LUẬN VĂN GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG - Pdf 54

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG TRÂN CHÂU

GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO
THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
:
834.04.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS HỒ VIỆT HẠNH

HÀ NỘI, Năm 2018
1


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Có thể nói chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết
định năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Chất lượng này phụ thuộc vào
đào tạo nghề. Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI khi đánh
giá về giáo dục và đào tạo (trong đó có đào tạo nghề) nhấn mạnh những hạn

phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quận Ngũ Hành Sơn là một trong các quận nằm trong vùng kinh tế
trọng điểm của thành phố Đà Nẵng, là miền đất đầy tiềm năng về phát triển
kinh tế. Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển của cả thành
phố, quận Ngũ Hành Sơn có những bước chuyển mạnh mẽ về nhiều mặt, đặc
biệt là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đạt nhiều thành tựu quan trọng thúc
đẩy phát triển kinh tế-xã hội, chính trị ổn định. Trong những thành tựu đó có
vấn đề đào tạo cho người lao động nói chung, thanh niên nói riêng.
Tuy nhiên, hiện nay công tác đào tạo nghề cho thanh niên còn nhiều
bất cập và khó khăn, thiếu định hướng ngành nghề cụ thể, khó khăn trong tiếp
cận việc làm, quan hệ cung cầu trong thị trường lao động cho thanh niên đang
mất cân đối... luôn được xã hội quan tâm. Do thị trường việc làm tại địa
phương còn nhiều yếu kém và nếu tiếp tục ở lại địa phương thì sẽ thất nghiệp
và thiếu việc nên phần lớn thanh niên trên địa bàn đã rời quê hương đi làm ăn
xa, nguyên nhân là do quá trình thu hồi đất nông nghiệp, chuyển đổi mục đích
sử dụng đất nông nghiệp nhằm thực hiện công tác giải tỏa mặt bằng, phục vụ
các dự án về hạ tầng, dân sinh trên địa bàn và các nhà máy, xí nghiệp hiện
nay đang đầu tư, áp dụng các công nghệ kỹ thuật, công nghệ thông tin tiên
tiến nên sử dụng ít lao động; bên cạnh đó là trình độ học vấn; kỹ năng nghề
nghiệp, và tác phong, ý thức kỷ luật còn có nhiều bất cập chưa đáp ứng các
3


điều kiện của doanh nghiệp. Mặt khác, một bộ phận thanh niên ở địa phương
này không có việc làm do trình độ học vấn và tay nghề chuyên môn còn thấp,
chưa thực sự thay đổi suy nghĩ, tập quán sống, chưa thích ứng với yêu cầu
của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế
quốc tế. Trong khi đó, các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn chưa coi
thanh niên trong xã là lực lượng lao động chủ chốt, nên chưa nhiệt tình và tin
cậy để phổ biến nghề mới, đào tạo nghề, tư vấn nghề và hỗ trợ các kỹ năng

triển nghề nghiệp, hoạt động giáo dục nghề nghiệp... qua đó, tác giả đã tìm ra
được những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trên, đề đề xuất các
giải pháp hữu hiệu cho hoạt động giáo dục nghề nghiệp.
Nhóm tác giả Mạc Văn Tiến, Đỗ Minh Cương với tác phẩm: Phát
triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn, đã hệ thống hóa
các vấn đề liên quan đến phát triển thị trường lao động kỹ thuật, những nội
dung được đề cập trong nghiên cứu là những vấn đề cần thiết, cấp bách về
công tác giáo dục nghề nghiệp, đồng thời tác giả cũng đánh giá đối tượng lao
động kỹ thuật cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu để đảm bảo hiệu quả đầu
tư cho giáo dục và dạy nghề. Đổi mới chương trình giảng dạy, tăng cường
đầu tư thiết bị, công nghệ phù hợp với thiết bị, công nghệ của sản xuất, nâng
cao chất lượng và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên;
Nhìn chung, những công trình và bài viết nói trên đã tiếp cận nghiên
cứu vấn đề đào tạo nghề, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến người lao
động nói chung và đến vấn đề việc làm, tạo việc làm cho thanh niên ở nhiều
góc độ, nhiều địa phương vấn đề tác động của nhiều lĩnh vực khác nhau và
gợi mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới rất bổ ích.
Hiện tại chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu nội
dung đào tạo nghề cho thanh niên trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành
phố Đà Nẵng. Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã học tập kết hợp và chọn
5


