
hạn chế việc tiếp xúc giao tiếp của con với mọi người xung quanh dẫn đến một
số trẻ bị tự kỷ, thiếu tự tin, không mạnh dạn khi tham gia các hoạt động cùng các
bạn trong lớp và trẻ có thể còn chưa tự mình làm một số việc đơn giản như tự
thay quần áo, đánh răng, rửa mặt…Vì vậy, việc dạy kỹ năng sống cho trẻ đang
3


trở thành vấn đề cấp bách và cần thiết trong hệ thống giáo dục nói chung và giáo
dục mầm non nói riêng.
Là một giáo viên phụ trách lớp 5 tuổi tại trường Mầm non Vĩnh Long, bản
thân tôi nhận thấy việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ nhằm mục đích phát triển
khả năng giao tiếp, khả năng thích nghi với cuộc sống sinh hoạt, với môi trường
tự nhiên và xã hội. Trẻ biết tự phục vụ và tự bảo vệ bản thân, biết giải quyết
những vấn đề cần thiết mà trẻ cần làm. Chính vì vậy, bản thân sẽ cố gắng tìm tòi
học hỏi, đúc rút kinh nghiệm, tìm biện pháp tốt nhất làm sao để giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ hiệu quả nhất.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến
kinh nghiệm.
2.2.1. Đặc điểm chung:
Trường mầm non Vĩnh Long được cải tạo trên nền trường cấp 1 cũ, các
phòng học nhỏ, khu vui chơi giải trí cho các cháu chật hẹp, có nhiều cây xanh

nhân của trẻ.
Tỷ lệ trẻ đi học chuyên cần được duy trì ổn định từ 90% trở lên, đây cũng
là điều kiện thuận lợi để giáo viên rèn kỹ năng sống cho trẻ tại nhóm lớp.
* Khó khăn:
Tuy có nhiều thuận lợi song vẫn còn không ít những khó khăn trong quá
trình tổ chức thực hiện công tác giảng dạy, cụ thể như sau:
Điều kiện của Nhà trường còn hạn chế nên chưa thể đầu tư để trẻ tham gia
trải nghiệm các hoạt động ngoại khóa nhằm phát triển kỹ năng sống cho trẻ.
Không gian lớp còn chật hẹp chưa đảm bảo cho các hoạt động; các điều
kiện về cơ sở vật chất và trang thiết bị còn có những khó khăn nhất định trong
việc tổ chức các hoạt động tập thể, các trò chơi... nhằm rèn luyện, giáo dục nề
nếp, thói quen, các kỹ năng sống cho trẻ, cũng như các điều kiện khác phục vụ
cho việc chăm sóc giáo dục trẻ.
Một số cháu đang sống trong điều kiện gia đình khó khăn bố mẹ đi làm xa
phải sống ở nhà với ông bà nên việc giáo dục rèn luyện các cháu về kỹ năng
sống và giao tiếp còn hạn chế.
Ngày nay công nghệ thông tin phổ biến, nhiều phụ huynh cho trẻ lạm
dụng quá nhiều vào internet, ti vi, các trò chơi điện tử và điều kiện về thời gian
để bố mẹ dành cho con cái còn hạn chế. Một số trẻ được bố mẹ, người lớn trong
gia đình nuông chiều quá mức nên trẻ không có tính tự lập, ích kỷ và lãnh cảm
với môi trường xung quanh...
Nhận thức của một số phụ huynh còn hạn chế thường phó mặc cho giáo
viên và có những phụ huynh lại quan tâm quá mức khiến cho việc rèn kỹ năng
sống cho trẻ bị lệch lạc. Chính vì vậy ảnh hưởng rất nhiều đến sự hình thành và
phát triển nhân cách ban đầu cho trẻ.
2.2.3. Kết quả khảo sát thực trạng kỹ năng sống của trẻ trước khi
thực hiện đề tài:
Từ thực trạng trên tôi đã lựa chọn những tiêu chí khảo sát để đánh giá kỹ
năng sống của trẻ lớp tôi trực tiếp giảng dạy với tổng số 23 trẻ:
Kết quả khảo sát lần 1 ( trước khi áp dụng các biện pháp)

17

Tỷ lệ
(%)

43

5


2

Kỹ năng tự phục vụ và tự bảo vệ bản
thân trẻ

36

19

57

17

43

3

Kỹ năng hoạt động theo nhóm và khả
năng hợp tác thông qua các hoạt động
của trẻ

nhau trong lớp.

