1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Kĩ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng
xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực
trước các tình huống của cuộc sống.
Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn
tại và thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống
có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại... Kĩ năng sống đơn
giản là tất cả điều cần thiết mà chúng ta phải biết để có được khả năng thích ứng
với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống.
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học là một trong hai môn học chiếm nhiều
thời lượng và có vai trò quan trọng góp phần quyết định chất lượng giáo dục
toàn diện cho mỗi học sinh tiểu học. Chương trình và nội dung môn Tiếng Việt
ở tiểu học chứa đựng nhiều nội dung liên quan đến kĩ năng sống và có khả năng
tích hợp kĩ năng sống rất cao. Kĩ năng sống đặc thù thể hiện tính ưu thế của
môn Tiếng Việt là kĩ năng giao tiếp, sau đó là kĩ năng nhận thức bao gồm nhận
thức xung quanh, tự nhận thức, ra quyết định,... Vậy qua mỗi bài học của môn
Tiếng Việt học sinh sẽ có cơ hội hình thành, trau dồi và rèn luyện kĩ năng sống.
Khả năng giáo dục Kĩ năng sống của môn Tiếng Việt không chỉ thể hiện ở nội
dung môn học mà còn thể hiện qua PPDH của mỗi giáo viên. Để hình thành các
kiến thức và rèn luyện kĩ năng mà chương trình môn Tiếng Việt đặt ra với mỗi
học sinh tiểu học, người giáo viên cần phải vận dụng nhiều phương pháp dạy
học phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh. Thông qua các hoạt
động học tập, học sinh được trải nghiệm, rèn luyện kĩ năng hợp tác, bày tỏ ý
kiến cá nhân ...
Trong những năm học vừa qua việc giáo dục kĩ năng sống cho các em học
sinh tiểu học đã được chú trọng và bước đầu cũng đưa lại hiệu quả nhất định,
song không phải giáo viên nào cũng nhận thức được đúng đắn và sâu sắc về
điều đó, nhiều giáo viên còn cho rằng việc giáo dục kĩ năng sống là của môn
đạo đức hay chỉ chú trọng trang bị kiến thức mà xem nhẹ giáo dục kĩ năng sống.
Khi tổ chức thực hiện giáo dục kĩ năng sống qua môn Tiếng Việt thì lúng túng
học để cùng chung sống. Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ tức là xây dựng cho các
em tất cả những kĩ năng cần có để giúp các em học tập, làm việc có hiệu quả
hơn, sống tốt hơn.
Rèn luyện kỹ năng sống sẽ giúp trẻ nhanh chóng hoà nhập và khẳng định
vị trí của mình trong tập thể, mà xa hơn là một cộng đồng, xã hội. Do đó, cho
dù trẻ có tài giỏi, thông minh đến đâu nhưng thiếu kỹ năng sống, trẻ cũng không
thể tiếp cận với môi trường xung quanh, hòa nhập cũng như khẳng định mình.
Chính vì vậy, việc rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ là điều rất cần thiết. Việc
hình thành các kỹ năng cơ bản trong học tập và sinh hoạt là yếu tố quyết định
đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này của trẻ. Khi xảy ra vấn
đề nào đó, nếu không được trang bị kỹ năng sống, trẻ sẽ không đủ kiến thức để
xử lý các tình huống bất ngờ. Vì thế, rèn luyện kỹ năng sống sẽ giúp trẻ sớm có
ý thức làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho
chính mình cũng như xã hội.
Các em chính là những chủ nhân tương lai của đất nước, nếu không có Kĩ
năng sống, các em sẽ không thể thực hiện tốt trách nhiệm đối với người thân,
gia đình, cộng đồng và đất nước. KNS không chỉ quyết định sự sống còn của
con người mà cả sự thành công của người đó.
Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị về nhân cách,
những ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết
sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động…. Đặc
biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thi trường hiện nay, thế hệ trẻ
thường xuyên chịu nhiều tác động đan xen những yếu tố tích cực, tiêu cực luôn
đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó
khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực. Nếu không được giáo dục Kĩ năng
2
sống, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỷ,
lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách. Một trong những
đi làm ăn xa nên thiếu sự quan tâm dạy dỗ của bố mẹ. Đây chính là điều kiện
để các tệ nạn xã hội xâm nhập vào các em nếu không có sự quan tâm của gia
đình - nhà trường - xã hội.