lọc những vấn đề được nghiên cứu của các công trình khoa học đã có, vận
dụng các hoạt động thực tiễn, kinh nghiệm vốn có của bản thân đã và đang
công tác trong lĩnh vực có liên quan đến đào tạo cho thanh niên, tác giả đã
khảo sát tình hình lao động thanh niên trên địa bàn toàn quận, từ đó rút ra bài
học và kiến nghị những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề
cho thanh niên.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường
lối chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước... về đào tạo nghề cho thanh
niên
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa,
khái quát hóa các tài liệu sẵn có từ các nguồn tài liệu chính thức, từ các công
trình nghiên cứu của các tác giả đã nghiên cứu trước đây, các bài viết, tạp chí,
sách báo, internet,.. từ các báo cáo của cơ quan chức năng Quận Ngũ Hành
Sơn về các vấn đề có liên quan đến đào tạo nghề cho thanh niên; nghiên cứu
chính sách công kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tế.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Ý nghĩa lý luận của luận văn thể hiện ở chỗ các kết quả, kết luận rút ra
từ việc nghiên cứu đề tài luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện những vấn đề
lý luận về thực hiện chính sách công, thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
7


thanh niên ở Việt Nam nói chung và quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà
Nẵng nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Thể hiện ở chỗ đã đề xuất các giải pháp thiết thực, các kinh nghiệm
góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
thanh niên tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách đào tạo nghề cho thanh
niên.
Chương 2: Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên từ thực

một lĩnh vực lao động sản xuất nhỏ hẹp, con người bằng năng lực thể chất và
tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công
cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh
9


vẽ…)
Từ các cách hiểu trên cho thấy nghề là kết quả của sự phân công lao
động xã hội, xã hội phát triển thì ngành nghề cũng thay đổi theo.Và dưới góc
độ đào tạo, nghề là toàn bộ các kiến thức, kỹ năng, thái độ, kinh nghiệm
nghề nghiệp và các phẩm chất khác.
Muốn trở thành một nghề thì ít nhất cũng phải trải qua đào tạo, cho dù
là đào tạo dài hạn, bài bản; hoặc hướng dẫn kèm cặp. Xuất phát từ quan niệm
như vậy, có tác giả phân loại nghề thành hai nhóm là nghề qua đào tạo và
nghề xã hội. Nghề đào tạo là nghề mà muốn nắm vững nó, con người phải có
trình độ văn hóa nhất định, được đào tạo hệ thống, bằng nhiều hình thức và
được nhận bằng hoặc chứng chỉ. Các nghề được đào tạo được phân biệt với
nhau qua các yêu cầu về nội dung chương trình, mức độ chuyên môn và thời
gian cần thiết để đào tạo. Nghề xã hội là nghề được hình thành một cách tự
phát theo nhu cầu của đời sống xã hội, thường được đào tạo với các chương
trình đào tạo ngắn hạn, cũng có thể thực hiện thông qua hướng dẫn, kèm cặp
hoặc truyền nghề.
Trong hệ thống nghề đào tạo có hai dạng: đào tạo lao động kỹ thuật hệ
thực hành và đào tạo lao động chuyên môn, hệ kiến thức hàn lâm.
Lao động chuyên môn, hệ kiến thức hàn lâm bao gồm chủ yếu là lao
động qua đào tạo ở cấp trình độ đại học, sau đại học, đào tạo thuộc hệ đào tạo
nặng hơn về kiến thức hàn lâm, kiến thức lý thuyết và làm các công việc như:
nghiên cứu khoa học, phân tích – thống kê kinh tế, giảng viên các trường đại
học (không bao gồm các giảng viên kỹ thuật hệ thực hành), nhà quản lý,
chuyên gia thuộc các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau…

chuyên môn, nghiệp vụ cho mình”.
Thứ ba, từ góc nhìn của các nhà giáo dục và đào tạo Việt Nam, khái
11