36

19

57

17

43

Từ kết quả khảo sát trên cho thấy kỹ năng sống của trẻ trong môi trường
mầm non còn có những hạn chế nhất định. Trong quá trình nghiên cứu và tìm ra
các giải pháp, biện pháp tôi thấy được sở dĩ kết quả thực trạng trước khi áp dụng
các giải pháp biện pháp là do một số nguyên nhân, hạn chế sau:
Trong các hoạt động của trẻ hàng ngày chưa chú trọng phát triển ký năng
giao tiếp cho trẻ, chưa thường xuyên rèn luyện kỹ năng sống đơn giản cho trẻ ;
chưa linh hoạt, sang tạo trong việc lồng ghép những kỹ năng sống vào các môn
học và các hoạt động trong ngày cho trẻ; chưa chú trọng đến việc rèn kỹ năng
thích nghi với cuộc sống sinh hoạt, môi trường tự nhiên và xã hội cho trẻ thông
qua các hoạt động trong và ngoài trường học; phụ huynh chưa thực sự quan tâm
đến đặc điểm tâm sinh lý của con em mình; chưa hiểu và quan tâm đến công
việc của các cô ở trường. Là giáo viên phụ trách lớp tôi đã có kế hoạch và đề ra
các biện pháp sau:
2.3. Các giải pháp – biện pháp thực hiện.
2.3.1: Quan tâm chú trọng phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ:
Có thể nói rằng, kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng rất quan
trọng đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, không chỉ quan trọng và cần thiết
đối với trẻ trong trường mầm non, mà ngay ở trong gia đình và toàn xã hội đều

đặt câu hỏi có vấn đề tại sao? như thế nào? có ý nghĩa gì?... để trẻ cùng nhau suy
nghĩ và tìm cách giải quyết. Ngoài ra, tôi còn sưu tầm một số câu chuyện, bài
thơ mang tính giáo dục. Giúp trẻ hiểu về các nhân vật trong câu chuyện, bài thơ
cách dùng từ ngữ để giao tiếp với nhau như thế nào?
Ví dụ 3: Cho trẻ đóng kịch truyện “Ba cô gái”, “Chú dê đen”, “Ai đáng
khen nhiều hơn”…Thông qua nội dung, ngôn ngữ của các nhân vật trong chuyện
trẻ hiểu sẽ tạo được cảm xúc tình cảm thân thiện và từ đó giúp trẻ tự tin trong
giao tiếp.
Tính cách mỗi trẻ mỗi khác, có những trẻ hoạt động rất hiếu động nhưng
cũng có những trẻ chậm chạp, thụ động hoặc quá nóng nảy...Vì thế, tôi luôn nắm
rõ đặc điểm tâm lý của trẻ để có thể rèn kỹ năng giao tiếp cho trẻ theo nhiều
phương pháp khác nhau để tránh sảy ra những va chạm về tính cách của mỗi trẻ.
Ví dụ 4: “Giao tiếp bằng nét mặt, bằng việc làm như giúp bạn nhặt đồ
chơi...hoặc nở một nụ cười thật tự nhiên”. Đây cũng chính là việc rèn kỹ năng
giao tiếp cho trẻ...Trong thực tế khi làm được điều này tôi nhận thấy kỹ năng
giao tiếp của trẻ linh hoạt hơn, năng động hơn và tự tin hơn trong bất cứ hoàn
cảnh nào trẻ cũng có thể nhận được sự thân thiện và gần gũi với bạn bè.
* Giáo dục kỹ năng giao tiếp với mọi người xung quanh:
Trẻ không chỉ phát triển giao tiếp thông qua những người thân trong gia
đình mà chúng ta còn dạy trẻ giao tiếp tốt với mọi người xung quanh là yếu tố để
phát huy khả năng giao tiếp cho trẻ.
Ví dụ 1: Thường xuyên cho trẻ giao tiếp với các cô, bác, bạn bè xung
quanh, biết chào hỏi lễ phép “Cháu chào bác ạ, cháu chào ông ạ” hay “Cháu cảm
ơn cô, cảm ơn chú” khi người lớn cho quà hay làm giúp trẻ một việc nào đó, khi
bạn bị ốm bố mẹ cần dạy trẻ biết quan tâm chia sẻ với bạn bè qua những lời nói
âu yếm tình cảm như: Bạn có đau không? Bạn có mệt không... Còn với trẻ chưa
có kỹ năng giao tiếp nhiều với cô, với bạn tôi thường xuyên gần gũi trẻ hơn, trò
7