3
Khảo sát thực tế
BẢNG KHẢO SÁT MỘT SỐ KĨ NĂNG SỐNG HỌC SINH LỚP 5B
ĐẦU NĂM HỌC 2017-2018
(Tổng số 37 HS)
Đối thoại tự
Đối thoại tự
Đối thoại
Đối thoại
nhiên, hoạt
nhiên, hoạt
đúng mục
chưa mạnh
bát, đúng
bát nhưng
đích, đúng
dạn, chưa tự
mục đích,
chưa đúng
đối tượng
nhiên, chưa
đúng đối
mục đích,
nhưng chưa
4 HS = 10,8%
=56,8%
Có khả năng tổ Biết lập kế
Biết lập kế
Chưa có khả
chức,lập kế
hoạch và phối hoạch
năng tổ
hoạch và phối hợp hoạt động nhưng chưa chức,chưa biết
hợp hoạt động nhưng khả
biết phối
lập kế hoạch
năng tổ chức hợp
còn hạn chế
Kĩ năng
đảm nhận
trách
4 HS= 10,8% 10 HS= 27% 20 HS =
3 HS = 8,1%
nhiệm
54,1%
Qua khảo sát thực tế học sinh lớp tôi phụ trách ở đầu năm học, bằng các
phương pháp phỏng vấn và điều tra, kết quả cho thấy những khả năng như: giao
tiếp, diễn đạt trước đám đông, tương trợ lẫn nhau trong hoạt động nhóm, đảm
nhận trách nhiệm của học sinh tương đối kém. Hầu hết các em rụt rè, xấu hổ khi
trình bày ý kiến về một vấn đề nào đó không rõ rang ấp úng, chưa biết tổ chức,
lập kế hoạch… Điều đó làm tôi trăn trở suy nghĩ làm thế nào để giúp các em có
kĩ năng sống để học tốt và thích ứng với cuộc sống.
2.3 Các giải pháp để giải quyết vấn đề.
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua môn Tiếng Việt không chỉ thể hiện
nhìn nhận, đánh giá đúng về bản thân; biết ứng xử phù hợp trong các mối quan
hệ; biết sống tích cực, chủ động trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.
- Nội dung giáo dục Kĩ năng sống được thể hiện ở tất cả các nội dung học
tập. Sách giáo khoa Tiếng Việt 5 có nhiều bài học mà tên gọi của nó đã nói rõ
mục tiêu của kĩ năng giao tiếp như: viết đơn, làm biên bản vụ việc, lập chương
trình hoạt động, thuyết trình tranh luận, Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham
gia. Nhiều bài tập đọc cung cấp những câu chuyện mà qua đó Học sinh rút ra
những nội dung rèn Kĩ năng sống như: Người gác rừng tí hon; Trí dũng song
toàn.
* Phân môn tập đọc:
Với phân môn tập đọc ngoài việc củng cố và nâng cao kĩ năng đọc cho học
sinh phân môn tập đọc còn mở rộng vốn hiểu biết, bồi dưỡng tư tưởng, tình
cảm, nhân cách cho học sinh. Nội dung những bài tập đọc trong sách giáo khoa
Tiếng Việt lớp 5 phản ánh một số vấn đề lớn đang đặt ra trước nhân dân ta và
toàn nhân loại thông qua ngôn ngữ văn học và những hình tượng giàu chất thẩm
mĩ và nhân văn, do đó có tác dụng mở rộng tầm hiểu biết, tầm nhìn về tự nhiên,
xã hội và đời sống, bồi dưỡng tư tưởng tình cảm và nhân cách cho học
sinh.Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 5 của môn tập đọc chiếm một
ưu thế quan trọng, mỗi bài văn, bài thơ,...đều chứa đựng những ý nghĩa nhân
5
văn sâu sắc. Bằng cách tổ chức và dẫn dắt khéo léo đầy tính sư phạm của giáo
viên các kĩ năng sống của các em sẽ được bồi dưỡng, hình thành và phát triển.
