“Một số kinh nghiệm trong công tác giảng dạy nhằm gây hứng thú học tập môn Hóa học 9”
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định: Giáo
dục quốc dân nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ
nghĩa của thế hệ trẻ. Trong đó, phát triển giáo dục và đào tạo phải tuân theo nguyên lý:
Học đi đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất, lí luận phải gắn liền với
thực tiễn, giáo dục nhà trường phải kết hợp với giáo dục xã hội.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân thì môn Hóa học là bộ môn khoa học thực
nghiệm chuyên nghiên cứu các chất, sự biến đổi và ứng dụng của chúng.
Qua thực tế giảng dạy bộ môn Hóa học cấp trung học cơ sở tôi nhận thấy phần lớn
học sinh đều cho rằng các bộ môn thuộc khoa học tự nhiên trong đó có bộ môn Hóa học
thường khô khan, khó hiểu. Điều này đã gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến việc nâng cao
chất lượng dạy và học bộ môn. Một thực trạng thường thấy ở học sinh, đặc biệt là những
học sinh có học lực từ trung bình trở xuống thường rất khó tập trung trong giờ học bộ
môn. Vấn đề đặt ra là bản thân mỗi giáo viên cần phải không ngừng học hỏi, tìm tòi các
phương pháp, cách thức để có thể khơi dậy sự hứng thú cũng như sự nhiệt tình học tập
của học sinh, nếu không sẽ dẫn đến tiết học trở nên nhàm chán, khó thành công.
Những tình huống diễn ra trong thực tiễn là những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống
hằng ngày của con người, rất gần gũi và thân quen đối với chúng ta cũng như đối với các
em học sinh. Việc sử dụng các tình huống thực tế, những bài thơ, những câu chuyện hay
những thí nghiệm vui về hóa học... sẽ tạo cho các em một tâm thế học tập tốt, sự thích
thú, muốn khám phá ra những kiến thức để lí giải những vấn đề đó. Từ đó yêu thích môn
học hơn, chất lượng bộ môn được nâng cao hơn.
Trong đề tài này đối tượng nghiên cứu là một số kinh nghiệm trong công tác giảng
dạy nhằm gây hứng thú học tập ở môn Hóa học 9.
Phạm vi nghiên cứu học sinh khối 9 từ năm học 2017 – 2018 đến nay ở trường
THCS Nguyễn Trãi - Huyện Krông Ana - Tỉnh Đăk Lăk.
Từ những lí do trên cùng với những kinh nghiệm có được qua nhiều năm giảng dạy
tại trường Trung học cơ sở Nguyễn Trãi cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô, đồng
nghiệp ...tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm của bản thân tích lũy được trong quá
sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình
và giáo dục xã hội; phương pháp giáo dục phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ
động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, kỹ năng
thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên…”
Như chúng ta đã biết hứng thú là một thuộc tính tâm lí mang tính đặc thù cá nhân.
Hứng thú có tính lựa chọn. Đối tượng của hứng thú chỉ là những cái cần thiết, có giá trị,
có sức hấp dẫn với cá nhân. Vậy vấn đề gì thu hút sự quan tâm, chú ý tìm hiểu của các
em? Trả lời được câu hỏi này nghĩa là người giáo viên đã sống cùng với đời sống tinh
thần của các em, biến đổi những nhiệm vụ học tập khô khan phù hợp với những mong
muốn, nhu cầu, sở thích, nguyện vọng (tất nhiên là phải tích cực, chính đáng) của học
sinh. Hứng thú học tập trước hết được tạo ra bằng cách làm cho học sinh ý thức được lợi
ích của việc học để tạo động cơ học tập. Mục tiêu này có thể được trình bày một cách
tường minh ngay trong tài liệu học tập hoặc có thể trình bày thông qua các tình huống
dạy học cụ thể. Với mỗi bài học cụ thể, giáo viên cần giúp cho học sinh nhận ra tính lợi
ích của một nội dung nào đó. Các hiện tượng thường xuyên diễn ra trong đời sống hàng
ngày, nhiều khi các em nhìn thấy nhưng không thể giải thích được các hiện tượng đó.
Chúng ta hãy tạo cho các em các tình huống vấn đề liên quan thực tế cuộc sống trong bài
dạy để các em thấy được môn Hóa học rất gần gũi với các em. Ví dụ như: “Vì sao khi
cơm bị khê người ta thường cho vào nồi cơm một mẩu than củi?” hoặc “Vì sao nước mắt
lại mặn?”…Nói như vậy tức là chúng ta bằng nhiều cách khác nhau phải cho học sinh
thấy rằng môn hóa không khô khan, cứng nhắc như các em nghĩ.
