ĐỀ TÀI:
NHỮNG BẤT CẬP TRONG CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
MỤC LỤC
6, Đề tài nghiên cứu Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm
2020 của Nhóm nghiên cứu Bộ môn Nghiên cứu Chiến lược Chính sách – Viện
Chính Sách Chiến Lược Phát Triển Nông Nghiệp Nông Thôn - Bộ Nông Nghiệp
và PTNT.................................................................................................................4
2
PHẦN I, GIỚI THIỆU CHUNG
1, Đặt vắn đề và lý do nghiên cứu.
Thực trạng phát triển đào tạo nghề xuất khẩu lao động trong những năm qua của
đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cho thấy tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số được học
nghề còn rất thấp so với tỷ lệ chung và so với tỷ lệ dân số cả nước. Tuy nhiên, số lượng
đồng bào dân tộc tham gia học nghề lại chủ yếu tập trung vào học ngắn hạn, còn số học
nghề dài hạn, trung cấp nghề để ra trường có bằng cấp chuyên nghiệp phục vụ xuất khẩu
lao động là rất ít. Học nghề chính là một trong những điều kiện cơ bản để tham gia xuất
khẩu lao động nhằm đưa đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thoát nghèo. Có nghề trong
tay, lao động sẽ được tuyển dụng lâu dài hơn và mức thu nhập sẽ cao hơn. Chìa khóa để mở
cửa vào cuộc sống đối với thanh niên dân tộc thiểu số và vùng núi chính là thành thạo một
nghề".Thanh Hóa là một trong những địa phương đi đâu trong việc thực hiện chính sách
đào tạo nghề cho lao động xuất khẩu ở vùng dân tộc miền núi. Xuất phát từ lý do đó, đề tài
“Những vấn đề trong chính sách đào tạo nghề cho lao động xuất khẩu lao động ở vùng
dân tộc và miền núi tỉnh Thanh Hóa” được lựa chọn nghiên cứu là hết sức cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế
+ Những tác động của các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho xuất khẩu lao động ở
vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
+Những thành tựu và hạn chế trong thực thi chính sách quản lý, hỗ trợ người lao
động đi xuất khẩu lao động .
+ Đề xuất những định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghề xuất
khẩu lao động ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là các vấn đề trong hệ thống các chính sách liên
quan đến vấn đề đào tạo nghề xuất khẩu lao động nông thôn nói chung và ở vùng dân tộc
thiểu số và miền núi tỉnh Thanh Hóa nói riêng trong những năm qua.
Khách thể nghiên cứu là các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động xuất khẩu
ở khu vực dân tộc miền núi.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Về không gian: Đề tài triển khai nghiên cứu điểm trên địa bàn vùng dân tộc thiểu
số và miền núi (nghiên cứu tại tỉnh Thanh Hoá). Đây là một trong những vùng được xác
định, hoạt động xuất khẩu lao động diễn ra mạnh mẽ trong những năm qua và cũng là địa
phương có nhiều cơ sở đào tạo, dạy nghề lớn trong cả nước.
- Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình xuất khẩu lao đông và đào tạo
nghề từ năm 2006 - 2012.
5. Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cách tiếp cận
4
- Tiếp cận thực tiễn, đó là cách tiếp cận với những vấn đề đặt ra trên địa bàn nghiên
cứu, tìm hiểu thực tiễn công tác đào tạo nghề phục vụ xuất khẩu ở vùng dân tộc và miền
núi.
- Tiếp cận hệ thống để xem xét các vấn đề trong một hệ thống hoàn chỉnh, có mối
thống dạy nghề trình độ thấp với hai cấp trình độ đào tạo sang hệ thống dạy nghề với ba
cấp trình độ đào tạo: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng ngh. Đến nay trong cả nước
có 2052 cơ sở dạy nghề (trong đó có 62 trường cao đẳng nghề, 235 trường trung cấp
nghề. Số lượng cơ sở dạy nghề tư thục tăng nhanh, đã có một số cơ sở dạy nghề có vốn
đầu tư nước ngoài. Hiện có 789 cơ sở dạy nghề ngoài công lập.
