VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VIỆT DŨNG
THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU NGÀNH CÔNG
NGHỆ THÔNG TIN: KINH NGHIỆM CỦA ĐÀI LOAN
Chuyên ngành:
Mã số:
Kinh tế quốc tế
9 31 01 06
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. Nguyễn Bình Giang
2. PGS, TS. Nguyễn Duy Lợi
Hà Nội - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu và tài liệu trong luận án là trung thực và chûa đûợc công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào. Tất cả những tham khảo và kế thừa
đều đûợc tŕch ẫn và tham chiếu đ̀y đủ
Nghiên cứu sinh
Đài Loan .................................................................................................................... 77
3
3.3. Quá trình tham gia vào chuỗi cung ứng toàn c̀u ngành công nghệ thông tin của
Đài Loan .................................................................................................................... 91
3.4. Đánh giá việc tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghệ thông tin của Đài
Loan .......................................................................................................................... 99
Chương 4: TRIỂN VỌNG THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU
NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ ĐỀ
XUẤT CHÍNH SÁCH ........................................................................................... 121
4.1. Sự tham gia của ngành công nghệ thông tin của Việt Nam trong chuỗi cung ứng
toàn c̀u ................................................................................................................... 121
4.2. Bài học kinh nghiệm từ Đài Loan .................................................................... 135
4.3. Kiến nghị chính sách cho Việt Nam ................................................................. 142
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN .......................................................................... 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 152
4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CEPD
CM
Council for Economic Planning Hội đồng lập kế hoạch và phát
Foreign Direct Investment
HSP
Công viên khoa học Hsinchu
Hsinchu Science Park
ICT
Information
and Công nghệ thông tin và truyền
Communications Technology
ITRI
thông
Industrial Technology Research Viện nghiên cứu công nghệ
công nghiệp
Institute
KCX
Khu chế xuất
MOC
Ministry of Communications
Nhà sản xuất thương hiệu gốc
ODM
Original design manufacturer
Nhà thiết kế gốc
OECD
Organization for Economic Co- Tổ chức hợp tác và phát triển
operation and Development
5
kinh tế
OEM
Original
equipment Nhà sản xuất thiết bị gốc
manufacturer
OSM
Original strategy manufacturer
Loan
VEIA
Vietnam electronic industries Hiệp hội doanh nghiệp điện tử
association
Việt Nam
WB
World Bank
Ngân hàng thế giới
WTO
World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Bản chất của các loại thành viên trong mạng sản xuất ............................. 44
Bảng 2.2. Top 15 quốc gia hàng đầu xuất khẩu hàng hoá điện tử trung gian trên thế
giới (1991, 2008) ....................................................................................................... 55
Bảng 3.1. Chi tiêu R&D của 20 doanh nghiệp công nghệ thông tin hàng đầu Đài Loan
................................................................................................................................... 92
Hình 3.4. Số lượng linh kiện các hãng máy tính mua của các nhà sản xuất Đài
Loan ........................................................................................................................... 97
Hình 3.5. Vị trí của Đài Loan trên thị trường vật liệu bán dẫn thế giới.................. 100
Hình 3.6. Thị phần thế giới của một số mặt hàng công nghệ thông tin phần cứng của
Đài Loan năm 2011-2014........................................................................................ 101
Hình 3.7. Tham gia chuỗi cung ứng khu vực Đông Bắc Á của smartphone Đài
Loan ......................................................................................................................... 103
Hình 3.8.Vai trò của các doanh nghiệp ICT Đài Loan trong hệ thống cung ứng máy
tính bảng của ba hãng thương hiệu hàng đầu thế giới ............................................ 104
Hình 3.9.Thứ hạng của các doanh nghiệp thiết kế sản phẩm vi mạch Đài Loan trong
top 20 hãng thiết kế hàng đầu thế giới năm 2013 (Tốc độ tăng trưởng % và doanh thu
triệu USD) ............................................................................................................... 110
8
Hình 3.10. Xuất khẩu sản phẩm công nghệ thông tin phần cứng của Đài Loan giai
đoạn 2013-2019 ....................................................................................................... 114
Hình 4.1. Chuỗi cung ứng ngành công nghệ thông tin ở Việt Nam ....................... 126
9
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Công nghệ thông tin (CNTT) là ngành mũi nhọn hiện nay ở Việt Nam, chiếm
tới 28,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước năm 2017 và đưa Việt Nam trở
thành nước lớn thứ 14 trên thế giới về xuất khẩu sản phẩm điện từ lớn thứ 12 trên thế
giới kể từ năm 2015 và lớn thứ 3 trong ASEAN. Tuy nhiên, 95% kim ngạch xuất
xách tay, máy tính bảng… Tuy nhiên, trong quá trình tham gia chuỗi cung ứng toàn
cầu, Đài Loan vẫn gặp phải nhiều hạn chế, đặc biệt là vẫn chưa tiến tới được khâu
cuối cùng của chuỗi cung ứng một cách hiệu quả và bền vững. Hầu hết các doanh
nghiệp Đài Loan mới chỉ là những đối tác nhỏ trong chuỗi cung ứng CNTT của thế
giới và chỉ sản xuất những thứ do các doanh nghiệp khác đặt hàng, mặc dù đã có
nhiều doanh nghiệp Đài Loan có thương hiệu và tên tuổi.