*Phân môn kể chuyện:
Phân môn kể chuyện với nhiệm vụ giúp củng cố cho các em kĩ năng kể
chuyện đã được hình thành ở các lớp dưới còn có một vai trò quan trọng nữa là
giúp học sinh mở rộng vốn hiểu biết và cũng góp phần hình thành nhân cách
của con người mới. Cùng với nôi dung học tập của các môn học học khác,
những câu chuyện học sinh được nghe, được đọc và được kể ở lớp 5 có tác
thông tin).
mẫu
2
làm báo cáo - Thuyết trình kết quả tự tin.
- Trao đổi trong tổ
thống kê
- Xác định giá trị
- Trình bày một
phút
Tập đọc:
- Xác định giá trị
- Thảo luận nhóm
4
Những con
- Thể hiện sự cảm thông (bày rỏ
- Hỏi đáp trước lớp
sếu bằng
sự chia sẻ, cảm thông với những
- Đóng vai xử lí
giấy
nạn nhân bị bom nguyên tử sát
tình huống
hại)
Kể chuyện: - Thể hiện sự cảm thông (cảm
Kể chuyện sáng
Tiếng vĩ cầm thông với những nạn nhân của vụ tạo
6
ở Mĩ Lai
- Ra quyết định (làm đơn trình
bày nguyện vọng).
- Thể hiện sự cảm thông (chia sẻ,
cảm thông với nỗi bất hạnh của
nạn nhân chất độc màu da cam).
- Thể hiện sự tự tin (nêu được
Tập làm
những lí lẽ, dẫn chứng cụ thể,
văn:
thuyết phục; diễn đạt gãy gọn,
Luyện tập
thái độ bình tĩnh, tự tin).
thuyết trình, - Lắng nghe tích cực (lắng nghe,
tranh luận
tôn trọng người cùng tranh luận).
- Hợp tác (hợp tác luyện tập
thuyết trình tranh luận).
- Thể hiện sự tự tin (nêu được
Tập làm
những lí lẽ, dẫn chứng cụ thể,
văn:
thuyết phục; diễn đạt gãy gọn,
Luyện tập
thái độ bình tĩnh, tự tin).
thuyết trình,
- Lắng nghe tích cực (lắng nghe,
tranh luận
tôn trọng người cùng tranh luận).
(tiếp)
- Hợp tác (hợp tác luyện tập
nhóm tổ
- Trình bày một
phút
Phân tích mẫu
- Rèn luyện theo
mẫu
- Tự bộc lộ
Phân tích mẫu
- Rèn luyện theo
mẫu
- Đóng vai
- Tự bộc lộ
- Đóng vai
- Tự bộc lộ
- Thảo luận nhóm
- Trao đổi nhóm
- Trình bày 1 phút
- Tự bộc lộ
- Trao đổi nhóm
7
13
Tập đọc:
Người gác
18
Tập làm
- Ra quyết định/giải quyết vấn đề
văn:
- Hợp tác (hợp tác hoàn thành
Luyện tập
biên bản cuộc họp)
làm biên bản
cuộc họp
- Ra quyết định/giải quyết vấn đề
Tập làm
- Hợp tác làm việc theo nhóm,
văn:
hoàn thành biên bản vụ việc
Làm biên
bản một vụ
việc
- Trao đổi nhóm
Phân tích mẫu
- Trao đổi nhóm
- Đóng vai (tưởng
tượng mình là bác
sĩ trực phiên cụ Ún
trốn viện, lập biên
bản vụ việc)
- Rèn luyện theo
thống kê
- Thu thập xử lí thông tin (lập
bảng thống kê theo yêu cầu cụ
thể).
- Kĩ năng hợp tác làm việc nhóm,
hoàn thành bảng thống kê
- Trao đổi nhóm
nhỏ
Ôn tập cuối - Thể hiện sự cảm thông.
HK I
- Đặt mục tiêu
(Tiết 5): Viết
thư
- Rèn luyện theo
mẫu
8
20
21
23
25
song toàn
- Tư duy sáng tạo
- Tự bộc lộ (bày tỏ
sự cảm phục Giang
Văn Minh; nhận
thức của mình)
- Hợp tác (ý thức tập thể, làm việc - Trao đổi cùng bạn
nhóm, hoàn thành chương trình
đê góp ý cho
Tập làm
hoạt động).
chương trình hoạt
văn:
- Thể hiện sự tự tin.