niệm tương đối đầy đủ là: “Đào tạo” là quá trình hoạt động có mục đích, có
tổ chức nhằm đạt được các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và
thực tiễn, hoặc kinh nghiệm đúc kết từ thực tiễn bản thân để hướng người đào
tạo có năng lực, kỹ năng thực hiện chuyên môn cụ thể.
Hay nói cách khác, đào tạo đề cập đến việc dạy các kiến thức, kỹ năng
thực hành, nghề nghiệp liên quan đến một lĩnh vực cụ thể nào đó, để người
học nắm vững những tri thứ, lĩnh hội và vận dụng được các kĩ năng nghề
nghiệp một cách chính xác và có hệ thống để giúp cho người học có khả năng
đảm nhận được một công việc nhất địnhvà có thể thích nghi với cuộc sống.
Giáo dục và đào tạo cùng có điểm chung là đều hướng vào việc trang
bị kiến thức kỹ năng để phát triển năng lực của người lao động. Tuy nhiên,
trong giáo dục nhằm vào những năng lực rộng lớn còn đào tạo lại nhằm vào
những năng lực cụ thể để người lao động đảm nhận công việc xác định,
thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ
tuổi nhất định, có một trình độ nhất định. “Đào tạo” có thể có nhiều hình
thức: đào tạo lại; tự đào tạo ..
1.1.3. Khái niệm đào tạo nghề cho thanh niên
Đào tạo nghề cho thanh niên là tạo ra một môi trường hình thành nơi
làm việc và đào tạo lao động thanh niên phù hợp nơi làm việc đó, để có việc
làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của người sử dụng lao đồng thời đáp ứng
được mục đích của đơn vị sử dụng lao động.
Với quan điểm trên thì hoạt động đào tạo nghề không chỉ là chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của các cơ quan doanh nghiệp,
của xã hội và ngay đối với bản thân người lao động.
+ Là quá trình đào tạo cho lao động trẻ có kỹ năng phù hợp với nhu



Chính sách đào tạo nghề vừa có ý nghĩa về mặt chính trị - xã hội, vừa
có ý nghĩa về mặt kinh tế, cũng như giáo dục con người. Việc xây dựng kế
hoạch, hoạch định và thực hiện không tốt các chính sách đào tạo nghề sẽ dẫn
đến những thiệt hại, những hậu quả trực tiếp cả về chính trị và xã hội, kinh tế
cho đất nước. Đào tạo nghề là một trong những giải pháp mang tính đột phá
cho mỗi địa phương nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực “mềm“ và giữ vai
trò trọng yếu trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương mình.
Thứ nhất, Muốn tạo nhiều việc làm tạo điều kiện cho thanh niên dễ
dàng lựa chọn công việc phù hợp, tạo năng suất cao hơn và có cơ hội nhận
được thu nhập cao hơn thì đào tạo nghề phải đảm bảo việc làm cho thanh niên
tham gia hoạt động kinh tế, kết nối họ vào các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ,
tạo khả năng cho họ nhận được những khoản thu nhập thiết yếu để tái sản
xuất sức lao động của chính bản thân mình, cũng như nuôi sống gia đình
mình.
Thứ hai, Các doanh nghiệp người sử dụng lao động lựa chọn sức lao
động trẻ cần thiết theo khối lượng và chất lượng theo nhu cầu của mình thông
qua đào tạo nghề nhưng không phải lúc nào cũng sẵn có lực lượng thanh niên
cần thiết trong một khu vực, vì vậy việc giải quyết việc làm sẽ cung cấp đầy
đủ các thông tin về ngành nghề, nơi nào đang dư thừa lao động thanh niên và
nơi nào thì khan hiếm lao động trẻ, cũng như việc thanh niên cần phải trang
bị những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp gì để có thể kiếm được việc làm.
Thứ ba, Trong bối cảnh bùng nổ của khoa học và công nghệ thì lao
độngc ó tay nghề cao luôn có cơ hội tìm kiếm việc làm lớn và hầu như không
thiếu việc làm; tính bền vững của việc làm cũng cao, đem lại thu nhập thảo
đáng. Bên cạnh đó, thanh niên được đào tạo nghề đúng nhau cầu và đúng sự
quan tâm sẽ tạo ra môi trường đảm bảo quan hệ qua lại trong tập thể lao động
cũng như giữa chủ doanh nghiệp với lao động trẻ, thúc đẩy làm việc thuận
14