Là một nước đi sau, Việt Nam cần thiết học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia
và các nền kinh tế đi trước, trong đó có Đài Loan. Các doanh nghiệp Việt Nam với
xuất phát điểm thấp, chưa có nhiều kinh nghiệm tham gia nhiều vào chuỗi cung ứng
toàn cầu ngành CNTT, nên rất khó khăn trong việc làm chủ công nghệ và cải thiện vị
trí của mình trong chuỗi cung ứng. Thông qua kinh nghiệm của Đài Loan, Việt Nam
có thể rút ra những bài học cụ thể, thiết thực để tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi cung
ứng toàn cầu ngành CNTT. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài "Tham gia chuỗi cung ứng
toàn c̀u ngành công nghệ thông tin: Kinh nghiệm của Đài Loan" là mang tính cấp
thiết và có giá trị khoa học và thực tiễn.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của nghiên cứu này là làm sáng tỏ cách thức mà Đài Loan đã thực
hiện để tham gia thành công vào các chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT và rút ra
bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận án triển khai một số nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
+ Hệ thống hoá và làm rõ luận cứ khoa học về chuỗi cung ứng toàn cầu, các
điều kiện cần và đủ để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT.
+ Phân tích các đặc điểm, chính sách, công cụ để tham gia chuỗi cung ứng toàn
cầu của ngành CNTT.
11
+ Phân tích, đánh giá quá trình tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành
Loan trong quá trình tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ngành công nghiệp CNTT bao gồm: CNTT phần cứng, CNTT phần mềm và
quản lý số. Tuy nhiên, do tài liệu nước ngoài về CNTT Đài Loan hạn chế, khó đo
đếm giá trị và các phân đoạn của chuỗi cung ứng; hơn nữa hàng hoá CNTT phần mềm
là một loại hàng hoá đặc biệt, có các đặc điểm và cấu trúc, chủ thể tham gia chuỗi giá
trị khác biệt hoàn toàn với hàng hoá CNTT phần cứng, nên tác giả luận án xin phép
chỉ dừng lại đối tượng nghiên cứu là CNTT phần cứng của Đài Loan.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Thời gian: từ thập niên 1980 đến nay
+ Không gian: chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT ở Đài Loan, bao gồm:
công nghiệp phần cứng, phần mềm, các dịch vụ khác.
+ Nội dung: Các điều kiện cần và đủ để Đài Loan tham gia chuỗi cung ứng, quá
trình tham gia chuỗi cung ứng, cách thức tham gia, biện pháp chính quyền Đài Loan
thực hiện để tham gia chuỗi cung ứng ngành CNTT, kết quả đạt được, bài học cho
Việt Nam.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận:
Xuất phát từ phần lý thuyết chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ chế hoạt động của
chuỗi cung ứng toàn cầu, đề tài sẽ chỉ ra cách thức tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu
có thể có về mặt lý thuyết.
Áp dụng khung phân tích đó, đề tài sẽ tìm Đài Loan đã tham gia chuỗi cung ứng
toàn cầu trong ngành CNTT từ khâu nào, sự nâng cấp trong chuỗi cung ứng qua từng
giai đoạn và giải thích nguyên nhân dẫn đến sự nâng cấp đó.