động (Mỗi HS tự
Lập chương
- Đảm nhận trách nhiệm.
viết)
trình hoạt
- Đối thoại (Với
động
các thuyết trình
viên về chương
trình đã lập)
- Hợp tác (ý thức tập thể, làm việc - Trao đổi cùng bạn
Tập làm
nhóm, hoàn thành chương trình
đê góp ý cho
văn:
hoạt động).
Tập viết
đoạn đối
thoại; phân
vai đọc, diễn
- Thể hiện sự tự tin(đối thoại tự
nhiên, hoạt bát, đúng mục đích,
đúng đối tượng và hoàn cảnh giao
tiếp).
- Kĩ năng hợp tác (hợp tác để
hoàn chỉnh màn kịch)
- Gợi tìm, kích
thích suy nghĩ sáng
tạo của HS.
- Trao đổi trong
nhóm nhỏ.
- Đóng vai
9
màn kịch
Tập đọc:
Một vụ đắm
tàu
29
30
nghĩa câu chuyện
Con gái
tính.
- Tự bộc lộ (HS
- Ra quyết định
suy nghĩ, tự rút ra
bài học cho mình)
Tập làm
- Thể hiện sự tự tin(đối thoại hoạt - Gợi tìm, kích
văn:
bát, tự nhiên, đúng mục đích,
thích suy nghĩ sáng
Tập viết
đúng đối tượng và hoàn cảnh giao tạo của HS
đoạn đối
tiếp).
- Trao đổi trong
thoại; phân
- Kĩ năng hợp tác có hiệu quả để
nhóm nhỏ
vai đọc, diễn hoàn chỉnh màn kịch.
- Đóng vai
màn kịch
- Tư duy sáng tạo.
Tập đọc:
Thuần phục
sư tử
Ôn tập cuối
ý nghĩa của các số
liệu
10
thống kê
Ôn tập cuối
HKII
(Tiết 4)
Viết biên
bản cuộc
họp
- Ra quyết định/giải quyết vấn đề.
- Xử lí thông tin
- Trao đổi cùng bạn
để góp ý cho biên
bản cuộc họp (mỗi
HS tự làm).
- Đóng vai
2.3.3 Nghiên cứu ki mục tiêu mỗi bài học.
Tôi luôn nghiên cứu kĩ mục tiêu bài học: Bài học cung cấp kiến thức gì,
hình thành kĩ năng gì cho học sinh và suy nghĩ để lựa chọn những kĩ năng phù
hợp, gần gũi thiết thực với học sinh. Các em có khả năng trực tiếp thực hành và
vận dụng sau khi tiếp cận.
2.3.4 Lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp nhất để đưa lại hiệu
quả cao cho việc rèn luyện ki năng sống.
Việc đổi mới phương pháp dạy học là điều kiện tất yếu quyết định hiệu quả
đường ngắn nhất mà lại đưa lại hiệu quả cao nhất cho việc giáo dục kĩ năng
sống cho các em.
2.3.7 Tổ chức thực hành ki năng sống.
Kĩ năng sống là điều không thể thiếu được của mỗi con người, việc thực
hành trải nghiệm kĩ năng sống là không thể thiếu được. Tùy vào mỗi bài mỗi kĩ
năng sống cần đạt mà tôi tổ chức cho các em trải nghiệm ngay tại lớp theo tình
huống khai thác của bài học hay để học sinh tự tìm ra hướng giải quyết vấn đề,
sau đó học sinh tự nêu kĩ năng mà các em ứng dụng để giải quyết vấn đề đó. Và
điều quan trọng hơn là kĩ năng sống cần phải được rèn luyện thường xuyên ở
mọi nơi, mọi lúc.Với thời lượng ít ỏi của mỗi tiết học thì không thể giúp các em
trải nghiệm được hết nên tôi luôn luôn phải có định hướng cụ thể để các em rèn
luyện thêm và rèn luyện thường xuyên. Chỉ có như vậy thì hiệu quả của việc rèn
luyện kĩ năng sống mới đạt được.