Quy mô đào tạo nghề tăng nhanh, giai đoạn 2001-2011 dạy nghề cho 6,6 triệu người
(tăng bình quân hàng năm 6,5%), trong đó dạy nghề dài hạn đạt 1,14 triệu người, dạy
nghề ngắn hạn đạt 5,46 triệu người.
Các cơ sở dạy nghề đã mở thêm nhiều nghề đào tạo mới mà thị trường lao động
trong và ngoài nước có nhu cầu. Dạy nghề đã từng bước đáp ứng nhu cầu lao động kỹ
thuật trực tiếp trong sản xuất của thị trường lao động trong và ngoài nước.
Việc dạy nghề được phát triển với các mô hình dạy nghề năng động, linh hoạt gắn
đào tạo với sử dụng lao động theo hướng cầu của thị trường lao động quốc tế để đáp ứng
nhu cầu nhân lực phục vụ XKLĐ của từng vùng, từng địa phương.
Đến nay, cả nước có 143 cơ sở dạy nghề thuộc các doanh nghiệp.
Tổng quan về tình hình xuất khẩu lao động ở Việt Nam
Bảng 1: Lượng xuất khẩu lao động tại các thị trường qua các năm
Đơn vị: người
Nước Nhật Hàn Đài Malaysia Cata UAE Ả CH Ma Khác Tổng
Bản Quốc Loan
Rập Séc Cao
xê út
Năm
2006 5.360 10.577 14.127 37.941 3.219 1.760
98
423
869 5.766 80.140
động.
Tính riêng năm 2012, tổng số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài là 65.183 lao
động, đạt 72,4 % so với chỉ tiêu kế hoạch (năm 2012 kế hoạch là 90.000 lao động đi làm
việc ở nước ngoài). Số lao động xuất khẩu tập trung đi các nước chiếm tỷ lệ như sau:
Bảng 2: Tỷ lệ lao động xuất khẩu ở các nước
STT
Tên nước
Tổng số lao động
Tỷ lệ %
1
Đài Loan
24.553
37,67%
2
Hàn Quốc
8.989
13,79%
3
7
Ả Rập xê út
1.829
2,80 %
8
Ma Cao
1.783
2,73 %
9
UAE
1.380
2,12 %
10
CH Síp
1.255
xuất khẩu lao động, Việt Nam đã cụ thể hóa chủ trương đường lối của mình bằng nhiều
các chương trình hành động. Một số văn bản, chính sách liên quan đến đào tạo xuất khẩu
lao động điển hình như sau:
-
Quyết định số 33/2006/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ngày 7/3/2006 về việc
Phê duyệt Đề án Dạy nghề cho lao động đi làm việc ở nước ngoài đến năm 2015.
- Nghị quyết Số: 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 Về Chương trình hỗ trợ giảm
nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo.
- Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê
duyệt Đề án Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo
bền vững giai đoạn 2009-2020.
-
Đề án của Bộ Lao động Thương binh và xã hội về đẩy mạnh XKLĐ giai đoạn
2009-2015 trong đó đưa ra mục tiêu hỗ trợ người lao động “Tổ chức các khóa đào tạo về
khởi sự doanh nghiệp cho những lao động muốn thành lập doanh nghiệp hoặc tổ chức
kinh doanh”.
3,Vai trò của đào tạo nghề xuất khẩu lao động
Khi đánh giá về vai trò của đào tạo nghề xuất khẩu lao động đối với sự phát triển
kinh tế, xã hội của Việt Nam trong những năm trước đây và hiện tại, không một ai có
thể phủ nhận những gì mà xuất khẩu lao động Việt Nam đã đóng góp. Xuất khẩu lao
động không những vừa đạt được mục tiêu về kinh tế, mà còn đạt được cả mục tiêu về
xã hội.
Sự cần thiết của đào tạo nghề xuất khẩu lao động
Hiện nay, thị trường lao động quốc tế đã có nhiều thay đổi, nhu cầu lao động phổ thông
Hợp tác Quốc tế về đào tạo nghề: Sự mở của nền kinh tế, chính sách khuyến khích
tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài khiến cho nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, các công
ty lớn trên thế giới đã tìm đến Việt Nam hợp tác trong nhiều lĩnh vực.
Khái niệm xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động là một hoạt động hết sức nhạy cảm vì nó liên quan trực tiếp đến
con người. Cho nên vấn đề về xuất khẩu lao động cũng gây ra một số quan điểm bất đồng.