Từ thực tiễn tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu trong ngành CNTT của Đài Loan,
đề tài sẽ đánh giá triển vọng của ngành trong chuỗi cung ứng toàn cầu trong tương lai.
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích hệ thống: Luận án sẽ sử dụng phương pháp này để
phân tích sự hình thành và phát triển của chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT của
với giai đoạn Đài Loan thực hiện phát triển CNTT trước đây.
Phân tích, đánh giá thực tiễn tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT
của Đài Loan giúp làm sáng tỏ lý luận về chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT, giúp
14
hiểu rõ hơn và vận dụng tốt hơn lý luận trong việc phát triển chuỗi cung ứng toàn cầu
ngành CNTT ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án mang ý nghĩa lý luận sâu sắc bởi luận án góp phần hệ thống hoá các cơ
sở lý luận về chuỗi cung ứng toàn cầu và việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của
ngành CNTT thông qua việc tiến hành thống nhất các khái niệm, phân loại chuỗi cung
ứng và chủ thể tham gia chuỗi cung ứng, đưa ra các tiêu chí đánh giá các yếu tố ảnh
hưởng đến chuỗi cung ứng toàn cầu; các chính sách và công cụ để tham gia và nâng
cấp chuỗi cung ứng toàn cầu của các ngành công nghiệp, trong đó có ngành CNTT.
Luận án mang ý nghĩa thực tiễn cao bởi việc nghiên cứu sự tham gia và nâng
cấp chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT Đài Loan sẽ giúp Việt Nam có thêm
các bài học tham khảo và các kiến nghị chính sách thiết thực, giúp ngành CNTT Việt
Nam tham gia hiệu quả vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Với những đóng góp như vậy, Luận án là tài liệu tham khảo bổ ích cho các cơ
quan hoạch định chính sách, hoạt động thực tiễn, các tổ chức nghiên cứu, giảng dạy
và những ai quan tâm đến chủ đề này.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, kết cấu luận án gồm 4 chương:
Tên chương
Giải quyết nhiệm vụ Trả lời câu hỏi nghiên
nghiên cứu
nghiên
cứu
trước đó?
Tính mới của luận án
15
là gì? Tiếp cận theo
hướng nào?
Chương 2
Cơ sở lý luận và Phân tích các cơ sở lý Chuỗi cung ứng toàn
thực tiễn liên quan luận và thực tiễn liên cầu ngành CNTT dựa
đến việc tham gia quan đến việc tham trên khung lý thuyết
chuỗi
toàn
cung
cầu
ứng gia chuỗi cung ứng nào?
ngành toàn
CNTT
cầu
Đài năm nào? Bằng các
Loan,thực trạng tham chính sách gì? Đạt kết
gia, các kết quả đạt quả ra sao? Gặp hạn
được, hạn chế và chế gì và đâu là
nguyên nhân
Chương 4
nguyên nhân?
Triển vọng tham Phân tích thực trạng Việt Nam nằm ở đâu
gia chuỗi cung ứng tham gia chuỗi cung trong chuỗi cung ứng
toàn
cầu
ngành ứng toàn cầu ngành toàn
cầu
ngành
CNTT Việt Nam và CNTT của Việt Nam, CNTT? Gặp thuận lợi
một số kiến nghị một số bài học và và khó khăn gì khi
chính sách.
kiến nghị chính sách tham gia chuỗi cung
từ kinh nghiệm Đài ứng?Kinh
Loan
trong ngành điện tử và ngành dệt may nhằm nhấn mạnh việc tham gia vào các mạng
sản xuất toàn cầu là con đường nhanh và hiệu quả đi tới thịnh vượng của các doanh
nghiệp cũng như quốc gia. Cù Chí Lợi (2011) cũng đề cập khá chi tiết đến khái niệm,
bản chất, loại hình, cấu trúc của các mạng sản xuất quốc tế. Các tác giả đã đề xuất
hàng loạt kiến nghị, giải pháp để Việt Nam tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu.
Nguyễn Thị Nhiễu (2007) đã đề xuất chiến lược tham gia mạng sản xuất quốc tế cho
doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu dành phần lớn công việc vào
phân tích bối cảnh và điều kiện mới của môi trường kinh doanh quốc tế và sự phát
triển mới của các mạng sản xuất quốc tế/chuỗi giá trị toàn cầu, các hạn chế của Việt
17
Nam, thay vì xác định cơ chế tham gia của các nước, nhất là nước đang phát triển,
vào mạng sản xuất quốc tế. Bùi Thái Quyên (2014) đã kiến nghị nhiều biện pháp để
tham gia mạng. Tuy nhiên, tác giả này mới chỉ dựa trên cơ sở thực tiễn với việc mô
tả về các mạng sản xuất khu vực mà không chỉ ra cơ sở lý luận của các biện pháp đó.