Đồng thời, thanh niên là nhóm người trẻ tuổi, dễ thích nghi với cái mới, dám
làm và chủ động nắm bắt xu thế mới của xã hội song cũng có những thanh
niên chưa dám chấp nhận sự thay đổi liên tục, sự xuất hiện của những giá trị
mới, do vậy, nên việc Đào tạo nghề cho thanh niên cần phải có những cách
thức tổ chức phù hợp với từng nhóm đối tượng. Việc xây dựng các mô hình
hay chính sách đào tạo nghề cho thanh niên đồi hỏi các nhà hoạch định, xây
dựng chính sách cần xem xét các nội dung sau đây:
* Xác định nhu cầu sử dụng thanh niên qua đào tạo nghề và nhu cầu
học nghề của thanh niên
Thứ nhất, Muốn nắm bắt được nhu cầu sử dụng thanh niên qua đào tạo
nghề cần phải triển khai các hoạt động điều tra, khảo sát nhu cầu sử dụng
nhân lực qua đào tạo nghề trong các ngành kinh tế, vùng kinh tế và từng địa
phương. Việc xác định nhu cầu sử dụng lao động thanh niên chính là “đầu
ra” của đào tạo, thông qua việc nắm bắt nhu cầu chính xác có thể đưa ra được
nội dung học nghề gì và đào tạo những nghề gì với những trình độ khác nhau.
Việc nắm bắt nhu cầu phải triển khai trước khi thực hiện các chương
trình, xây dựng các mô hình cần phải thường xuyên với quy mô và mức độ
khác nhau, để kịp thời bổ sung những thông tin nhu cầu về những nghề mới
với quy mô và trình độ phù hợp.
Thứ hai, Song song với việc nắm bắt thông tin và xác định được nhu
cầu sử dụng lao động thanh niên thì cần phải khảo sát nhu cầu học nghề của
thanh niên, vì vậy cần tách và phân nhóm các đối tượng học khác nhau để mở
các lớp, khóa học đào tạo phù hợp, lứa tuổi nào? thời gian đào tạo có thể là
ngắn hạn, dài hạn. Ngoài ra, để có thể có các hình thức đào tạo phù hợp với
cơ sở thì phải khảo sát thói quen và đặc điểm canh tác của thanh niên ở các
vùng miền khác nhau. Hoặc cần thiết phải phân và chia trên cơ sở trưng cầu ý
kiến va khảo sát các nhóm đối tượng có trình độ học vấn khác nhau, người có
16



đặt hàng của các tập đoàn, Tổng công ty; Phương thức đào tạo cũng cần phải
đa dạng hoá, phù hợp với từng nhóm đối tượng và điều kiện của từng vùng,
miền..., như đào tạo tập trung tại CSDN đối với những thanh niên chuyển đổi
nghề nghiệp (trung tâm dạy nghề, trường trung cấp, cao đẳng nghề, các
trường khác có tham gia dạy nghề...); đào tạo nghề lưu động cho thanh niên
làm nông dân hiện đại tại các làng, xã, thôn; đào tạo nghề tại nơi sản xuất, tại
hiện trường
Mặt khác, do tính đa dạng của vật nuôi, cây trồng nông nghiệp, khoá
học nên được tổ chức gắn với thời kỳ sinh trưởng của vật nuôi, cây trồng.
Đào tạo phải gắn với việc vừa học, vừa làm, hoặc thời gian nông nhàn để đảm
bảo việc học được thuận lợi, không gián đoạn…
* Đánh giá kết quả đào tạo nghề: Để đánh giá được kết quả đào tạo
nghề cần đánh giá qua hai tiêu chí:
Chất lượng đào tạo nghề: Đây thực sự là tiêu chí khó khăn, vì không
đánh giá được trực tiếp qua cân đong đo đếm được. Vì vậy, cần đánh giá
thông qua một hệ thống các chỉ tiêu và các yếu tố ảnh hưởng để đánh giá
được chất lượng đào tạo nghề. Chất lượng các thanh niên được đào tạo trong
hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo chương trình đào tạo và mục tiêu xác
định trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau là tiêu chí chất lượng đào tạo
nghề, được biểu hiện một cách tổng hợp nhất của xã hội đối với kết quả đào
tạo nghề và ở mức độ chấp nhận của thị trường lao động.
Việc làm sau đào tạo nghề: như vậy kết quả của đào tạo nghề cho
thanh niên là tìm được việc làm phi nông nghiệp (ở nông thôn hoặc ngoài
nông thôn) hoặc tạo cho lao động có một nghề để có thể tự tạo việc làm trong
nông nghiệp (tăng năng suất lao động); kết quả của việc đào tạo nghề cho
thanh niên là giải quyết việc làm cho thanh niên gắn với hoạt động đào tạo.
Việc tuyển dụng lao động của doanh nghiệp là câu trả lời cho chất lượng và
18



