CÊu tróc ch¬ng tr×nh «n thi tèt nghiÖp m«n ®Þa lÝ n¨m 2009
Chương trình không phân ban
I. Nội dung kiến thức cần nắm vững:
Xu hướng phát triển của nền kinh tế - xã hội thế giới và khu vực; Công cuộc đổi mới nền kinh tế - xã hội ở
nước ta.
Chương I: Các nguồn lực chính để phát triển kinh tế - xã hội
1. Vị trí, lãnh thổ VN và ý nghĩa của nó đối với việc phát triển kinh tế - xã hội. Đánh giá nguồn tài nguyên
thiên nhiên của nước ta.
2. Tình hình dân cư, nguồn lao động và chiến lược phát triển dân số, sử dụng có hiệu quả nguồn lao động
của Nhà nước.
3. Đường lối phát triển kinh tế-xã hội và cơ sở vật chất kỹ thuật.
Chương II: Những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội
1. Đặc điểm của nguồn lao động, tình hình sử dụng lao động và vấn đề việc làm.
2. Thực trạng nền kinh tế và nguyên nhân: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và theo lãnh thổ.
3. Tình hình vốn đất đai, hiện trạng và các biện pháp sử dụng đất nông nghiệp ở các vùng khác nhau.
4. Tầm quan trọng của sản xuất lương thực, thực phẩm: tình hình sản xuất lương thực, thực phẩm; các vùng
trọng điểm lương thực, thực phẩm.
5. Ý nghĩa của việc phát triển cây công nghiệp, hiện trạng phát triển và phân bố các cây công nghiệp, các
vùng chuyên canh cây công nghiệp.
6. Cơ cấu ngành công nghiệp, sự phân hóa lãnh thổ công nghiệp
7. Những hoạt động cơ bản của kinh tế đối ngoại, tình hình phát triển của kinh tế đối ngoại và những tồn tại
cần khắc phục.
Chương III: Những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội trong các vùng
1. Đồng bằng sông Hồng: Vấn đề dân số và biện pháp giải quyết, những thuận lợi và khó khăn trong vấn đề
sản xuất lương thực thực phẩm, thực trạng và biện pháp khắc phục những khó khăn.
2. Đồng bằng sông Cửu Long: Vấn đề sử dụng và cải tạo tự nhiên; vấn đề lương thực, thực phẩm.
3. Duyên hải miền Trung: Những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển kinh tế, vấn đề hình thành cơ
cấu nông- lâm - ngư nghiệp, vấn đề hình thành cơ cấu công nghiệp và xây dựng kết cấu hạ tầng.
4. Trung du và miền núi phía Bắc: Vấn đề khai thác các thế mạnh: khai thác và chế biến khoáng sản, thủy
điện; trồng cây công nghiệp, cây dược liệu, rau quả cận nhiệt đới và ôn đới, chăn nuôi đại gia súc; kinh tế
biển.
Lời khuyên đầu tiên của thầy ĐỖ NGỌC TIẾN, Phó Hiệu trưởng Trường THPT Việt Đức (Hà Nội), dành cho các em
học sinh (HS) khi bắt đầu vào việc ôn tập môn Địa lý?
- Tôi muốn bắt đầu từ cấu trúc của một đề thi. Cấu trúc của đề thi môn Địa lý đã từ nhiều năm nay không có gì thay
đổi. Đề thi bao giờ cũng gồm có 2 phần. Phần thứ nhất là phần bắt buộc và thường có 2 câu hỏi.
Câu hỏi thứ nhất thường là bài tập thực hành, vẽ hoặc xây dựng biểu đồ, sau đó kết hợp nhận xét và phân tích một
biểu đồ địa lý kinh tế. Câu thứ hai, đề bài cho một bản số liệu. Từ bản số liệu ấy HS phân tích để rút ra nhận định.
Phần này được 5 điểm. Trong đó câu bài tập thực hành thường có cơ cấu từ 3 - 3,5 điểm. Còn câu phân tích số liệu
thống kê thường có cơ cấu từ 1,5 - 2 điểm.
Phần thứ hai là phần tự chọn (HS chọn 1 trong 2 đề để làm bài). Trong đó, có một đề sẽ có một câu lý thuyết (yêu
cầu HS sử dụng nội dung của kiến thức sách giáo khoa để làm bài). Một đề khác sẽ có một câu hỏi dựa vào Atlat địa
lý Việt Nam (đây là tài liệu được phép mang vào phòng thi, HS có thể sử dụng nó để làm bài - PV). Giữa 2 câu này
tôi khuyên là HS nên sử dụng quyển Atlat.