Bên cạnh đó, có một số công trình trong nước đã nghiên cứu về biện pháp cụ
thể tham gia mạng sản xuất toàn cầu, song phần lớn lại chỉ tập trung nghiên cứu một
vài biện pháp nhất định, chứ không nghiên cứu hệ thống biện pháp. Cụ thể là:
- Trần Văn Tùng (2007) đã có những giới thiệu sơ lược về mạng sản xuất quốc
tế (trang 116-119) và thiên về mô tả sự phát triển của ngành điện tử và chế tạo ô tô ở
một số nước Đông Á, hơn là trình bày cách mà các nước đó tham gia như thế nào.
Cuốn sách cũng không chỉ ra cơ sở lý luận và vạch ra khung chính sách tham gia.
- Phạm Thị Thanh Hồng (2014), đã chỉ ra một số biện pháp hữu hiệu để tham
gia vào mạng sản xuất toàn cầu và nâng cao vị thế trong mạng, đó là phát triển các
cụm liên kết ngành. Song, không thấy nghiên cứu này đề cập có hệ thống đến các
biện pháp khác.
- Nguyễn Việt Khôi (2011) đã chỉ ra cách thức để một quốc gia tham gia vào
chuỗi giá trị toàn cầu, đó là thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty đa quốc gia và trở
về công nghệ và kinh tế, sự quốc tế hóa, hay sự bảo hộ về sở hữu trí tuệ đó là việc
chọn lựa thiết kế chuỗi cung ứng một cách chính xác. Luận án cũng đánh giá các tác
động và ảnh hưởng của những thách thức trên lên việc thiết kế chuỗi cung ứng.
Wu (2010) phân tích những ảnh hưởng do sự tăng trưởng vượt bậc của Trung
Quốc lên mạng lưới sản xuất khu vực Đông Á, đặc biệt trong lĩnh vực CNTT và truyền
thông. Cụ thể hơn, luận án phân tích những thay đổi trong nền công nghiệp CNTT và
truyền thông của Trung Quốc đã định hình lại mạng lưới sản xuất tại khu vực này trong
bối cảnh Nhật Bản đã từng nắm giữ vai trò chính một thời gian dài trước đó. Tuy nhiên,
trái với kỳ vọng ban đầu, kết thúc luận án tác giả vẫn đưa ra kết luận: vẫn còn quá sớm
để kết luận rằng trật tự thị trường lao động đã thay đổi và vị trí dẫn đầu của Trung Quốc
cả trên phương diện nguồn vốn FDI lớn hay sự cung cấp không ngừng các tiến bộ kỹ
thuật cho thị trường. Với các mối quan hệ quốc tế và trong khu vực phức tạp Trung
Quốc đang theo đuổi hiện nay thì có ảnh hưởng rất lớn tới việc Trung Quốc trở thành
nước dẫn đầu trong mạng lưới sản xuất khu vực Đông Á.