Theo công văn hướng dẫn nhiệm vụ và các biện pháp thực hiện trong năm học
2016-2017 của phòng giáo dục huyện Krông Ana đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới phương
pháp dạy và học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, rèn luyện phương pháp
tự học và vận dụng kiến thức, kỹ năng của học sinh của học sinh theo tinh thần của công
văn 3535/BGDĐT-GDTrH ngày 27/5/2013 về áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”
và các phương pháp dạy học tích cực khác. Đẩy mạnh việc vận dụng dạy học giải quyết
vấn đề, các phương pháp thực hành, dạy học theo dự án trong các môn học; tích cực ứng
dụng công nghệ thông tin phù hợp với nội dung bài học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt
một chiều, ghi nhớ máy móc; tập trung dạy cách học, cách nghĩ, phương pháp tự học; bảo
thực tiễn, từ đó các em cảm thấy môn Hóa học trở nên gần gũi hơn, các em yêu thích
môn học hơn và chất lượng bộ môn cũng được nâng cao.
2. Thực trạng
Phương pháp dạy học truyền thống là phương pháp dạy học mà nhiều giáo viên
thường sử dụng trong những năm qua. Ở phương pháp này chủ yếu là hoạt động của giáo
viên trong đó: giáo viên tổ chức các hoạt động dạy học cũng như cung cấp các nội dung
kiến thức như trình tự có trong sách giáo khoa. Phương pháp này có ưu điểm là học sinh
nắm được nội dung kiến thức của bài, ngay trong tiết học học sinh có thể trả lời được
những câu hỏi liên quan có trong sách giáo khoa. Tuy nhiên, khi dạy học theo phương
pháp này vẫn còn nhiều hạn chế như: Học sinh học bài còn mang tính chất học vẹt, các
em tiếp thu bài một cách thụ động nên không nắm được nội dung kiến thức trọng tâm dẫn
đến rất nhanh quên, bên cạnh đó khả năng tư duy còn hạn chế, khả năng vận dụng các
kiến thức bộ môn vào thực tiễn còn kém, điều này thể hiện qua kết quả ở các bài kiểm tra
của các em còn thấp, khi gặp các vấn đề thực tiễn có liên quan đến kiến thức của môn
học các em còn lúng túng hoặc không giải đáp được.
Ở lứa tuổi trung học cơ sở, các em học sinh có sự phát triển mạnh mẽ về tâm sinh lí,
các em rất tò mò, muốn tìm hiểu cũng như giải đáp được những vấn đề nảy sinh trong
cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy nhiều giáo viên ít chú trọng đến
việc đưa các vấn đề thực tế vào trong giảng dạy. Điều này đã làm cho các em cảm thấy
các kiến thức của môn học trở nên khô khan, xa lạ …từ đó các em ít hứng thú hơn đối
với môn học. Mặt khác, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin các em học sinh
có rất nhiều các sân chơi khác như: Facebook, Zalo, Zing Me, Game online…điều này đã
gây nên ảnh hưởng rất lớn đến các em, sự tập trung cũng như sự hứng thú học tập của các
em ngày càng bị giảm sút, các em học tập rất thụ động, không nắm được kiến thức trọng
tâm. Vì vậy, chất lượng học tập bộ môn vẫn còn thấp.
Kinh tế của nhiều gia đình học sinh còn rất khó khăn nên nhiều phụ huynh ít quan
tâm đến việc học tập của con em mình, bên cạnh đó khi đến lớp các em không nắm được
Người viết: Hoàng Thị Năm
6
8
10
2
9A4
25
0
2
9
12
2
9A5
23
1
5
35
8
3,6%
20,9%
36,4%
31,8%
7,3%
Tỉ lệ
2018 – 2019
Yếu
Kém
9A3
30
1
6
7
1
9A6
35
6
11
10
6
2
Tổng cộng
124
11
32
40
35
Trang 4
Trường THCS Nguyễn Trãi
“Một số kinh nghiệm trong công tác giảng dạy nhằm gây hứng thú học tập môn Hóa học 9”
vệ môi trường, biết chăm sóc, bảo vệ sức khỏe con người và giáo dục đạo đức lối sống
cho các em học sinh.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp
Trước những thực trạng trên, bản thân tôi đã mạnh dạn đưa ra các giải pháp đã rút ra
được từ nhiều năm giảng dạy tại trường Trung học cơ sở Nguyễn Trãi. Nhằm mục đích
trao đổi với đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường để cùng nhau tháo gỡ những mặt còn
hạn chế của công tác giảng dạy bộ môn Hóa học nói chung và bộ môn Hóa học 9 nói
riêng trong trường học. Từng bước đưa chất lượng bộ môn ngày càng đi lên, góp phần
nâng cao hiệu quả giáo dục.
Trong quá trình giảng dạy môn Hóa học 9 ở trường THCS Nguyễn Trãi tôi đã tìm
tòi, sưu tầm và đúc kết được một kinh nghiệm và đã sử dụng trong giảng dạy trong môn
Hóa học 9 và bước đầu đã mang lại hiệu quả. Tôi xin mạnh dạn đưa ra đây để cùng trao
đổi với bạn bè đồng nghiệp.