Tùy theo những quan niệm và cách tiếp cận khác nhau mà những ý kiến đánh giá về vấn đề
này cũng khác nhau. Ở đề tài này chúng tôi xem xét xuất khẩu lao động theo quan điểm
“xuất khẩu lao động là một loại hình dịch vụ cung cấp loại hàng hoá đặc biệt đó là sức lao
động. Nó chứa đựng đầy đủ tính chất, yêu cầu của loại hàng hóa đặc biệt đó là hoạt động
của con người, tổng hoà các mối quan hệ xã hội” và xuất khẩu lao động là một kênh giải
quyết việc làm rất hữu hiệu, và là một nguồn để thu lượng ngoại tệ cho đất nước trong
những thời gian tới.
Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động
a. Xuất khẩu lao động là một loại hình hoạt động kinh tế
b. Xuất khẩu lao động là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội.
c. Xuất khẩu lao động là sự kết hợp hài hòa giữa quản lý vĩ mô của Nhà nước và sự
chủ động, tự chịu trách nhiệm của tổ chức xuất khẩu lao động đưa người lao động đi làm
việc ở nước ngoài.
d. Phải đảm bảo lợi ích của ba bên trong quan hệ xuất khẩu lao động.
e. Xuất khẩu lao động là hoạt động mang tính biến động.
Các hình thức xuất khẩu lao động
10
Hình thức xuất khẩu lao động: là cách thức thực hiện việc đưa người lao động đi
làm việc có thời hạn ở nước ngoài do nhà nước quy định.
Ở Việt Nam cho đến nay đã tồn tại một số hình thức sau:
+ Đưa lao động đi bồi dưỡng, học nghề, nâng cao trình độ và làm việc có thời gian
thiện và nâng cao chất lượng lao động. Lao động Indonesia có triển vọng tham gia thị
11
trường lao động quốc tế, tuy nhiên lao động Indonesia có trình độ học vấn thấp không có
tay nghề nên chính phủ và các cơ quan liên quan đã tăng cường một số biện pháp để cải
thiện trình độ học vấn của người lao động nói chung và lao động cho xuất khẩu nói riêng.
Bài học kinh nghiệm về đào tạo nghề xuất khẩu lao động cho Việt Nam
Một là, công tác đào tạo phải gắn với đầu ra:
Hai là, công tác tổ chức và quản lý quá trình đào tạo:Đối với hoạt động đào tạo nghề
nói riêng và các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế nói chung, muốn đạt được kết quả tốt
với chất lượng cao cần phải tổ chức và quản lý chặt chẽ các quá trình ấy.
3. Những nhân tố ảnh hưởng tới đào tạo nghề xuất khẩu lao động
Nhân tố tốc độ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ kéo theo sự chuyển dịch về cơ cấu lao động. Sự
chuyển dịch này đòi hỏi phải đào tạo nghề cho người lao động đang hoạt động trong
những lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp chuyển sang hoạt động ở kĩnh vực công nghiệp xây
dựng, và dịch vụ. Lúc này, lực lượng lao động tham gia xuất khẩu lao động cũng là kênh
đào tạo nghề, tiếp thu những trình độ sản xuất cao hơn ở nước bạn. Khi những lao động
này trở về nước họ có thể đem những công nghệ đó áp dụng trong các ngành sản xuất,
lĩnh vực của Việt Nam.
Cơ hội và thách thức của toàn cầu hoá và yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế
Trong tình hình hiện nay chất lượng lao động là yếu tố hàng đầu quyết định sự
thành bại trong cạnh tranh thị trường nhập khẩu lao động quốc tế. Trong những năm gần
đây Việt Nam gặp rất nhiều bất lợi trong cạnh tranh.Yếu tố quan trọng của sự hạn chế này
là Việt Nam có một lực lượng tham gia xuất khẩu lao động có chất lượng thấp.
Đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển dạy nghề
xuất khẩu lao động
Những đường lối và chủ trương, chính sách của Đảng nếu đúng và phù hợp sẽ là
giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo.
5, Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ về
phê duyệt Đề án Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm
nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020.