19
Bamber và cộng sự (2014) đã phân tích các yếu tố cụ thể ảnh hưởng tới năng lực
cạnh tranh của các quốc gia đang phát triển khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, và
sự khác nhau của các yếu tố này trong 4 khu vực chính của nền kinh tế: nông nghiệp,
công nghiệp khai khoáng, chế tạo sản xuất và dịch vụ thuê ngoài. Mặc dù hội nhập vào
chuỗi giá trị toàn cầu cho phép các doanh nghiệp tại các nước đang phát triển tham gia
vào thương mại quốc tế mà không cần phải hoàn thiện toàn bộ khả năng sản xuất một
sản phẩm hay dịch vụ, nhưng cũng sẽ không dễ dàng có được sự phát triển thương mại
tích cực nếu không có các chính sách phù hợp để nâng cao năng lực sản xuất và bảo
đảm tăng trưởng định mức. Việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp cung ứng nội địa có
thể đáp ứng đủ những yêu cầu của chuỗi giá trị toàn cầu bao gồm năng lực sản xuất, cơ
sở hạ tầng và dịch vụ, môi trường kinh doanh, thương mại và chính sách đầu tư là rất
cần thiết. Báo cáo cũng chỉ ra sự cần thiết trong phân tích các dữ liệu chỉ số về chính
cấp được quyết định bởi sự tương tác trong chiến lược của đơn vị đó. Dựa trên thực tế
của ngành công nghiệp sản xuất máy tính notebook ở Đài Loan, nghiên cứu sẽ tìm ra
sự tương tác trong các chiến lược thuê ngoài tại các doanh nghiệp dẫn đầu tại các quốc
gia phát triển là như thế nào, chiến lược học hỏi từ các đơn vị cung cấp Đài Loan, và
chiến lược sản phẩm của các nhà cung cấp linh kiện hàng đầu đã tạo nên cuộc tăng
trưởng bùng nổ trong ngành công nghiệp này từ nửa cuối những năm 1990. Qua đó,
nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò chủ động của các doanh nghiệp trong việc quyết
định nhịp độ và định hướng tăng trưởng của năng lực cung cấp.
Gangnes và Van Assche (2010) đã nhận định tăng trưởng thương mại toàn khu
vực Đông Á chủ yếu được đóng góp nhờ vào hoạt động sản xuất linh kiện nằm trong
mạng lưới sản xuất điện tử toàn cầu của khu vực này. Các dữ liệu chỉ ra rằng ngành
sản xuất và kinh doanh hàng điện tử được chuyên môn hóa cụ thể là các linh kiện
phức tạp được sản xuất tại các nước thu nhập tầm trung và cao, trong khi các quốc
gia có thu nhập thấp hơn chịu trách nhiệm lắp ráp các sản phẩm giá trị gia tăng thấp
hơn. Mặc dù đã có sự tăng trưởng nhất định trong toàn khu vực, các quốc gia đang
phát triển tại khu vực Đông Á vẫn phần lớn dựa vào thị trường tại các nước phát triển.
Điều này dẫn tới khi nhu cầu xuất khẩu ở các nước phương Tây sụt giảm vào năm
2008- 2009 do cuộc khủng hoảng kinh tế gây ra, toàn khu vực Đông Á đã phải trải
qua một cú shock mang tính dây chuyền.
21
T.J. Sturgeon và M. Kawakami (2010) đưa ra những bằng chứng về tầm quan
trọng của chuỗi giá trị toàn cầu ngành điện tử trong nền kinh tế thế giới và phân tích
các ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế giai đoạn đó tới nền công nghiệp này.
Các bài học thực tế từ các công ty được đưa ra để minh họa cho việc năng lực cung
cấp cho nhiều địa điểm đã phát triển như thế nào trong bối cảnh chuỗi giá trị toàn cầu
ngành điện tử. Các kết quả nghiên cứu cho thấy những hạn chế trong quá trình nâng
cấp mà các doanh nghiệp lớn thành công đã từng trải qua. Bốn mô hình được các
trung gian đang xây dựng thêm các cơ sở sản xuất tại Hàn Quốc, Đài Loan và Trung
Quốc với sản phẩm màn hình LCD và các sản phẩm bán dẫn khác. Các doanh nghiệp
Nhật Bản theo đó lại phải tiếp tục đối mặt với áp lực phải giữ vững vị trí đặc biệt của
mình trong mạng lưới sản xuất Đông Á. Trong thị trường mở cạnh tranh hiện nay,
không vị trí của quốc gia nào được đảm bảo sẽ giữ vững. Việc thay đổi ngôi vương
của Nhật Bản trong mạng lưới ngành CNTT bởi các đối thủ cạnh tranh đáng gờm
khác còn cần phải được tiếp tục nghiên cứu và kiểm chứng.
Thứ hai, nghiên cứu về thực trạng Đài Loan tham gia chuỗi cung ứng toàn c̀u
ngành CNTT.
Nghiên cứu về quá trình tham gia vào chuỗi cung ứng ngành CNTT của Đài
Loan, chưa có nhiều công trình nghiên cứu do các nhà khoa học trong nước tiến hành.
