Mục lục
Số thứ
tự
I
II
I
II
III
IV
V
I
II
Nội dung
Phần thứ nhất : Mở đầu
Đặt vấn đề
Mục đích nghiên cứu
Phần thứ hai : Giải quyết vấn đề
Cơ sở lý luận của vấn đề
Thực trạng
Các giải pháp
Tính mới của giải pháp
Hiệu quả của sáng kiến
Phần thứ ba : Kết luận, kiến nghị
Kết luận
Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Trang
1
1–2
Để đạt được những mục tiêu trên, chúng ta phải giáo dục cho học sinh
trong một môi trường đồng bộ nghĩa là phải có sự phối kết hợp giữa các lực
lượng giáo dục trong xã hội, trong đó Nhà trường giữ vai trò chủ đạo.Với bậc
Tiểu học, người giáo viên chủ nhiệm có vai trò vô cùng quan trọng đối với học
sinh.Người giáo viên chủ nhiệm lớp đóng rất nhều vai trò: vừa là th ầy dạy
học vừa là người cha, người mẹ và cũng có lúc phải là ng ười bạn t ốt nh ất
của các em. Từ đó có thể uốn nắn các em đi theo quỹ đạo của mình .. Giáo
viên chủ nhiệm lớp thực hiện nhiệm vụ quản lí lớp học và là nhân vật chủ chốt,
là linh hồn của lớp, người tập hợp, dìu dắt giáo dục học sinh phấn đấu trở thành
con ngoan, trò giỏi, bạn tốt, công dân tốt và xây dựng một tập thể học sinh vững
mạnh.
Bên cạnh những giờ dạy trên lớp, giáo viên chủ nhiệm phải biết phối hợp
với giáo viên bộ môn và hoạt động các tổ chức đoàn thể góp phần giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh thông qua hoạt động giao lưu, tham quan về nguồn;
thông qua những bài học lịch sử, những buổi đi thực tế thăm các di tích lịch sử,
văn hoá của địa phương. giáo viên giúp học sinh hiểu và thấm nhuần những
truyền thống qúy báu của dân tộc, tinh thần yêu nước, đấu tranh bất khuất trong
dựng nước và giữ nước của ông cha, truyền thống nhân đạo sâu sắc, tinh thần
đoàn kết… Từ đó, học sinh thấy được trách nhiệm của mình với đất nước, gia
đình, xã hội và bản thân, biết giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của
dân tộc, hình thành cho học sinh những phương cách ứng xử nhân văn, nhân ái,
phẩm chất đạo đức chuẩn mực trong nhà trường.
Khi tham gia vào bất kỳ hoạt động nghề nghiệp nào phục vụ cho cuộc
sống đều đòi hỏi chúng ta phải thỏa mãn những kỹ năng tương ứng. Rèn luyện
kỹ năng sống cho học sinh là nhằm giúp các em rèn luyện kỹ năng ứng xử thân
thiện trong mọi tình huống; thói quen và kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng
hoạt động xã hội; Giáo dục cho học sinh thói quen rèn luyện sức khỏe, ý thức tự
bảo vệ bản thân, phòng ngừa tai nạn giao thông, đuối nước và các tệ nạn xã hội.
Đối với HS tiểu học việc hình thành các kỹ năng cơ bản trong học tập và sinh
hoạt là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển
đạo đức của bản thân.
Bắt đầu từ năm học 2008 – 2009 Bộ giáo dục và Đào tạo đã phát động
phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Trong
đó một nội dung rất quan trọng là rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh. Vì vậy
qua đề tài này giúp trường xây dựng tốt phong phong trào thi đua “Xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
Trong phạm vi đề tài này, bản thân tôi xin được chia sẻ một vài kinh
nghiệm về tăng cường giáo dục kỹ năng sống nói chung, một số hình thức về
giáo dục kỹ năng sống đã thực hiện tại Liên đội trong những năm qua.
Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lí luận của vấn đề
1.Những khái niệm có liên quan đến hoạt động giáo dục kỹ năng sống
3
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về Kỹ năng sống, nhưng để đưa ra một
khái niệm chung nhất có lẽ vẫn chưa có. Nhưng theo tôi chúng ta cần hiểu về
khái niệm kỹ năng và kỹ năng sống như sau:
Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một
hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công
việc nào đó phát sinh trong cuộc sống.