trẻ sau này.
Có thể nói, môi trường tự nhiên là môi trường quan trọng nhất trong sự
hình thành nhân cách cho trẻ, chính vì vậy để tạo cho trẻ thích nghi với môi
trường thì trước hết môi trường sống phải là một môi trường trong sạch, lành
mạnh, thân thiện và gần gũi đối với trẻ.
Trước hết tôi luôn quan tâm hình thành và rèn kỹ năng tự lập cho trẻ.
Chẳng hạn như khi thời tiết thay đổi trẻ có thể tự lựa chọn các trang phục phù
hợp với thời tiết. Cho trẻ trải nghiệm với sự thay đổi của thời tiết.
Ví dụ 1: “Cho trẻ tắm nắng tập thể dục vào những buổi sáng” kể cả thời
tiết mùa đông và mùa hè cũng là một biện pháp giúp trẻ thích nghi cao, có sức
đề kháng cao trước mọi diễn biến phức tạp của thời tiết và các hiện tượng tự
8


nhiên. Đồng thời, tôi luôn chú ý nhắc nhở phụ huynh chú ý giữ ấm cho trẻ về
mùa đông, thoáng mát về mùa hè để đảm bảo sức khỏe cho trẻ.
Ví dụ 2: Tôi tổ chức cho trẻ tham gia nhặt lá cây, nhổ cỏ trong vườn, tưới
nước cho cây, chơi các trò chơi với cát, nước để cho trẻ được tiếp xúc với những
điều kiện tự nhiên. Đây là một hoạt động thường xuyên mà tôi và trẻ thường hay
làm ở trường, thông qua những hoạt động này trẻ tỏ ra rất thích thú, qua đây tôi
cũng giáo dục cho trẻ biết bảo vệ môi trường của mình, trẻ được thoả mãn nhu
cầu vui chơi và phát triển trí tò mò, óc sáng tạo ở trẻ. Trẻ có thể chơi với cát, đất
trong một chừng mực vừa phải vì điều đó giúp cho các bé vừa thỏa mãn được
tính năng động, vừa nâng cao khả năng đề kháng. Tuy nhiên, sự giám sát của
người lớn rất quan trọng và người lớn chỉ can thiệp khi có những dấu hiệu của sự
nguy hiểm không an toàn. Điều đó không chỉ giúp trẻ mạnh dạn và tự tin hơn mà
còn giúp trẻ sẽ hạn chế được tính ỷ lại sảy ra không đáng có ở trẻ.
(

Hình ảnh cô cho trẻ tham gia nhổ cỏ cho vườn rau)

mà còn biết ứng xử văn minh lịch sự và có kỷ luật, đoàn kết tương trợ và giúp đỡ
mọi người.
2.3.3. Rèn kỹ năng tự chăm sóc tự phục vụ và bảo vệ bản thân:
Việc dạy trẻ biết tự chăm sóc, tự phục vụ và bảo vệ bản thân chính là
chúng ta đã dạy trẻ, rèn cho trẻ tính chủ động, tính tự lập và biết mình phải làm
gì cho bản thân mà không phải phụ thuộc vào người khác trong mọi hoàn cảnh
của cuộc sống sau này.
Ví dụ 1: Dạy trẻ biết tự mặc quần áo, biết tự xúc cơm ăn, tự lau dọn bàn
ghế giúp cô, rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh...Khi học tập trẻ biết tự lựa
chọn đồ dùng phù hợp như sách vở... hoặc khi người lớn giao việc thì trẻ biết
cách sắp xếp công việc đúng theo khả năng của mình...

10


( Hình ảnh cô hướng dẫn trẻ lau mặt ở trường mầm non Vĩnh Khang)
Dạy cho trẻ khả năng tự chăm sóc, tự phục vụ và bảo vệ bản thân là dạy
trẻ tính kỷ luật, tính tự chủ biết giúp đỡ người thân trong gia đình và mọi người
xung quanh. Bởi vì nếu trẻ không biết tự chăm sóc mình thì sẽ không cảm nhận
được sự vất vả, sự quan tâm của mọi người dành cho mình, biết được điều này
thì trẻ sẽ biết chia sẻ, gắn bó và biết dành tình cảm mà người thân đã cho mình.
Có thể nói là việc dạy trẻ trong ăn uống cũng là một cách bảo vệ bản thân trẻ tốt
nhất.
Ví dụ 2: Đôi khi trẻ có những sở thích đặc biệt về ăn uống, chỉ thích ăn vài
loại thực phẩm nhất định, uống vài loại sữa hay thức uống nhất định. Tôi đã
thường xuyên chú trọng giáo dục trẻ biết ăn nhiều loại thực phẩm, món ăn khác
nhau đảm bảo đầy đủ các chất dinh dưỡng thì cơ thể mới khỏe mạnh.
Ngoài việc dạy trẻ biết tự phục vụ chăm sóc bản thân thì tôi còn dạy trẻ
biết lao động tự phục vụ như trong các giờ học, giờ vui chơi.
Ví dụ 3: Trẻ tự biết lấy và cất đồ dùng theo yêu cầu và đúng nơi quy định.