Dưới sự hướng dẫn của giáo viên có kinh nghiệm, HS không cần phải nhớ hết số liệu (vì trong Atlat đã có đầy đủ
các biểu đồ, các số liệu). Việc tiếp thu quyển Atlat của HS là khá dễ dàng. Từ nội dung Atlat có thể làm thành một
bài lý thuyết cho yêu cầu câu hỏi đã đặt ra. Tuy nhiên HS cũng phải lưu ý. Các đề thi thường yêu cầu HS vừa dựa
vào kiến thức trong quyển Atlat, vừa dựa vào kiến thức trong SGK. Nếu chỉ học ôn quyển Atlat thì không đủ.
+ Những năm có thi môn Địa lý trong kỳ thi tốt nghiệp THPT, thầy đều trực tiếp tham gia công tác chấm thi.
Thầy nhận thấy các em hay gặp những sai lầm nào trong làm bài?
- Nói là sai lầm thì không đúng mà là những điểm khó khiến các em lúng túng. Đó là phân tích số liệu thống kê và
giải thích, nhận xét các biểu đồ. Khi làm phần bài tập, bài tập vẽ biểu đồ hình tròn, hình cột, vẽ các đường biểu
diễn... thì các em hay mắc lỗi là chưa biết nhận xét, giải thích cũng chưa thật hoàn toàn đúng (dù vẽ được, vẽ đúng).
Giáo viên nên lưu ý để hướng dẫn HS biết cách làm một bài thi Địa lý, đặc biệt là hướng dẫn HS cách khai thác triệt
để nội dung có trong quyển atlat để làm bài.
+ Địa lý là môn học nằm trong khối thi C (khoa học xã hội). Như vậy có phải đây là một môn học thuộc lòng?
- Địa lý là môn nằm giữa ranh giới các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Sẽ không đúng nếu nói nó là môn
học thuộc lòng. Để học tốt môn Địa lý, yêu cầu các em phải hiểu.
Khi làm bài thi môn Địa lý, yêu cầu các em phải có tư duy địa lý. Trong địa lý có những mối quan hệ giữa tự nhiên,
giữa xã hội và giữa kinh tế. Các mối quan hệ ấy ràng buộc với nhau. Ví dụ, để phân tích sự phát triển kinh tế một
ngành một vùng thì nó liên quan đến những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội như yếu tố dân cư, nguồn lao động, thị
trường, cơ sở vật chất hoặc đường lối chính sách...
1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2. Một số vấn đề phát triển và phân bố nông nghiệp: Vốn đất và sử dụng vốn đất; Đặc điểm nền nông
nghiệp nước ta; cơ cấu ngành nông nghiệp; địa lý ngành thuỷ sản và lâm nghiệp; tổ chức lãnh thổ nông
nghiệp.
3. Một số vấn đề về phát triển và phân bố công nghiệp; Vấn đề phát triển công nghiệp năng lượng; phát
triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản; phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng; tổ chức
lãnh thổ công nghiệp.
4. Một số vấn đề phát triển và phân bố các ngành dịch vụ: Phát triển ngành giao thông vận tải; phát triển
thông tin liên lạc; phát triển thương mại; phát triển du lịch.
IV - Vấn đề phát triển các vùng
Khai thác thế mạnh ở Trung du và miền núi Bắc bộ; phát triển kinh tế - xã hội ở Bắc Trung Bộ; chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở Đồng bằng sông Hồng; phát triển KT -XH ở Duyên hải Nam Trung Bộ;
Khai thác thế mạnh ở Tây Nguyên; Khai thác lãnh thổ theo chiều sâu ở Đông Nam Bộ; Sử dụng hợp lý và
cải tạp tự nhiên ở Đồng bằng SCL; Vấn đề lương thực, thực phẩm ở Đồng bằng sông Cửu long; Vấn đề
phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng ở Biển đông và các đảo, quần đảo.
B- Những kỹ năng cần có
1. Đọc và phân tích bản đồ, lược đồ, Átlát, các loại biểu đồ, bảng số liệu.
2. Vẽ các loại biểu đồ.
3. So sánh, phân tích các mối quan hệ giữa tự nhiên với tự nhiên, tự nhiên với KT – XH, giữa các yếu tố
KT – XH với nhau.
C- Một số điều cần lưu ý:
1. Khi ôn tập, HS cần chú trọng việc tăng cường rèn luyện các kỹ năng và tư duy địa lý, cách học, cách làm
bài, hạn chế việc ghi nhớ máy móc.
2. Học cách sử dụng atlat địa lý VN trong học tập và làm bài thi.
3. Các số liệu là cần thiết nhưng không yêu cầu HS phải nhớ nhiều số liệu. Vấn đề quan trọng là biết cách
phân tích các số liệu để tìm ra kiến thức. Khi làm bài, HS có thể sử dụng các số liệu không phải của sách
giáo khoa địa lý lớp 12 ban KHXH & NV nhưng phải ghi rõ nguồn gốc số liệu.
Chương trình phân ban (thí điểm) Ban Khoa học tự nhiên.
A- Những nội dung kiến thức cần nắm vững: Việt Nam trên con đường đổi mới và hội nhập.
I- Địa lý tự nhiên Việt Nam