Kỹ năng sống là những trải nghiệm có hiệu quả nhất, giúp giải quyết hoặc
đáp ứng các nhu cầu cụ thể, trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của con
người. Kỹ năng sống bao gồm cả hành vi vận động của cơ thể và tư duy trong
não bộ của con người. Kỹ năng sốngcó thể hình thành một cách tự nhiên, thông
qua giáo dục hoặc rèn luyện của con người.
Các nhóm nhận biết về Kỹ năng sốngđược chia ra như sau:
a.Theo UNICEF kỹ năng được chia làm 3 cụm chủ đề
- Kỹ năng truyền thông và giao tiếp bao gồm;
+ Truyền thông giao tiếp cá nhân.
- Kỹ năng ra quyết định
- Kỹ năng giải quyết vấn đề.
- Kỹ năng tư duy sáng tạo.
- Suy nghĩ có phán đoán.
- Truyền thông có hiệu quả.
- Kỹ năng giao tiếp.
- Ý thức về bản thân.
- Kỹ năng thấu cảm.
- Kỹ năng ứng phó với cảm xúc.
- Kỹ năng ứng phó với stress.
2.Các văn bản có liên quan đến công tác giáo dục kỹ năng sống trong
trường Tiểu học
-Công văn số 463/BGDĐT-GDTX của Bộ Giáo dục và đào t ạo ngày 28
tháng 01 năm 2015
5
- Công văn số 4026/BGDĐT-GDCTHSSV của Bộ Giáo dục và đào tạo
“Về việc tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh” ngày 01 tháng 9
năm 2017.
- Chương trình bồi dưỡng thường xuyên bậc Tiểu học
Trong chương trình bồi dường thường xuyên dành cho giáo viên Ti ểu
học có nhiều Modul dành cho giáo viên Tiểu học với các n ội dung liên quan
đến công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học. Trong đó th ể
hiện rõ nhất ví dụ ở các Modul như:
Modul TH 39: Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu h ọc qua các
môn học;
Modul TH 40: Thực hành giáo dục kỹ năng sống cho h ọc sinh ti ểu h ọc
qua một môn học;
lớp trong các nhà trường vẫn chưa được quan tâm nhiều. Một số giáo viên vẫn
còn xem nhẹ các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, nhiều gia đình học sinh
chưa thực sự quan tâm đến việc tham gia các phong trào của con em mình, từ đó
cũng coi nhẹ việc rèn các kĩ năng sống cho học sinh và con em mình.
Trường nằm trong địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn,
hầu hết gia đình các em đều làm nông nên điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn.
Nhiều học sinh phải ở nhà với ông bà vì bố mẹ đi làm ăn xa nên thiếu sự quan
tâm dạy dỗ của bố mẹ. Đây chính là điều kiện tốt để các tệ nạn xã hội xâm nhập
vào các em nếu các em không được trang bị tốt nhất các kỹ năng sống cho mình.
Nhân cách học sinh được hình thành và phát triển thông qua hai con
đường cơ bản là con đường học trên lớp và con đường tham gia các hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Việc tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong trường tiểu
học là điều kiện tốt nhất giúp học sinh tích lũy và rèn kỹ năng sống có hiệu quả.
Thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp các em được hợp tác, trải
nghiệm các kỹ năng sống. Vì vậy giáo viên cần thiết kế và tổ chức thực hiện các
hoạt động ngoài giờ lên lớp sao cho học sinh có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân,
tự trải nghiệm và biết phân tích kinh nghiệm sống của chính mình và của người
khác.
Sau khi học kỳ I năm học 2017 - 2018 kết thúc và vào đầu năm học 20182019 tôi đã tiến hành khảo sát với chủ đề “ Kỹ năng của em”, kết quả thu được
như sau:
Tổng số học
sinh
Kỹ năng khi tham gia giao thông
Kỹ năng tốt
Có hình thành kỹ năng Kỹ năng chưa tốt
SL
145
50,8
98
34,5
42
14,7
7
Kỹ năng phòng tránh đuối nước, tai nạn thương tích
Tổng số
học sinh
Kỹ năng tốt
Có hình thành kỹ
năng
Kỹ năng chưa tốt
SL
%
47,3
115
40,4
35
12,3
Kỹ năng phòng tránh bị xâm hại
Tổng số
học sinh
20172018
20182019
Kỹ năng tốt
Chưa có kỹ năng
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
210
73,1
77
26,9
8
20182019
285
198
69,4
87
- Có lối sống lành mạnh, biết cách tự chăm sóc mình.