Giải pháp 1: Sử dụng các tình huống thực tế trong giảng dạy:
Chúng ta luôn thích tìm hiểu những điều mới lạ vì nó đem lại cho chúng ta những
thông tin bổ ích, thú vị, biết thêm những thông tin mới lạ của thế giới xung quanh là nhu
cầu không thể thiếu giúp chúng ta tồn tại và phát triển. Khi được cung cấp những thông
tin thực tế, các em học sinh sẽ quan tâm và hứng thú tìm hiểu sự việc đó. Việc giáo viên
khai thác, cung cấp những kiến thức mới lạ về hóa học sẽ giúp các em hiểu rõ tầm quan
trọng của hóa học đối với đời sống và sản xuất.
Khi dạy bài 2: Một số Oxit quan trọng
Giáo viên đặt câu hỏi khi vào bài nhằm kích thích tính tò mò của học sinh như: Tại
sao khi cho vôi sống vào nước, ta thấy khói bốc lên mù mịt, nước vôi như bị sôi lên và
Axit H2SO4 và HNO3 tan vào nước mưa tạo ra mưa axit.
Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm ở một số nơi trên thế giới nhưở các khu vực
công nghiệp châu Âu hay ở Bắc Mỹ. Mưa axit làm hư hỏng các tượng đài làm từ đá cẩm
thạch, đá vôi, đá phiến (các loại đá này thành phần chính là CaCO3):
CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + CO2↑ + H2O
CaCO3 + 2HNO3 → Ca(NO3)2 + CO2↑ + H2O
Ngày nay hiện tượng mưa axit và những tác hại của nó đă gây nên những hậu quả
nghiêm trọng, đặc biệt là ở những nước công nghiệp phát triển. Vấn đề ô nhiễm môi
trường luôn được cả thế giới quan tâm. Việt Nam chúng ta đang rất chú trọng đến vấn đề
này. Do vậy mà giáo viên phải cung cấp cho học sinh những hiểu biết về hiện tượng mưa
axit cũng như tác hại của nó nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.
Khi dạy bài 4: Một số Axit quan trọng
Khi học xong phần ứng dụng giáo viên đặt câu hỏi: Em có biết Axit clohiđric có
vai trò như thế nào đối với cơ thể ?
Học sinh thảo luận theo nhóm và trả lời. Sau đó giáo viên nhận xét và bổ sung.
Giải thích:
Axit clohiđric có vai trò rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất của cơ thể.
Trong dịch dạ dày của người có axit clohiđric với nồng độ khoảng chừng 0,0001 đến
0,001 mol/l (có độ pH tương ứng với là 4 và 3). Ngoài việc hòa tan các muối khó tan, nó
còn là chất xúc tác cho các phản ứng phân hủy các chất gluxit (chất đường, bột) và chất
protein (đạm) thành các chất đơn giản hơn để cơ thể có thể hấp thụ được.
Lượng axit trong dịch dạ dày nhỏ hơn hay lớn hơn mức bình thường đều gây bệnh
cho người. Khi trong dịch dạ dày có nồng độ axit nhỏ hơn 0,0001 mol/l (pH>4,5) người
ta mắc bệnh khó tiêu, ngược lại nồng độ axit lớn hơn 0,001 mol/l (pH
Khi dạy bài 10: Một số muối quan trọng.
Sau khi học xong bài giáo viên đặt câu hỏi: Vì sao nước mắt lại mặn ?
Học sinh khá hứng thú và tò mò với câu hỏi trên.
Giải thích:
Nước mắt mặn vì trong nước mắt có tới 6 gam muối. Nước mắt sinh ra từ tuyến lệ
nằm phía trên mi ngoài của nhãn cầu. Nước mắt có tác dụng bôi trơn nhãn cầu làm cho
nhãn cầu không bị khô, bị xước và vì có muối nên còn có tác dụng hạn chế bớt sự phát
triển của vi khuẩn trong mắt.
Khi dạy bài 16: Tính chất hóa học của kim loại
Sau khi học xong bài giáo viên đặt câu hỏi: Vì sao ta hay dùng bạc để “đánh gió”
khi bị bệnh cảm ?
Giải thích:
Khi bị bệnh cảm, trong cơ thể con người sẽ tích tụ một lượng khí H 2S tương đối
cao. Chính lượng H2S sẽ làm cho cơ thể mệt mỏi. Khi ta dùng Ag để đánh gió thì Ag sẽ
tác dụng với khí H2S. Do đó, lượng H2S trong cơ thể giảm và dần sẽ hết bệnh. Miếng Ag
sau khi đánh gió sẽ có màu đen xám:
4Ag + 2H2S + O2 → 2Ag2S↓ + 2H2O
(đen)
Hiện tượng “đánh gió” đã được ông bà ta sử dụng từ rất xa xưa cho đến tận bây giờ
để chữa bệnh cảm. Cách làm này rất có cơ sở khoa học mà mọi người cần phải biết.