6, Đề án của Bộ Lao động Thương binh và xã hội về đẩy mạnh XKLĐ giai đoạn
2009-2015 trong đó đưa ra mục tiêu hỗ trợ người lao động “Tổ chức các khóa đào tạo về
khởi sự doanh nghiệp cho những lao động muốn thành lập doanh nghiệp hoặc tổ chức
kinh doanh”.
2, Chủ thể và các bên liên quan.
Trong việc tổ chứcvà phân công thực hiện chính sách
a) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan quản lý Chương trình có
trách nhiệm:
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức triển khai thực hiện Chương trình;
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành
liên quan thẩm định, phê duyệt các dự án thành phần của Chương trình theo đúng quy
trình, quy định, đồng thời tổ chức triển khai thực hiện các Dự án thành phần.
b) Ủy ban Dân tộc:
Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên
quan thẩm định, phê duyệt Dự án thành phần của Chương trình theo đúng quy trình, quy
định, đồng thời tổ chức triển khai thực hiện Dự án.
c) Các Bộ, ngành:
- Thực hiện quản lý nhà nước theo chức năng quy định;
- Tham gia triển khai nội dung Chương trình trong phạm vi và nội dung, nhiệm vụ
có liên quan đến lĩnh vực do mình quản lý;
14
- Các Bộ, ngành được phân công thực hiện các chính sách giảm nghèo theo Nghị
Quy mô đào tạo nghề XKLĐ ở tỉnh Thanh Hóa
Hiện nay, toàn tỉnh Thanh Hóa có gần 78 cơ sở tham gia dạy nghề trong đó có 20 cơ
sở chuyên dạy nghề phục vụ XKLĐ (cả công lập và ngoài công lập), hầu hết các cở sở
15
này đã được đầu tư về nhiều mặt, tuy nhiên, trong công tác đào tạo vẫn tồn tại không ít
khó khăn, bất cập. Giai đoạn 2001-2011 nếu như số cơ đào tạo nghề chiếm 63 cơ sở thì
đến năm 2011 số cơ sở này tăng lên chiếm 78 cơ sở. Trong đó, số cơ sở đào tạo chuyên
phục vụ XKLĐ tăng lên tương ứng từ 10 cơ sở năm 2001 lên chiếm 20 cơ sở năm 2011.
Mặc dù, trong những năm vừa qua tỉnh đã đẩy mạnh công tác đào tạo nghề XKLĐ nhưng
số cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh tăng lên khá khiêm tốn (tăng 10 cơ sở so với năm
2001).
Bảng 1. Số lượng cơ sở dạy nghề và cơ sở dạy nghề XKLĐ
tỉnh Thanh Hóa năm 2011
Đơn vị tính: Cơ sở
STT
1
2
Cơ sở
Năm 2001
Năm 2006
Năm 2011
Cơ ở dạy nghề
63
68
78
Trong đó: Cơ sở dạy nghề
Xã
Ban
Công
30
Tiếng Hàn Quốc
Tiếng Nhật
Tiếng Malaysia
15
16
26
Huyện Cẩm
Thuỷ
Xã
Xã
Cẩm
Cẩm
Lươn
Gian
g
g
15
30
1
1
5
1
1
3
9
26
Một tháng
Hai tháng
15
26
15
30
Ba tháng
Thời gian đào tạo tiếng như vậy có đủ để ông/bà
giao tiếp với người của nước sở tại trong cuộc
sống và phục vụ công việc của bản thân
Thời gian đào tạo tiếng như vậy Không đủ để
ông/bà giao tiếp với người của nước sở tại trong
cuộc sống và phục vụ công việc của bản thân
Công
Xã
Cẩm
Lương
17
Xã
Cẩm
Giang
Huyện
Bá
Thước
Huyện
Cẩm
Thuỷ
Cán
bộ
Tỉnh
Tổng số
Giúp việc
Hộ lý
Bán hàng
Công nhân may, dệt
20
5
20
20
20
20
20
20
20
21
21
21
6
21
20
21
20
21
20
Tổng số lao động xuất khẩu là
người dân tộc thiểu số
Tổng số
Tỷ lệ %
4.210
42,47%
3.815
35,89%
3250
37,30%
11.275
38,55%
Nguồn: Tổng hợp báo cáo của sở LĐ – TBXH Thanh Hóa giai đoạn 2009-2011
3.4. Số lượng lao động xuất khẩu ở các huyện vùng DTTS tỉnh Thanh Hoá
trong những năm qua
Bảng 6. Số lao động xuất khẩu ở các nước tại 2 huyện Cẩm Thuỷ và Bá Thước
Đơn vị tính: Người
Tên nước
Năm
2009
Tổng số
LĐXK
Cẩm Thuỷ
Năm
2010