- Nhận biết lòng biết ơn, các giá trị đạo đức cơ bản trong cuộc sống.
9
- Biết bao dung, vị tha, tôn trọng với bạn bè, biết quan tâm đến nh ững
người xung quanh.
* Một số biện pháp nhằm tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông
qua các hoạt động của Đội:
Từ thực trạng đã nêu ở phần trên, là giáo viên Tổng phụ trách đội tôi luôn
bám sát tình hình thực tế của học sinh trường mình, cố gắng truyền tải cho các
em những Kỹ năng sốngthông qua những hoạt động, những hình thức giáo dục
phù hợp với lứa tuổi, giúp các em tự chủ động lĩnh hội kiến thức và tự trải
nghiệm rút ra cho mình bài học để áp dụng trong cuộc sống.Căn cứ vào chương
trình hoạt động ngoài giờ của nhà trường, kết hợp với các chủ đề sinh hoạt của
Liên đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, mà giáo viên chọn ra những hình
thức giáo dục phù hợp.
- Biện pháp 1: Tìm hiểu thực tế học sinh và tạo m ối thân thi ện v ới
học sinh.
Là một giáo viên được nhà trường tin tưởng giao trọng trách làm
giáo viên- tổng phụ trách đội, bản thân tôi cũng nh ư nhiều đồng nghiệp
khác rất tự hào, nhưng xen lẫnđâu đó vẫn có những nỗi lo không tên. Vì
trọng trách một người giáo viên tổng phụ trách rất nặng nề, và cóý nghĩa
to lớn đối với các em học sinh
Việc tìm hiểu gần gũi cũng như tạo mối quan hệ thân thiện v ới các
em không đơn giản một chút nào. Người giáo viên vừa cần nghiêm kh ắc
giúp các em tự giác thực hiện nề nếp nội quy nhà tr ường, cũng nh ư c ần
phải thân thiện, là nơi để các em chia sẻ những v ấn đề khó nói, ho ặc
những khó khăn gặp phải trong cuộc sống.
Điều vui nhất của giáo viên tổng phụ trách là được th ường xuyên
Hoạt động ngoài giờ lên lớp là một hoạt động quan tr ọng, góp ph ần
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện mục tiêu giáo dục c ủa
nhà trường. Chính từ những hoạt động như: lao động, sinh hoạt tập th ể,
hoạt động xã hội đã góp phần rất lớn trong việc hình thành nhân cách c ủa
học sinh. Giúp các em biết tự giáo dục, tự rèn luyện, tự hoàn thiện mình. Có
thể nói việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp là xây d ựng cho các em
các mối quan hệ phong phú, đa dạng một cách có mục đích, có kế hoạch, có
nội dung và phương pháp nhất định, gắn giáo d ục v ới cộng đ ồng, t ạo s ự
thân thiện trong mọi tình huống. Biến các nhu cầu khách quan c ủa xã h ội
thành những nhu cầu của bản thân HS.
Nhân cách trẻ được hình thành và phát triển thông qua các ho ạt
động có ý thức. Chính trong quá trình sống, học tập, lao đ ộng, giao l ưu, vui
chơi giải trí... con người đã tự hình thành và phát triển nhân cách c ủa mình.
Việc tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong trường
Tiểu học là điều kiện tốt nhất giúp HS tích luỹ và rèn kĩ năng s ống có hi ệu
quả. Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp các em đ ược h ợp tác, tr ải
nghiệm các kĩ năng sống. Vậy giáo viên cần thiết kế và tổ ch ức th ực hiện
các hoạt động ngoài giờ lên lớp sao cho HS có c ơ h ội th ể hiện ý t ưởng cá
nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích kinh nghiệm sống của chính mình và
người khác.
11
Dưới đây là một vài hình thức bản thân tôi đã trải nghiệm và áp d ụng
có hiệu quả đối với Liên đội:
- Biện pháp 3: Hoạt động “Trang trí lớp học thân thiện”.
Trong những năm qua Bộ GD&ĐT đã phát động phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực” rộng khắp trên cả
nước. Ở trong môi trường đó các em được học tập và sinh hoạt trong m ột
bầu không khí thân thiện, gần gũi như gia đình, điều đó góp phần giúp các
Trang trí lớp học thân thiện
- Biện pháp 4: Tổ chức các hoạt động “Lao động dọn vệ sinh”.