Khi dạy bài 25: Tính chất của phi kim.
Người viết: Hoàng Thị Năm
Trang 7
Trường THCS Nguyễn Trãi
“Một số kinh nghiệm trong công tác giảng dạy nhằm gây hứng thú học tập môn Hóa học 9”
Sau khi học xong bài giáo viên đặt câu hỏi: Các em có biết hiện tượng“Ma trơi” là
“Một số kinh nghiệm trong công tác giảng dạy nhằm gây hứng thú học tập môn Hóa học 9”
Ở các vùng núi đá vôi, thành phần chủ yếu là CaCO 3. Khi trời mưa trong không khí
có CO2 tạo thành môi trường axit nên làm tan được đá vôi. Những giọt mưa rơi xuống sẽ
bào mòn đá thành những hình dạng đa dạng:
CaCO3 + CO2 + H2O Ca(HCO3)2
Theo thời gian tạo thành các hang động. Khi nước có chứa Ca(HCO 3)2 ở đá thay đổi
về nhiệt độ và áp suất nên khi giọt nước nhỏ từ từ có cân bằng:
Ca(HCO3)2 CaCO3 + CO2 + H2O
Như vậy lớp CaCO3 dần dần lưu lại ngày càng nhiều, dày tạo thành những hình thù
đa dạng.Đây là một hiện tượng thường gặp trong các hang động núi đá, cụ thể là Phong
Nha Kẻ Bàng (Quảng Bình). Học sinh sẽ biết được quá trình hình thành các hang động
với những hình dạng phong phú là do thiên nhiên kiến tạo dựa trên các quá trình biến đổi
hóa học.
Khi dạy bài 36: Metan
Sau khi học xong phần I giáo viên đặt câu hỏi: Vì sao có khí metan thoát ra từ
ruộng lúa hoặc các ao (hồ)?
Giải thích:
Trong ruộng lúa, ao (hồ) thường chứa các vật thể hữu cơ. Khi các vật thể này thối
rữa (hay quá trình phân hủy các vật thể hữu cơ) sinh ra khí metan. Người ta ước chừng
1/7 lượng khí metan thoát vào khí quyển hàng năm là từ các hoạt động cày cấy.
Lợi dụng hiện tượng này người ta đã làm các hầm bioga trong chăn nuôi heo tạo khí
metan để sử dụng đun nấu hay chạy máy …Đây là hiện tượng thường gặp và là cơ sở
giải quyết các vấn đề về môi trường ở các địa phương chăn nuôi nhỏ lẻ học sinh cần nắm.
Khi dạy bài 41: Nhiên liệu
Sau khi học xong bài giáo viên đặt câu hỏi: Vì sao đốt xăng, cồn thì cháy hết sạch,
còn khi đốt gỗ, than đá lại còn tro?
Giải thích:
Khi dạy bài 52: Tinh bột
Khi dạy xong phần phản ứng thủy phân của tinh bột giáo viên đặt câu hỏi: Tại sao
khi ăn cơm nhai kỹ sẽ thấy vị ngọt?
Giải thích:
Cơm chứa một lượng lớn tinh bột, khi ăn cơm trong tuyến nước bọt của người có các
enzim. Khi nhai kỹ trộn đều, tuyến nước bọt làm tăng cơ hội chuyển hoá một lượng tinh bột
theo phản ứng thuỷ phân thành mantozơ, glucozơ gây ngọt theo sơ đồ:
amilaza . H O
mantaza . H O
� C12H22O11 �����
� C6H12O6
(C6H10O5)n �����
2
(Tinh bột)
2
(Mantozơ)
(Glucozơ)
Học sinh cũng có thể kiểm nghiệm được trong khi ăn, các em tỏ ra khá tò mò và
thích thú.
Khi dạy bài 53: Protein
Sau khi dạy xong phần sự đông tụ giáo viên củng cố bằng câu hỏi: Em có biết vì sao
khi nấu canh cua thì có gạch cua nổi lên? Khi nấu trứng thì lòng trắng trứng kết tủa lại?
Giải thích:
Vì trong những trường hợp đó có xảy ra sự kết tủa protit bằng nhiệt, gọi là sự đông
tụ. Một số protit tan trong nước tạo thành dung dịch keo, khi đun nóng sẽ bị kết tủa.
mê và hứng thú học tập.
Khi dạy bài 7: Tính chất hóa học của bazơ
Sau khi dạy xong bài giáo viên có thể tiến hành thí nghiện vui để học sinh quan sát,
sau đó yêu cầu các em giải thích về hiện tượng mà các em quan sát được.