Một số bài học cụ thể có nội dung rèn luyện ki năng sống mà tôi đã vận
dụng dạy trên lớp.
Bài 1: Tập đọc: Tuần 4
Những con sếu bằng giấy (1 tiết)
I. Mục tiêu:
- Đọc trôi chảy, lưu loát toàn bài
- Đọc đúng tên người, tên địa lí nước ngoài (Xa-xa-cô Xa-xa-ki; Hi-rô-si- ma;
Na-ga-xa-ki). Bước đầu đọc diễn cảm bài văn.
- Hiểu ý chính: Tố cáo tội ác chiến tranh hạt nhân, thể hiện khát vọng
sống,khát vọng hòa bình của trẻ em (Trả lời được câu hỏi 1,2,3)
II. Các kĩ năng sống cơ bản được giáo dục trong bài
Kĩ năng xác định giá trị (nhận biết giá trị của hòa bình, sự an lành của cuộc
sống con người).
Thể hiện sự thông cảm (bày tỏ sự sẻ chia cảm thông với những nạn nhân bị
bom nguyên tử sát hại).
+ HS1: Xa-xa-cô ơi, tôi rất tiếc thương bạn và căm ghét chiến tranh đã làm bạn
phải chết.
+ HS2: Cái chết của bạn làm chúng tôi hiểu sự tàn bạo của chiến tranh.
+ HS3: Tượng đài này nhắc nhở chúng tôi phải đoàn kết chống lại những kẻ
thích chiến tranh.
+ HS4: Cái chết của bạn nhắc nhở chúng tôi phải biết yêu hòa bình, bảo vệ hòa
bình trên trái đất………
GV: Biết nói lời cảm thông chia sẻ, làm dịu nỗi đau của người khác là một
trong những kĩ năng giao tiếp rất cần thiết với con người. Lời cảm thông chia
sẻ cần được nói với thái độ chân thành, giọng trầm lắng, nghiêm trang.
* HS nói về ý nghĩa câu chuyện:
Tố cáo tội ác chiến tranh hạt nhân, thể hiện khát vọng sống, khát vọng hòa
bình cho trẻ em trên toàn thế giới.
Sau phần luyện đọc diễn cảm, tôi hướng dẫn các em áp dụng
+ Nêu cảm nghĩ của em qua bài tập này?
- HS nói về những gì các em học được qua giờ học: Bài học giúp em hiểu hậu
quả lâu dài của chiến tranh. Bài học giúp em biết một câu chuyện cảm động về
một nạn nhân của bom nguyên tử. Bài học giúp em có kĩ năng bày tỏ sự chia sẻ,
cảm thông với những người bị bất hạnh.
- GV nhận xét tiết học. Dặn HS về nhà tiếp tục luyện đọc; viết 1 đoạn thư ngắn
cho cô bé Xa-xa-cô, bày tỏ niềm thương tiếc Xa-xa-cô
Bài 2: Môn: Tập làm văn
Lập chương trình hoạt động (Tuần 25)
I. Mục tiêu:
- Bước đầu biết cách lập chương trình hoạt động cho buổi sinh hoạt tập thể
- Xây dựng được chương trình liên hoan văn nghệ của lớp chào mừng ngày 2011 (theo nhóm)
II. Rèn Kĩ năng sống:
- Đảm nhận trách nhiệm: có khả năng tổ chức, lập kế hoạch và phối hợp hoạt
động.
- Hợp tác có hiệu quả.
liên quan đến nhiều người đạt kết
quả tốt, các em cần phải lập chương
trình hoạt động nêu rõ mục đích, các
việc cần làm, thứ tự công việc, phân
công việc cho từng người…. làm
việc không có chương trình hoạt
động sẽ luộm thuộm, nhớ gì làm đấy,
vừa vất vả, vừa không đạt kết quả.
Lập chương trình hoạt động là một
KNS rất cần thiết, giúp con người có
khả năng tổ chức cộng việc. Bài học
hôm nay sẽ giúp các em rèn kĩ năng
quan trọng đó.
2. Kết nối
- 2 HS nối tiếp nhau đọc yêu cầu BT1.