Để đánh giá xếp loại học sinh, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quy đ ịnh
dựa trên bốn tiêu chí: Văn hóa, đạo đức, lao động và văn th ể mĩ. Nh ưng
hiện nay, tiêu chí hoạt động lao động của học sinh trong tr ường h ọc d ường
như đã bị bỏ qua, những hoạt động đó dần được “dịch vụ hóa”.
Những năm về trước, hầu hết các trường học đều tổ ch ức lao động
cho học sinh. Các nhà trường thường xuyên duy trì hình th ức thay phiên
từng lớp lao động trong tuần với các công việc nh ư quét dọn sân tr ường,
lớp, nhổ cỏ, lau bàn ghế… Các em thực hiện những công việc đó tr ước gi ờ
học hoặc ra chơi giữa giờ. Học sinh tự “lao động” sẽ giúp các em bi ết gi ữ
gìn kết quả công sức lao động của mình, tránh thói quen d ựa d ẫm ỷ l ại,
không xả rác bừa bãi trong trường lớp và nh ững n ơi công c ộng. T ự các em
biết mình phải làm gì để giữ gìn môi trường xung quanh sạch đ ẹp.
Vì vậy, việc “bỏ qua kỹ năng lao động ở các tr ường học hiện nay là
một hình thức gián tiếp làm học sinh lười vận động và sợ lao động. S ự
chậm chạp, ít hoạt động cơ bắp không chỉ có ở học sinh khu vực thành ph ố
mà còn xuất hiện nhiều ở học sinh các vùng nông thôn. Không ch ỉ các em
học sinh ở thành phố mà phần đông học sinh ở các vùng nông thôn, ngoài
thời gian học tập, giải trí thì không phải làm bất cứ công việc gì khác.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục các em tự lao
động dọn vệ sinh cho lớp mình cũng như làm sạch khuôn viên nhà trường .
Bản thân tôi trong những năm qua đã phối h ợp cùng v ới Ban đ ại di ện cha
13
mẹ học sinh để làm có hiệu quả phương pháp này. Tạo cho các em thói
trong các hoạt động như trò chơi hay kể chuy ện… Qua các hoạt đ ộng này
việc tạo cho các em nhiều kỹ năng như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lãnh
đạo, kỹ năng lắng nghe… Đặc biệt là sự tự giác trong việc tham gia ch ơi
cùng nhau, hợp tác, đoàn kếtđể hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Sau đây là một số hình thức giáo viên tổng ph ụ trách đ ội có th ể s ử
dụng trong các buổi sinh hoạt dưới cờ, giúp buổi sinh hoạt sinh động và lôi
cuốn các em:
a.Hình thức trò chơi
*Mục đích
- Giúp tạo ra môi trường để các em tham gia vào hoạt động giáo d ục kỹ
năng sống một cách tự nhiên, nhiệt tình.
- Chơi và được chơi là nhu cầu thiết yếu đối với tâm sinh lý c ủa l ứa
tuổi học sinh tiểu học. Hoạt động trò chơi sẽ giúp các em tự khám phá ra
các giá trị, những kỹ năng, thông qua các trò chơi được triển khai.
- Giúp học sinh bộc lộ tính cách trong khi tham gia các trò ch ơi.
- Tạo cơ hội để các em phát huy khả năng làm việc nhóm.
- Giúp các em cởi mở, đoàn kết, tự tin hơn.
* Yêu cầu khi tổ chức trò chơi
- Trước tiên trò chơi phải phù hợp với lứa tuổi của h ọc sinh ti ểu h ọc.
- Trò chơi phải đáp ứng mục tiêu của hoạt động đề ra.
- Trò chơi phải phù hợp với không gian, thời gian diễn ra.
cầu.
- Trò chơi cần có đầy đủ các phương tiện, dụng cụ để đáp ứng yêu
- Trò chơi cần tạo ra sự vui vẻ và có ý nghĩa giáo dục th ực sự.
* Phạm vi áp dụng phương pháp trò chơi khi tổ ch ức các hoạt đ ộng
giáo dục kỹ năng sống
15
một cách dễ dàng hơn.
*Yêu cầu khi sử dụng phương pháp kể chuyện
16
- Người tổ chức cần chuẩn bị câu chuyện có ý nghĩa, phù h ợp v ới n ội
dung của buổi sinh hoạt giáo dục kỹ năng sống.
- Chú ý đến phương tiện sử dụng kể chuyện c ần ch ỉn chu, hoàn
chỉnh.