khu chế xuất … thì nhu cầu sửu dụng lao động tại chỗ phải tăng lên song thực
tế là nhu cầu lao động, việc làm tăng thì tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng. Lý do cốt
lõi là lao động chưa đáp ứng yêu cầu việc làm hiện có trong khi đất sản xuất
nông nghiệp thu hẹp; việc làm khu vực nông thôn giảm xuống; việc chuyển
dịch cơ cấu lao động chưa kịp thời khiến tỷ lệ thất nghiệp của người trong độ
tuổi lao động ngày một tăng.
Vì vậy quan tâm đến chính sách về đào tạo nghề cho thanh niên là một
việc nên làm, nó góp phần giải quyết lao động là thanh niên, góp phần nâng
cao mức thu nhập cho người dân, giảm thiểu tệ nạn xã hội… đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.6. Vai trò thực tế trong việc thực hiện chính sách đào tạo nghề
cho thanh niên
Thực trạng tình hình thiếu việc làm, thất nghiệp, việc làm không ổn
định còn diễn ra hàng ngày trong thanh niên, nhất là đối với thanh niên nông
thôn hiện nay thì càng phải yêu cầu Nhà nước phải có chính sách cụ thể, kịp
thời phù hợp với thực tiễn để góp phần giải quyết việc làm cho thanh niên.
Trong công tác thanh niên, bên cạnh việc rèn luyện bản lĩnh, lập trường, giáo
dục chính trị, tư tưởng thì vấn đề bồi dưỡng, đào tạo về tri thức, nghiệp vụ,
chuyên môn, tay nghề, tạo việc làm cho thanh niên là nhiệm vụ rất quan
trọng. Việc định hướng nghề, đào tạo nghề cho thanh niên còn có ý nghĩa
quan trọng để định ra đặc điểm và nội dung của hoạt động đào tạo. Nếu đào
tạo nghề cho thanh niên mà không đáp ứng được nhu cầu thị trường, nhu cầu
của doanh nghiệp, không phù hợp với đặc điểm kinh tế- xã hội mỗi địa
phương thì việc đào tạo cũng không có ý nghĩa bởi lẽ việc đào tọa chưa gắn
với giải quyết việc làm. Việc xác định được cơ cấu đào tạo nghề phù hợp sẽ
góp phần giảm sự mất cân bằng cung – cầu lao động trên thị trường, không
gây lãng phí nguồn lực của xã hội. Đồng thời, qua các hình thức đào tạo nghề
20