Malaysia
Các nước Trung
Đông, UAE
Các nước khác
Tổng cộng
Tổng 3 năm:
9
11
11
48
110
160
20
70
2
30
8
18
18
ngày 17/5/2009 của TTg, Sửa đổi, bổ sung Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5
năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay tại
Ngân hàng Chính sách xã hội; Quyết định 2642/2009/QĐ-UBND ngày 18/8/2009 của
UBND tỉnh Thanh Hoá, đồng thời họ biết thông tin về công ty, tổ chức tuyển dụng đào
tạo xuất khẩu lao động thông qua loa phát thanh của xã và qua các băng rôn, áp phích, tờ
rơi quảng cáo. Tuy nhiên, khi tiếp xúc với những đơn vị tuyển dụng XKLĐ họ chỉ nhận
được những câu giải thích rất trừu tượng, khó hiểu do đó những thông tin này vẫn chưa
thực sự đem lại hiệu quả như mong muốn.
Những thành tựu và hạn chế của công tác đào tạo nghề XKLĐ ở tỉnh Thanh Hóa
Những thành tựu của công tác đào tạo nghề XKLĐ ở tỉnh Thanh Hóa
Về các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và hỗ trợ sau học nghề để tạo việc làm cho lao
động nông thôn, trong giai đoạn 2006-2011, các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề xuất khẩu
lao động ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Thanh Hóa đã được ban hành tương đối
đầy đủ và phù hợp với điều kiện tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đáp ứng
được nhu cầu của lao động nông thôn, hộ nghèo
Nguyên nhân thành công:
Trước hết, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã tập trung mọi nguồn lực
thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức khai thác có hiệu quả các
nguồn tài nguyên cho phát triển kinh tế, trong đó đặc biệt quan tâm đến giáo dục, đào
tạo nghề phục vụ yêu cầu CNH-HĐH và XKLĐ nhằm không ngừng cải thiện và nâng
cao mức sống dân cư.
19
Hai là, phát huy nội lực của các địa phương trong tỉnh, tranh thủ cao sự hỗ trợ của
Trung ương, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư bên ngoài (vốn, công nghệ, thị
trường) thông qua các chương trình, dự án đầu tư này đã tạo điều kiện cho lao động
tiếp cận với những công nghệ tiên tiến hiện đại trên thế giới. Đây cũng là cách đào tạo
nghề theo hình thức “cầm tay chỉ việc” làm cho lao động tiếp thu nhanh hơn và hiệu quả
Trên thực tế trong những năm qua các cơ sở đào tạo nghề xuất khẩu lao động ở
các huyện nghèo trên cả nước đã có sự liên kết trong công tác đào tạo. Nhưng thực tế cho
thấy sự kiên kết này còn nhiều bất cập. Cụ thể như: các vùng đồng bào DTTS và miền núi
là những nơi có trình độ dân trí thấp thì đối tượng lao động này cần có một giáo trình đào
tạo riêng, phù hợp với yêu cầu của các nước nhập khẩu lao động. Bên cạnh đó, cần phải
được bố trí đào tạo cùng với những người có trình độ văn hóa tương tự theo nguyện vọng
ngành nghề mà lao động đăng ký từ đầu tại thị trường lao động ở nước ngoài. Nhưng hiện
nay, các đối tượng này được bố trí lồng ghép vào các lớp học nghề trong nước dẫn tới tình
trạng lao động được đào tạo xong vẫn chưa có nghề hoặc tay nghề không đảm bảo so với
yêu cầu lao động động của các thị trường lao động nước ngoài.
Chưa có quy định rõ ràng trong việc cấp vốn vay ưu đãi cho các cở sở đào tạo nghề
xuất khẩu lao động và việc gắn kết trách nhiệm của các cở sở đào tạo với chất lượng đào
tạo và định hướng cho người tham gia xuất khẩu lao động.