Hoa trắng hóa hồng
Giáo viên chuẩn bị sẵn một bó hoa gấp gằng giấy ăn màu trắng có tẩm dung dịch
NaOH đã được phơi khô và một bình nước dùng để xịt giáo viên cho học sinh quan sát,
sau đó dùng bình xịt nước, xịt lên hoa lập tức những cánh hoa màu trắng chuyển thành
màu hồng và yêu cầu học sinh giải thích hiện tượng trên.
Học sinh tỏ ra vô cùng thích thú với hiện tượng mà các em quan sát được.
Giải thích:
Hoa có tẩm dung dịch NaOH và trong bình xịt nước có chứa dung dịch
phenolphtalein nên làm cho hoa chuyển màu từ trắng sang hồng.
Khi dạy bài 4: Một số Axit quan trọng
Khi dạy xong bài giáo viên làm 1 thí nghiệm:
Những chiếc cốc “thần”
Giáo viên bày hàng loạt những chiếc cốc không lên bàn và tuyên bố đó là những
chiếc cốc có phép thần ( ở đáy mỗi cốc cho sẵn một ít hỗn hợp sền sệt của KMnO 4 và
H2SO4 đậm đặc với 1lương nhỏ nên học sinh không nhìn thấy) Sau đó lần lượt ném các
mẩu bông nhỏ( có tẩm cồn) vào các cốc trên, các mẩu bông sẽ tự bốc cháy.
Người viết: Hoàng Thị Năm
Trang 11
Trường THCS Nguyễn Trãi
“Một số kinh nghiệm trong công tác giảng dạy nhằm gây hứng thú học tập môn Hóa học 9”
Giải thích:
Khi trộn KMnO4 với H2SO4 đậm đặc sẽ sinh ra HMnO4:
phản ứng cũng làm nhiệt độ dung dịch tăng lên dần và nước bay hơi mù mịt càng làm cho
hiện tượng xảy ra giống hệt như nước đang sôi.
Học sinh tỏ ra khá thích thú với hiện tượng mà các em quan sát được.
Khi dạy bài 38: Axetilen
Đốt nước đá cháy
Người viết: Hoàng Thị Năm
Trang 12
Trường THCS Nguyễn Trãi
“Một số kinh nghiệm trong công tác giảng dạy nhằm gây hứng thú học tập môn Hóa học 9”
Lấy 1 nắm nước đá bỏ vào ống bơ thấp và rộng miệng rồi bật diêm đốt trên miệng
ống bơ. Thật kì lạ ! Nước đá bốc cháy.
Giải thích:
Trong ống bơ đã đặt sẵn mẩu CaC 2. Khi bỏ nước đá vào, CaC2 sẽ tác dụng với
nước, Giải phóng khí C2H2.
CaC2 + H2O C2H2 + Ca(OH)2
Khí C2H2 thoát lên mặt nước đá, khi đốt nó sẽ cháy giống hệt nước đá đang cháy
vậy.
2C2H2 + 5O24CO2 + 2H2O
Sau khi học xong bài giáo viên tiến hành thí nghiệm sau để học sinh vận dụng kiến
thức vừa học vào giải thích hiện tượng mà các em quan sát được.
Giải pháp 3: Sử dụng những câu chuyện và thơ hóa học để tạo hứng thú cho
hoc sinh
Thơ về hóa học sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh có nhịp điệu, vần điệu nên nội
dung được truyền tải đến học sinh hết sức nhẹ nhàng, ý nhị. Hóa học là môn khoa học tự
nhiên nên những kiến thức hóa học đơn thuần sẽ rất cứng nhắc, khô khan. Vì thế học sinh
Là hóa trị IV Không ngày nào quên
Sắt kia lắm lúc hay phiền
II, III lên xuống thật phiền lắm thôi
Lưu huỳnh lắm lúc chơi khăm
Xuống II lên VI khi nằm thứ IV
Nitơ cùng với Phốtpho,
Hóa trị V đó còn lo điều gì
Em ơi cố gắng học chăm
Bài ca hóa trị suốt năm cần dùng.
Khi dạy bài 2: Một số oxit quan trọng
Khi học xong bài giáo viên kể cho học sinh nghe 1 câu chuyện:
“Màn khói giết người” đã xảy ra ở đâu?
Ngày 5 tháng 12 năm 1952, nước Anh (nước được mệnh danh là xứ sở của sương
mù) tại Luân Đôn đã xảy ra sự kiện “màn khói giết người” làm chấn động thế giới. Việc
giám sát môi trường cho thấy hàm lượng khí SO 2 cao tới 3,8 mg/m3, gấp 6 lần và nồng độ
bụi khói lên tới 4,5mg/m3 gấp 10 lần so với ngày thường. Dân trong thành phố thấy tức
ngực, khó thở và ho liên tục. Chỉ trong vòng 4, 5 ngày đã có hơn 4000 người chết trong
đó phần lớn là trẻ em và người già, hai tháng sau lại có trên 8000 người nữa chết.