Bài tập 1: (đọc câu chuyện “Một Cả lớp theo dõi trong SGK
buổi sinh hoạt tập thể, trả lời câu hỏi) - HS giải nghĩa từ ngữ “việc bếp núc”:
Việc chuẩn bị thức ăn nước uống, bát
đĩa…
- HS đọc thầm lại câu chuyện “Một
buổi sinh hoạt tập thể”, suy nghĩ, trả lời
câu hỏi trong SGK. GV hướng dẫn HS
lần lượt trả lời từng câu hỏi:
14
- Chúc mừng thầy cô giáo nhân ngày
+ Các bạn trong lớp buổi liên hoan Nhà giáo Việt Nam 20-11: bày tỏ lòng
văn nghệ nhằm mục đích gì?
biết ơn thầy cô.
III. Chương trình cụ thể
hơn.
GV: Để buổi liên hoan diễn ra tốt
đẹp như mẩu chuyện Một buổi sinh
hoạt tập thể, lớp trưởng Thủy Minh
đã cùng các bạn lập ra một chương
trình hoạt động cụ thể, khoa học, hợp
lí, huy động được khả năng của mọi
người. Các em sẽ lập lại chương
trình hoạt động đó ở BT2.
3. Thực hành:
- Một học sinh đọc yêu cầu BT2, cả lớp
Bài tập 2: (Giả sử em là lớp trưởng theo dõi SGK
trong câu chuyện trên, hãy lập - Một HS giải thích yêu cầu bài tập.
chương trình hoạt động của lớp để tổ BT2 yêu cầu mỗi bạn đặt vị trí mình là
chức buổi liên hoan văn nghệ…)
lớp trưởng Thủy Minh, dựa theo câu
* Giao nhiệm vụ:
chuyện Một buổi sinh hoạt tập thể kết
* Tổ chức cho HS làm việc
hợp với tưởng tượng và phỏng đoán
15
GV phát bút dạ và giấy cho từng
nhóm
GV lưu ý HS:
+ Mỗi nhóm có thể cùng lập chương
trình hoạt động với đủ 3 phần hoặc
chia nhỏ công việc thành 3 phần
cụ thể.
- HS tự lập nhóm (mỗi nhóm 3-4em)
- HS nêu tiêu chí chấm chương trình
hoạt động: Về nội dung: chương trình
hoạt động có đủ cấu trúc 3 phần, nội
dung hợp lí, khá chi tiết. Về hình thức:
chương trình hoạt động được báo cáo,
trình bày rõ rang, mạch lạc, người
thuyết trình tự tin…
- HS lập nhóm trọng tài gồm 3 HS
- Các đại diện tự gắn chương trình hoạt
động của nhóm mình lên bảng lớp,lần
lượt trình bày kết quả.
- Trọng tài mời các bạn trong lớp nêu
câu hỏi để trao đổi, đối thoại với đại
diện mỗi nhóm. Sau đó nêu nhận xét về
nội dung, cách trình bày chương trình
hoạt động của từng đại diện. Cuối cùng
cả lớp và GV thống nhất bình chọn:
+ Nhóm có chương trình hoạt động
khoa học, hợp lí nhất
+ Thuyết trình viên trình bày rõ
rang,mạch lạc, có phong cách tự tin và
đối thoại thuyết phục nhất.
- HS nhắc lại ích lợi của việc lập
16
4. Áp dụng
nhiên; Sau tiết học đó, vào ngày 20- 11, tôi- GV phụ trách lớp hài lòng vì các
em có một buổi liên hoan văn nghệ tại lớp đúng theo như “kịch bản” mà các em
đã lập vào tiết tập làm văn trước đó để chào mừng ngày 20-11.
2.4. Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm
2.4.1. Đối với hoạt động giáo dục với bản thân.