- Người kể chuyện cần chuẩn bị thật kỹ càng phần truyền đạt câu
chuyên, cố gắng thu hút học sinh vào câu chuyện, nhằm tránh s ự nhàm
chán khi nghe chuyện.
*Đối tượng, phạm vi sử dụng phương pháp kể chuyện:
Phương pháp kể chuyện được sử dụng phù hợp cho mọi lưa tuổi
trong học sinh tiểu học. Tuy nhiên tâm lý mỗi đ ối t ượng h ọc sinh là khác
nhau, do vậy người kể chuyện cần chọn lọc thật kỹ càng nh ững câu
chuyện cho phù hợp.
Phương pháp kể chuyện cũng được sử dụng nhiều trong các bu ổi
sinh hoạt giáo dục kỹ năng sống, ví dụ các buổi nói chuy ện chuyên đề, các
bài giảng – tiết sinh hoạt trong lớp...
Phương pháp này tác động nhanh đến nhận th ức và tình cảm của
học sinh vì vậy có thể sử dụng ở hoạt động thứ 2 hoặc 3 của buổi sinh
hoạt chuyên đề.
*Cách tiến hành phương pháp
- Nắm vững mục đích: việc kể chuyện không chỉ thỏa mãn nhu c ầu
giải trí cho học sinh, mà nhằm đến mục đích giáo d ục. Do vậy người kể
chuyện cần chọn lọc câu chuyện có tính giáo dục, có ý nghĩa.
- Nội dung câu chuyện: Người kể chuyện phải nắm th ật v ững n ội
dung, trình tự câu chuyện. Cần trình bày câu chuyện một cách đ ơn giản,
sống động, tránh dài dòng, lan man. Chú ý đến nh ững ý chính trong câu
Tổ chức Hội diễn văn nghệ chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11
- Hoạt động vui chơi giải trí, thể dục thể thao:
Hiện nay với xu thế phát triển mới của thời đại việc các em tiếp xúc với
công nghệ là điều không thể tránh khỏi, bên cạnh những mặt tích cực thì việc
các em tiếp xúc với công nghệ cũng mang lại rất nhiều hệ lụy từ đó làm cho các
em thiếu đi những kĩ năng cần thiết để thích nghi với cuộc sống hiện tại. Vì vậy,
việc tổ chức cho các em tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí là nhu cầu thiết
yếu của trẻ, đồng thời là quyền lợi của các em. Nó là một loại hoạt động có ý
nghĩa giáo dục to lớn đối với học sinh ở trường tiểu học. Hoạt động này làm
thỏa mãn về tinh thần cho trẻ em sau những giờ học căng thẳng, góp phần rèn
luyện một số phẩm chất: tính tổ chức, kỉ luật, nâng cao tinh thần trách nhiệm,
tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái….
19
Tổ chức thi Điền kinh cấp trường
- Hoạt động xã hội:
Hoạt động này thường được tổ chức nhằm giáo dục các em các kĩ năng
chia sẻ, hợp tác. Thông qua hoạt động này, giáo dục cho các em tình yêu quê
hương đất nước, niềm tự hào dân tộc và giáo dục các em có tinh thần trách
nhiệm, có nghĩa vụ đối với cộng đồng; các em sẽ được bồi dưỡng thêm về nhân
cách, đặc biệt là tình người. Trong thực tế, hoạt động này đã được nhà trường
tiến hành tương đối tốt. Hoạt động này phải được khai thác một cách triệt để
nhằm phát triển tối đa nhân cách ở các em.
Tổ chức quyên góp, ủng hộ tặng quà cho các bạn có hoàn cảnh khó khăn tại Liên đội
%
SL
%
190
66,7%
95
33,3%
0
0%
Kĩ năng phòng tránh đuối nước, tai nạn thương tích
Tổng số
học sinh
285
Kĩ năng tốt
Có hình thành kĩ
năng
Có hình thành kĩ năng
21
học sinh
SL
%
SL
%
285
245
86%
40
14%
Kĩ năng tham gia và tổ chức các hoạt động
Tổng số
học sinh
285
Về công tác Đội: Với Ban chỉ huy Chi đội năng động, nhiệt tình, với tinh
thần tự giác trách nhiệm ý thức cao cộng với sự rèn luyện tốt. Các em đã luôn
thực hiện và tham gia đầy đủ mọi phong trào của Hội đồng Đội, và Liên đội tổ
chức.