Nguyên nhân của “màn khói giết người” ở thành phố Luân Đôn là do khói than
(SO2, bụi …) của các nhà máy quyện vào với sương mù buổi sớm mùa đông gây ra.
Khi dạy bài 9: Tính chất hóa học của muối
Khi dạy xong phần phản ứng trao đổi trong dung dịch điều kiện để xảy ra phản ứng
trao đổi là sản phẩm tạo thành có chất không tan hoặc chất khí. Để học tốt được phần này
học sinh cần nhớ các chất kết tủa, chất tan, chất khí nên tôi đã đưa ra cho các em bài thơ
về tính tan của các muối.
Tính tan của muối
Người viết: Hoàng Thị Năm
Trang 14
Tùy điều kiện dung dịch
Còn làm sắt trơ ra.
Đáp án: H2SO4 đặc nóng
3. Axit gì không bền
Có tên, không thấy mặt
Điều chế muối cho kiềm
Cùng oxit tương tác.
Đáp án: H2CO3
4. Muối gì dùng tẩy trắng
Mang nặng mùi clo
Bảo quản nơi râm mát
Mong bạn hãy nhớ cho?
Đáp án: NaClO
5.Muối gì ở dạng quặng
Công dụng chẳng gì bằng
Xây nên nhà ta ở
Người viết: Hoàng Thị Năm
Trang 15
Trường THCS Nguyễn Trãi
“Một số kinh nghiệm trong công tác giảng dạy nhằm gây hứng thú học tập môn Hóa học 9”
Và sản xuất xi măng
Đáp án: CaCO3
6.Muối gì làm thuốc súng
Sức công phá phi thường
Nhưng các bà nội trợ
Lại dùng làm lạp xưởng
hối, cơ thể co giật dữ dội, miệng ứa ra một chất dịch màu vàng nhạt. Kết quả là tuyến
phòng thủ của quân Pháp bị phá vỡ và khí clo đã giết chết 3000 người và làm 7000 người
bị thương.
Người viết: Hoàng Thị Năm
Trang 16
Trường THCS Nguyễn Trãi
“Một số kinh nghiệm trong công tác giảng dạy nhằm gây hứng thú học tập môn Hóa học 9”
Khi dạy bài 31: Sơ lược bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
Trước khi vào bài giáo viên kể cho học sinh nghe câu chuyện liên quan đến nhà
khoa học phát hiện ra bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học qua giấc mơ.
Phát hiện ra bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
Chắc hẳn nhiều người đều biết rằng, Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học được
tạo ra bởi nhà khoa học người Nga Dmitri Mendeleev. Tuy nhiên, không phải ai cũng
biết, ông đã phải vật lộn như thế nào để có thể tạo ra và sắp xếp được trật tự của Bảng
tuần hoàn đó.
Sau khi xuất hiện những ý tưởng đầu tiên về các nguyên tố hóa học, vào năm
1869, Mendeleev đã sử dụng cách viết tên của các nguyên tố lên các tấm thẻ (mỗi nguyên
tố một thẻ) và có đi kèm cả các tính chất của từng yếu tố trên những tấm thẻ riêng.
Ông thấy rằng, khối lượng của nguyên tử đóng vai trò khá quan trọng trong Bảng
tuần hoàn, nhưng thực sự ông không thể tìm ra được dạng sắp xếp nó. Tin tưởng rằng gần
như đã khám phá ra được một điều gì đó quan trọng, Mendeleev đã di chuyển các tấm thẻ
nhiều giờ liên tục cho tới khi ông ngủ thiếp đi lúc nào không biết.
Kết quả khá bất ngờ khi lúc Mendeleev tỉnh dậy, mọi thứ gần như đã được sắp xếp
đâu vào đó trong đầu ông. Mendeleev tin tưởng rằng, tâm trí tiềm thức đã giúp ông hoàn
thành tất cả mọi thứ.
Khi dạy bài 42: Luyện tập chương 4
Giáo viên kiểm tra bài cũ trong giờ luyện tập bằng 1 số câu đố.
1.Khí gì mà phân tử
Có một liên kết đôi
Một chút dùng kích thích
Quả xanh đã chín rồi
Đáp án: C2H4
2.Khí gì đem phơi nắng
Cùng một lượng Clo
Phản ứng xảy ra mạnh
Kèm theo tiếng nổ to.
Đáp án: CH4
Giải pháp 4: Tổ chức chương trình ngoại khóa “ Hóa học vui”
Sau khi học xong chương 3 chương trình Hóa học lớp 9 tôi mạnh dạn đề xuất với
nhà trường 1 buổi ngoại khóa dành cho học sinh khối 9, Chia ra làm 3 đội, mỗi đội gồm 5
thành viên.