đã tiếp thu kiến thức thực tế để vận dụng trong cuộc sống, mỗi trẻ sẽ giới thiệu
nhiều kết quả bất ngờ. Giáo viên đưa ra những bài tập, những thử thách, trò chơi
mang tính chất tập thể đòi hỏi trẻ phải tự tìm nhóm, tự hợp tác bàn luận trong
nhóm để hoàn thành yêu cầu của cô. Đây chính là ý thức tập thể, tính đoàn kết
khi trẻ tham gia hoạt động theo nhóm.
Ví dụ: Cho trẻ tham gia các trò chơi dân gian, mèo đuổi chuột, bịt mắt bắt
dê, câu chuyện cáo và thỏ, hay trong giờ học tôi đã đặt câu hỏi yêu cầu tổ, nhóm
trả lời, tự khắc trẻ sẽ tự tập hợp nhóm của mình để bàn bạc thống nhất để đưa
ra kết quả.
Như trong giờ học khám phá khoa học “Một số đồ dùng trong gia đình”
tôi đã tổ chức cho trẻ hoạt động theo nhóm ngoài việc phát huy tính tích cực, chủ
động và sáng tạo trong hoạt động của mình, trẻ có thể bàn nhau để tìm cho tổ
mình nhóm đồ dùng mà cô yêu cầu...
Rồi trong hoạt động góc tôi hướng trẻ chơi theo nhóm và trẻ có thể bầu
nhóm trưởng để phân công công việc cho nhau, tạo sự đoàn kết và ý thức trách
nhiệm của từng thành viên khi được giao nhiệm vụ.
Bằng những hình thức khác nhau tôi luôn khuyến khích trẻ hoạt động theo
nhóm để từ đó trẻ có những kỹ năng độc lập, nhanh nhẹn hoạt bát và có khả
năng làm thủ lĩnh độc lập trong cuộc sống sau này của trẻ. Khi trẻ tham gia vào
một hoạt động nhóm đòi hỏi trẻ phải có sự làm việc nghiêm túc, phải phân công
rõ ràng để đạt được kết quả. Tôi luôn động viên để trẻ thấy được sự nỗ lực của
cả nhóm trong quá trình trẻ làm việc theo nhóm. Khi nhận xét tôi đã chú trọng để
trẻ cảm nhận được mỗi thành viên trong nhóm đều rất quan trọng và đều đã làm
việc rất tốt. Dù kết quả đó có đạt yêu cầu hay không đạt yêu cầu thì trẻ vẫn cảm
thấy giá trị của sự đoàn kết giữa các thành viên trong nhóm, tự biết động viên và
an ủi, tạo niềm vui cho nhau thông qua kết quả tập thể đạt được.
Việc dạy cho trẻ kỹ năng, hoạt động theo nhóm và tự giải quyết các vấn đề
cần thiết ở môi trường thực tế hiện nay là một điều hết sức cần thiết, đặc biệt là ở
lứa tuổi Mầm non. Ví dụ: Khi cho trẻ cùng tập bài tập đồng diễn; ném vòng cổ
chai; ném bóng vào rổ… từ những kinh nghiệm truyền thụ về kiến thức cơ bản

trong những kỹ năng đầu tiên mà giáo viên cần chú tâm là phát triển sự tự tin,
lòng tự trọng của trẻ. Nghĩa là giúp trẻ cảm nhận được mình là ai, cả về cá nhân
cũng như trong mối quan hệ với những người khác. Kỹ năng sống này giúp trẻ
luôn cảm thấy tự tin trong mọi tình huống ở mọi nơi.
- Trong giờ vệ sinh: Tôi dạy trẻ các kỹ năng tự phục vụ như: Rửa mặt,
rửa tay bằng xà phòng, cách trải tóc, cách gấp quần áo và đi vệ sinh đúng nơi
quy định…

13





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status