Mặt khác, khi vận dụng đề tài này vào thực tế đơn vị cũng đã thu hút được
sự quan tâm của các bậc cha mẹ học sinh cũng như của các đoàn thể xã hội khác
như đoàn thanh niên, hội phụ nữ…các hoạt động của nhà trường cũng đã thu hút
được các bậc cha mẹ học sinh cùng tham gia.
Qua thực tế việc áp dụng đề tài này vào đơn vị bản thân tôi nhận thấy đề
tài đã đem lại được những hiệu quả rất thiết thực, các biện pháp này có thể được
vận dụng một cách linh hoạt và đạt hiệu quả cao tại các trường tiểu học vùng
thuận lợi hơn.
22
Phần thứ ba: Kết luận, kiến nghị
I.Kết luận
Tăng cường kỹ năng sống cho học sinh trong giai đoạn hiện nay là vấn đề
rất cấp bách và cần thiết, việc rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh cần phải
được chú trọng trong các nhà trường. Nhà trường không chỉ là nơi giúp các em
lĩnh hội tri thức mà còn là nơi bồi dưỡng, rèn luyện các em giúp các em có đầy
đủ cả kiến thức lẫn kỹ năng cần thiết để trang bị cho các em trong cuộc
sống.Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua các hoạt động, để học sinh
tự cảm nhận, đánh giá, nhận xét qua các hành vi và từ đó hình thành các kỹ
năng; thực hiện sự phối hợp trong và ngoài nhà trường làm tốt công tác xã hội
hoá trong việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.Giáo dục kỹ năng sống trong
trường học góp phần rèn luyện, hình thành cho học sinh sống có trách nhiệm
hơn và biết lựa chọn cách ứng xử phù hợp, ứng phó các sức ép, thách thức trong
cuộc sống; thúc đẩy hành vi mang tính xã hội, giảm bớt tỷ lệ phạm pháp.
Tăng cường giáo dục kỹ năng sống còn tạo mối quan hệ thân thiện, cởi
hoạt động của các dịch vụ kinh doanh này. Tránh đ ể xảy ra tình tr ạng vi
phạm pháp luật với thiếu nhi trong địa phương. Có phương án để xây dựng
các điểm vui chơi cho thiếu nhi trong địa ph ương, giúp các em có n ơi sinh
hoạt lành mạnh, một biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho thi ếu nhi m ột
cách gián tiếp.
Đối với Nhà trường: cần thực hiện tốt sự chỉ đạo của cấp trên trong
việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Thực hiện tốt việc lồng ghép giáo
dục kỹ năng sống trong các môn học chính khóa. Giảng dạy theo quy đ ịnh
đối với các tiết học giáo dục kỹ năng sống trong ch ương trình.T ạo điều
kiện thuận lợi để giáo viên Tổng phụ trách Đội tổ ch ức các hoạt đ ộng
ngoài giờ lên lớp phù hợp với thực tế của nhà trường, phù h ợp v ới tâm lý
học sinh tại Liên đội. Thực hiện tốt các nội dung trong phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” với 5 n ội dung. Đối v ới
học sinh tiểu học quan trọng nhất là rèn cho các em những kỹ năng c ơ bản
như kỹ năng giao tiêp với thầy cô, cha mẹ, với bạn bè, kỹ năng trong vi ệc
chủ động học tập, giữ gìn sức khỏe, kỹ năng về sự chia sẻ... đ ể tạo tiền đề
tốt cho các em phát triển tương lai.
Đối với gia đình học sinh: Việc giáo dục nhân cách cho học sinh, c ụ
thể là giáo dục kỹ năng sống là một nhiệm vụ không ch ỉ của xã hội, nhà
trường mà quan trọng nữa là gia đình các em. Phụ huynh h ọc sinh c ần
quan tâm chặt chẽ đến hoạt động của các em, đ ến tâm lý c ủa các em. Các
bậc phụ huynh cần quan tâm gần gũi để hiểu các em. Chú ý đ ến các ho ạt
động hàng ngày của các em, cũng như tìm hiểu bạn bè các em là ai, m ối
quan hệ trong xã hội của con em mình như thế nào qua đó chung tay cùng
thầy cô, nhà trường và xã hội giáo dục con em mình phát tri ển nhân cách
một cách toàn diện, trở thành một người có ích cho xã hội.
Ea Bông, ngày 20 tháng 02 năm 2019
Người viết
24