tạo nghề cho lao động nông thôn; đào tạo nghề cho lao động hưởng trợ cấp
thất nghiệp; chuyển đổi ngành nghề cho khu vực thu hồi đất nông nghiệp; ưu
đãi đối với doanh nghiệp sử dụng lao động tại chỗ… Các chính sách, dự án
này đều được gắn với việc giải quyết việc làm cho lao động gắn với đào tạo
nghề ở các địa phương triển khai dự án, trong đó, lực lượng lao động chủ yếu
là thanh niên.
Ban hành chính sách, cơ chế cụ thể để tạo điều kiện cho thanh niên,
hoặc doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác .. do thanh niên làm chủ các dự án,
công trình có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước với những điều kiện ưu đãi
nhất định. Có thể nói đến các chính sách cụ thể như sau:
Nghị quyết 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 nhấn mạnh “Thực hiện tốt
chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nhất là lao động nghèo; ưu
tiên nguồn lực đầu tư cơ sở trường, lớp học, thiết bị, đào tạo giáo viên dạy
nghề ... ”. Như vậy, có thể xác định vấn đề của chính sách đào tạo nghề cho
thanh niên là tạo cơ hội để thanh niên tham gia các hình thức đào tạo nghề
ngắn hạn, dài hạn phù hợp thông qua các cơ sở đào tạo nghề, truyền nghề
truyền thống. Sau khi thanh niên có nghề thì cơ hội tìm kiếm việc làm trở nên
dễ dàng hơn và từng bước vươn lên ổn định cuộc sống.
Bên cạnh các chính sách của Nhà nước, thành phố Đà nẵng ban hành
nhiều các chính sách nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (trong đó có
đào tạo nghề) như: Quyết định 5882/QĐ-UBND ngày 23/7/2012 về việc Phê
duyệt Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực thành phố Đà nẵng giai đoạn
2011-2020; Quyết định 31/2016/QĐ-UBND ngày 10/10/2016 quy định chính
sách hỗ trợ học nghề đối với lao động thuộc diện chính sách, xã hội trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng. Các chính sách có mức hỗ trợ cụ thể như: Đối với
chính sách hỗ trợ học nghề ngắn hạn (sơ cấp nghề), chuyển đổi ngành nghề,
giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn, lao động nông
22




sản xuất trở lên; Hỗ trợ 50% học phí trong thời hạn 03 năm cho các hộ thuộc
diện thu hồi dưới 50% diện tích đất sản xuất. Mức học phí hỗ trợ cho học sinh
đang học tại các trường ngoài công lập bằng mức học phí các trường công lập
cùng địa bàn.
Đối với doanh nghiệp tiếp nhận lao động vào đào tạo nghề và giải
quyết việc làm, thành phố sẽ hỗ trợ theo phương thức: doanh nghiệp tiếp
nhận lao động là đối tượng của chính sách (lao động thuộc diện được hưởng
chính sách ưu đãi người có công với cách mạng; lao động thuộc hộ nghèo;
thuộc các hộ trong diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất sản xuất; là người dân tộc
thiểu số; là bộ đội xuất ngũ; là người khuyết tật; lao động khác) vào làm việc
tại doanh nghiệp sau thời gian đào tạo theo hình thức hợp đồng lao động.
Đối với việc hỗ trợ học nghề trình độ sơ cấp đối với lao động thuộc
diện chính sách, xã hội trên địa bàn thành phố, chính sách mới sẽ hỗ trợ chi
phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề) với mức tối đa 03 triệu
đồng/người/khóa học. Để tạo điều kiện hỗ trợ cho lao động thuộc diện hộ
nghèo, thì thành phố Đà Nẵng còn có chính sách hỗ trợ tiền đi lại theo giá vé
giao thông công cộng với mức tối đa không quá 200.000 đồng/người/khóa
học đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15 km trở lên; hỗ trợ tiền ăn và
tiền đi lại với mức 15.000 đồng/ngày thực học/người (mức tối đa không quá
450.000 đồng/người/tháng)...
Thứ hai, thông tin về lao động và việc làm cho thanh niên
Tổ chức các hình thức tuyên truyền, phổ biến các chủ trương chính
sách và giáo dục pháp luật về việc làm đến với thanh niên. Bởi lẽ đào tạo
nghề và giải quyết việc làm có mối quan hệ mật thiết với nhau, việc thực hiện
tốt chính sách này sẽ là điều kiện để thực hiện chính sách kia. Nếu như đào
tạo nghề tốt thì sẽ tăng cơ hội tìm kiếm việc làm cho thanh niên. Trong bối
cảnh hiện nay, vấn đề giải quyết việc làm nói chung, giải quyết việc làm cho
24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status