Chương trình tổ chức như sau: Gồm 5 phần
1/Khởi động: Trong phần thi khởi động các đội sẽ trả lời nhanh 6 câu hỏi thuộc các
bộ môn Hóa học. Thời gian suy nghĩ cho mỗi câu hỏi là 5 giây, trả lời đúng ghi được 10
điểm.
2/ Vượt chướng ngại vật ( Trò chơi Ô chữ )
Người viết: Hoàng Thị Năm
Trang 18
Trường THCS Nguyễn Trãi
“Một số kinh nghiệm trong công tác giảng dạy nhằm gây hứng thú học tập môn Hóa học 9”
Ô chữ trong phần thi này gồm có 9 hàng ngang tương ứng với 9 câu hỏi, mỗi đội
nhiệt độ cao.
Câu 5: Em có thể dùng chất nào để phân biệt NaOH và Ca(OH)2
Đáp án: CO2
Câu 6: Kim loại nào dùng để làm vỏ máy bay?
Đáp án: Al
Đội 2:
Người viết: Hoàng Thị Năm
Trang 19
Trường THCS Nguyễn Trãi
“Một số kinh nghiệm trong công tác giảng dạy nhằm gây hứng thú học tập môn Hóa học 9”
Câu 1: Chất khí nào là thành phần chính của khí thiên nhiên?
Đáp án: CH4
Câu 2: Điện phân dung dịch muối ăn bão hòa có màng ngăn ta điều chế được
những chất nào?
Đáp án: Dung dịch NaOH, Cl , H
2 2
Câu 3: Nguyên tố nào sau đây chủ yếu cấu tạo nên xương?
Đáp án: Ca
Câu 4: Trong phân dơi có chứa muối nào nhiều nhất?
Đáp án: KNO3
Câu 5: Có ánh kim, dẫn điện, dẫn nhiệt tốt là tính chất đặc trưng của đơn chất nào?
Đáp án: Kim loại
Câu 6: Chất nào sau đây làm mất màu dung dịch Brom ở điều kiện thường: CH 4,
C3H6, C6H6?
Đáp án: C3H6
Đội 3:
học?
( HỢP CHẤT )
Câu 5: ( 5 chữ cái ) Tên kim loại có nguyên tử khối là 119?
( THIẾC)
Câu 6: ( 3 chữ cái ) Đây là chất khí có mầu vàng lục, mùi hắc, nặng gấp 2,5 lần
không khí?
( CLO )
Câu 7: ( 7 chữ cái ) Là nguyên tố kim loại duy nhất ở điều kiện bình thường là chất
lỏng?
( THỦY NGÂN )
Câu 8: (7 chữ cái) Đây là một tính chất vật lý đặc trưng của kim loại?
( DẪN ĐIỆN )
Câu 9: (8 chữ cái) Hạt tạo ra lớp vỏ của nguyên tử?
( ELECTRON )
( Từ khóa: MENĐÊLÊEP )
1
1
2
3
4
5
6
7
N
P
C
H
Ấ
T
T
H
I
Ế
C
L
O
2
3
4
8
D
Ẫ
N
Đ
I
Ệ
N
E
L
Phần 3: Tăng tốc
E
C
T
R
O
Câu 3: Vì sao khi mở bình nước ngọt có gas lại có nhiều bóng khí thoát ra? Khí đó
là khí gì ?
Đáp án:
• Khí đó là khí CO2.
• Khi mở nắp áp suất bên ngoài thấp hơn so với áp suất trong chai, nên bóng khí sẽ
thoát ra ngoài.
Câu 4: Vì sao rượu để trong không khí lâu dần lại bị nhạt?
Đáp án:
Vì rượu có khả năng bay hơi.
Câu 5: Vì sao vào mùa đông thường xảy ra hiện tượng ngộ độc khí đốt?
Đáp án:
• Mùa đông, người ta thường đóng kín cửa và đốt lửa sưởi ấm.
• Khi chất đốt cháy trong điều kiện thiếu không khí sẽ sinh ra một ít CO, là một khí
độc, không duy trì sự sống nên sẽ làm cho con người cảm thấy khó thở.
• Do đó mùa đông không nên đóng quá kín cửa khi đốt lửa sưởi ấm.
Câu 6: Kim loại nào có trong nhiệt kế y tế dùng để đo nhiệt độ cơ thể?
Đáp án: Hg
Câu 7: Vì sao khi dùng đồ bằng bạc đựng thức ăn, thức ăn lâu bị ôi ?
Đáp án:
Nhiều người cho rằng bạc không hòa tan vào nước nhưng thực ra vẫn có một lượng
nhỏ bạc tan vào nước tạo thành ion bạc có tác dụng diệt khuẩn rất mạnh. Vì thế thức ăn
lâu bị ôi thiu.