Ngô Minh Thanh (2007) đề cập đến hoạt động FDI sôi nổi ở Đông Bắc Á, nhất là
Trung Quốc, nhờ các công ty xuyên quốc gia và việc phát triển các mạng sản xuất
của các công ty này. Nghiên cứu này đề cập đến hoạt động FDI và hoạt động phân
tán sản xuất của các công ty xuyên quốc gia ở Đông Bắc Á hơn là đề cập đến mạng
sản xuất ở Đông Bắc Á. Dương Minh Tuấn (2008) đã nêu sơ lược một vài đặc điểm
của các mạng sản xuất quốc tế ở Đông Á. Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ đề cập
từ góc độ của tổ chức ngành. Trong khi đó, cách tiếp cận hiện đại đối với mạng sản
xuất để biết cách tham gia mạng sản xuất phải là cách tiếp cận kinh tế học không gian
và lý thuyết thương mại mới.
Các nghiên cứu trực tiếp về thực trạng tham gia của ngành CNTT Đài Loan
trong chuỗi cung ứng toàn cầu chủ yếu thuộc về các công trình nghiên cứu nước
ngoài. Trong đó có một số tác phẩm nổi bật như:
Giang Bỉnh Khôn (1995) phân tích các kỳ tích phát triển kinh tế cao của Đài
Loan trong giai đoạn 1952-1989 ; sự phát triển và các chính sách kinh tế của Đài
23
Loan bắt đầu từ năm 1990. Trong cuốn sách này, các chính sách liên quan đến phát
thiết lập các mối quan hệ hợp tác với các doanh nghiệp điện tử Nhật Bản để vượt qua
nhược điểm trong sản xuất các linh kiện quan trọng của mình. Mặt khác, các doanh
nghiệp điện tử Nhật Bản kể từ năm 1992 đã lên kế hoạch đầu tư cho các dự án của
mình tại Đài Loan. Thặng dư thương mại song phương giữa Đài Loan và Nhật Bản do
đó cũng bước vào cuộc ganh đua. Tuy nhiên các chính sách khôn ngoan của giới chức
Đài Loan đã giúp gia tăng vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp từ Nhật Bản. Thứ tư, Đài
Loan đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho các doanh nghiệp Nhật Bản tiếp cận
thị trường trong khu vực Đông Á như Trung Quốc, Việt Nam.
World Technology Evaluation Centre (1997) đã chỉ ra rằng Chiến lược biến Đài
Loan trở thành Trung tâm tài chính châu Á - Thái Bình Dương bao gồm nỗ lực tận
dụng vị trí địa lý của Đài Loan, thị trường nội địa đang phát triển, lực lượng lao động
được đào tạo, nguồn vốn dồi dào, khoa học công nghệ phát triển, kỹ năng quản lý
hiện đại, mạng lưới thương mại toàn cầu và mối quan hệ văn hóa với Trung Quốc đại
lục cũng như các quốc gia châu Á khác. Kế hoạch đặt ra Đài Loan phải trở thành
trung tâm của khu vực về sản xuất, vận tải biển và hàng không, trung tâm tài chính,
công nghệ viễn thông và các hoạt động truyền thông. Trong chiến lược này có sự đầu
tư nhất định cho công nghệ với nguồn vốn từ chính phủ rót xuống các bộ và ban
ngành, tới các viện nghiên cứu, hoặc các chương trình nghiên cứu ở đại học.
The Economist Intelligence Unit (2016) cho thấy ngành công nghệ Đài Loan
đánh dấu thành công trên toàn cầu khi các công ty Đài Loan sản xuất ba phần tư số
máy tính, một nửa số màn hình tinh thể lỏng, một phần tư các chất bán dẫn và một
phần năm số điện thoại di dộng trên thế giới. Trong một nghiên cứu toàn cầu về sức
cạnh tranh của ngành CNTT, Đài Loan đã vươn lên vị trí thứ 2 và tăng liền 6 bậc trên
tổng số 66 quốc gia và vùng lãnh thổ được nghiên cứu. Ngành CNTT và truyền thông
của Đài Loan cũng đã phát triển tới một quy mô dẫn tới sự đa dạng hóa căn bản. Các
doanh nghiệp lớn dần phân tách quy mô sản xuất để đi vào chiều sâu, chuyên môn
hóa sản xuất, dẫn đến việc hình thành các cụm liên kết ngành, mang lại những lợi thế
nhất định góp phần đưa Đài Loan trở thành một bạn hàng đáng tin cậy cho sự hỗ trợ