Khi áp dụng Sáng kiến kinh nghiệm vào các tiết dạy cụ thể, tôi nhận thấy
học sinh của mình hứng thú hơn. Đầu năm học, một số em rụt rè, ít nói, qua các
tiết dạy có lồng ghép Kĩ năng sống, đã dám thể hiện mình, biết hợp tác cùng các
bạn để hoàn thành công việc của nhóm (không như trước đây là các em này chỉ
ngồi không, chỉ những em giỏi hoặc em mạnh dạn tham gia); các em còn tự tin
trình bày câu chuyện, một vấn đề nào đó trước đám đông. Một điều đáng mừng
nữa là các em biết kiểm soát cảm xúc và không vô cảm như trước. Đa số các em
biết giao tiếp ứng xử phù hợp, linh hoạt trước các vấn đề của cuộc sống( qua
các câu chuyện kể, qua các bài tập đọc và tình huống thật trong cuộc sống). Các
em cũng có kĩ năng đảm nhận trách nhiệm: Dám nhận nhiệm vụ và thực hiện tốt
17
nhiệm vụ cô giáo hoặc các bạn giao. Các em thể hiện sự tự tin khi kể chuyện,
thuyết trình trước đám đông, giao tiếp linh hoạt làm cho các bạn thán phục, thầy
cô hài lòng. Qua quá trình học tập cả năm học, cuối năm học tôi cho học sinh
làm khảo sát, kết quả như sau:
KẾT QUẢ THỰC HIỆN MỘT SỐ KĨ NĂNG SỐNG HỌC SINH LỚP 5B
CUỐI NĂM HỌC 2017-2018
(Tổng số 37 HS)
Đối thoại tự
nhiên, hoạt
bát, đúng
mục đích,
Đối thoại đúng
mục đích,
đúng đối
tượng nhưng
chưa tự nhiên,
chưa tự tin
Đối thoại
chưa
mạnh dạn,
chưa tự
nhiên,
chưa đúng
mục đích,
chưa đúng
đối tượng
1 HS=
2,7%
Chưa biết
hợp tác
16 HS =43,3%
8 HS=21,6%
Biết hợp tác với
các bạn trong
nhóm nhưng
hiệu quả chưa
1 HS
=2,7%
0 HS = 0 %
2.4.2. Đối với đồng nghiệp và nhà trường.
18
Sau khi áp dụng Sáng kiến kinh nghiệm có hiệu quả ở lớp, tôi mạnh dạn
trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp trong tổ, nhóm trong các buổi sinh hoạt
chuyên môn và đề xuất với Ban giám hiệu nhà trường tăng cường chỉ đạo và dự
giờ các tiết học Tiếng Việt có lồng ghép Kĩ năng sống; cùng tham mưu với
chuyên môn xây dựng câu lạc bộ “Em yêu Tiếng Việt”, cuộc thi “Rung chuông
vàng” với nhiều hình thức và nội dung phong phú. Vì vậy các tiết dạy của đồng
nghiệp tôi cũng đạt kết quả cao và câu lạc bộ hoạt động đều đặn, hiệu quả.
3. Kết luận- kiến nghị
3.1 Kết luận
Để việc lồng ghép Kỹ năng sống trong các tiết dạy đạt hiệu quả, bài học
kinh nghiệm tôi rút ra là:
- Giáo viên phải nghiên cứu kĩ bài dạy trước khi đến lớp. Trong tiết dạy
cần lồng ghép hài hòa việc hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh tri thức với việc hình
thành KNS, không xem nhẹ kiến thức cũng không xem nhẹ kĩ năng sống.
- Giáo viên phải tâm huyết với nghề, tận tụy với HS, thật sự mong muốn
cho HS có những kiến thức và kĩ năng cần thiết để hình thành và phát triển
nhân cách.
- Giáo viên phải là tấm gương sáng trong ứng xử, giáo dục nhân cách,
cung cấp những kĩ năng sống thực tế mà mình đã trải qua. Việc giáo dục này có
thể bằng những nội dung trong giáo án hoặc bằng nội dung ngoài giáo án.
Người viết
........................................................
.........................................................
Trịnh Thị Huyền
Mục lục
20
TT
1
Nội dung
Trang
Mở đầu
1.1
Lí do chọn đề tài
1
1.2
Mục
đích nghiên
2.2
Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng Sáng kiến kinh
nghiệm
3
2.3
Các giải pháp để giải quyết vấn đề.
4
2.4
Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục , với
MỘT
SỐ
NGHIỆM
bản thân, đồng
nghiệp
vàKINH
nhà trường
18
3.1
Kết luận