Câu 8: Vì sao khi nấu canh cá người ta thường dùng các chất chua như lá me, cà
chua, thơm,...?
Đáp án:
• Cá thường có mùi tanh là do trong cá chứa một sốamin là các hợp chất có tính
bazơ.
• Trong các chất chua có mặt một số axit (như axit xitric) có tác dụng trung hòa các
amin có trong cá. Do đó mùi tanh sẽ bị mất đi.
Người viết: Hoàng Thị Năm
Đáp án: Khí oxi
Câu 3:
Khí gì hấp thụ được
Tia tử ngoại mặt trời.
Là lá chắn hữu hiệu
Cho sự sống sinh sôi
Đáp án: Khí ôzôn
Câu 4: Cho các kim loại sau: Mg, Ca, Al, Fe, Zn, Na, Ba. Hãy sắp xếp các kim loại
theo chiều tính kim loại giảm dần.
Đáp án: Na, Ba, Ca, Mg,Al, Zn, Fe
Câu 5: Đây là chất gì?
Rất cần cho con người.
Người viết: Hoàng Thị Năm
Trang 23
Trường THCS Nguyễn Trãi
“Một số kinh nghiệm trong công tác giảng dạy nhằm gây hứng thú học tập môn Hóa học 9”
Có nhiều trong nước biển
Công thức hóa học là NaCl
Đáp án: Muối ăn (Natri clorua)
Câu 6: Khí nào có khả năng làm quả mau chín?
Đáp án:C2H4
Phần 5: Dành cho cổ động viên
Câu 1: Kim loại nào được con người sử dụng làm công cụ đầu tiên
Đáp án: Cu
Câu 2: Kim loại nào là thành phần chính trong nước vôi
Đáp án: Ca
Trang 24
Trường THCS Nguyễn Trãi
“Một số kinh nghiệm trong công tác giảng dạy nhằm gây hứng thú học tập môn Hóa học 9”
Đề tài gây hứng thú cho học sinh khi học tập môn Hóa học đã có nhiều người nghiên
cứu nhưng hiệu quả chưa cao và phạm vi ứng dụng còn hạn chế. Với đề tài “Một số kinh
nghiệm trong công tác giảng dạy nhằm gây hứng thú học tập môn Hóa học 9” tôi muốn
đóng góp một nhóm giải pháp mới hy vọng nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học lớp
9.
Các giải pháp tôi thực hiện đều dựa vào đặc trưng kiến thức bộ môn và đặc điểm tâm
lý lứa tuổi học sinh trung học cơ sở nên dễ tạo hứng thú học tập cho các em để các em ghi
nhớ kiến thức tốt hơn. Hầu như giáo viên lên lớp không vận dụng điều này hoặc có nhưng
còn ít và chưa thực sự nhiệt tình nên tiết học trở nên khô cứng, đơn điệu. Học sinh lớp 9 là
lứa tuổi nhạy cảm với những điều mới lạ và muốn khẳng định mình. Vì vậy việc chuyển
kiến thức Hóa học thành những câu thơ, câu chuyện giúp các em hào hứng hơn. Việc đọc
“Bài ca hóa trị’, “Tính tan của muối”... hay giải các câu đố Hóa học bằng văn vần làm cho
kiến thức môn Hóa học trở nên có âm vần, nhạc tính, các em hứng thú học tập và ghi nhớ
tốt hơn. Liên hệ thực tế để vận dụng kiến thức môn học giải thích các hiện tượng trong
cuộc sống cũng là cách học sinh thể hiện mình. Học sinh đặc biệt hào hứng khi có thể hiểu
được hiện tượng tự nhiên thường gặp trong cuộc sống. Nhu cầu thể hiện mình bằng cách
giải thích hiện tượng tự nhiên sẽ là động lực thúc đẩy các em học tập và tạo hứng thú với
môn Hóa học nhiều hơn.
Một điểm mới khác trong đề tài này là sự kết hợp đồng bộ một số giải pháp để phát
huy cao nhất hiệu quả đề tài. Giáo viên đọc (hoặc yêu cầu học sinh nhắc lại) một kiến thức
Hóa học bằng thơ sẽ giúp giảm căng thẳng trong giờ học. Hầu như các tiết dạy đều có thể
liên hệ thực tế để tạo hứng thú khám phá tự nhiên cho học sinh... Chỉ có giải pháp thứ tư
(tổ chức chương trình ngoại khóa “ Hóa học vui”) là cần một buổi ngoại khóa, tuy vậy vẫn
13
3
0
9A4
25
2
7
12
4
0
9A5
23
4
8
11
0
17,3%
32,7%
42,7%
7,3%
0%
Tỉ lệ
Người viết: Hoàng Thị Năm
Trang 25
Yếu
Kém
Trường THCS Nguyễn Trãi