Qua nghiên cứu trường hợp của tỉnh Thanh Hóa chúng tôi thấy: Thực tế trong thời
gian qua một số địa phương, ngành chức năng ở các huyện miền núi trong cả tỉnh vẫn chỉ
chú trọng vào công tác đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị. Trong khi đó, việc
tổ chức xây dựng bộ máy điều hành hoạt động của các trung tâm đào tạo còn nhiều lúng
túng. Tình trạng một số trung tâm dạy nghề thiếu thầy, cán bộ quản lý và trang thiết bị
thiếu đồng bộ đã tồn tại nhiều năm mà vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.( Báo cáo tham
luận của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa)
Bên cạnh đó, việc thực hiện trách nhiệm của các cở sở đào tạo nghề XKLĐ vẫn chưa
thực sự nghiêm túc. Công tác đào tạo nghề cho các đối tượng DTTS và miền núi nhiều
nơi vẫn còn mang tính hình thức, chỉ chạy theo thành tích, thiếu tính thực tế và không có
chiều sâu. Công tác định hướng nghề nghiệp cho lao động tại thị trường lao động quốc tế
chưa thực sự phù hợp với trình độ và năng lực của người lao động. Điều này dẫn tới sự
chán nản, bỏ dở của các lao động tham gia đào tạo nghề xuất khẩu lao động.( Báo cáo
Thực trạng đào tạo nghề của Sở LĐ&TBXH tỉnh Thanh Hóa).
4, Một số giải pháp và khuyến nghị.
Nhà nước về XKLĐ, thực hiện tốt các quy định về XKLĐ
Đối với người lao động
- Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, các quy định của Việt Nam và của các nước
đến làm việc. Chấp hành tốt kỷ luật lao động và thực hiện tốt hợp đồng lao động đối với
doanh nghiệp. Không bỏ trốn, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ, góp
phần nâng cao uy tín giữa lao động Việt Nam với thị trường quốc tế.
Đối với công tác tổ chức đào tạo nghề xuất khẩu lao động
Phải có các chương trình giảng dạy phù hợp với yêu cầu của từng khu vực, từng thị
trường, đặc biệt là vùng DTTS và miền núi. Thực hiện kểm tra các cơ sở đào tạo, đảm
bảo chất lượng nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài, nhằm nâng cao uy tín cạnh
tranh của lao động Việt Nam. Cần phải làm cho người lao động thấy được ý nghĩa, vai
trò, trách nhiệm của họ đối với quê hương, đất nước, doanh nghiệp và gia đình khi họ
được chọn ra nước ngoài làm việc.
Giải quyết các vấn đề hậu xuất khẩu lao động
4.2 Nhóm giải pháp cụ thể đối với công tác đào tạo nghề xuất khẩu lao động
22
vùng dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Thanh Hóa
Để đào tạo nghề xuất khẩu lao động cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh
Thanh Hoá đạt kết quả cao xin đề xuất một số giải pháp sau:
Về đào tạo nghề, trung tâm giáo dục thường xuyên ở các huyện miền núi, các
trường nội trú dân tộc cần coi trọng việc dạy chữ với dạy nghề một cách thực chất và hiệu
quả; nội dung chương trình dạy nghề gắn với yêu cầu thực tiễn của xuất khẩu lao động.
Về việc làm, trên cơ sở đào tạo nghề sẽ hình thành được đội ngũ công nhân, có
công nhân bậc thấp, công nhân bậc cao, có công nhân lâm nghiệp, chế biến lâm sản, chăn
nuôi, cơ khí...
Cần có cơ chế chính sách rõ ràng đối với các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn,
khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng và đào tạo lao động tại chỗ. Kịp thời nắm bắt
thức học được từ nước bạn áp dụng xây dựng quê hương.
Kiến nghị đối với tỉnh Thanh Hóa
Đối với UBND tỉnh:
Chỉ đạo các cơ quan chức năng của tỉnh tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và
kiểm định chất lượng dạy nghề cho lao động xuất khẩu vùng DTTS và miền núi. Dựa trên
tiêu chuẩn về chất lượng công tác dạy nghề và những quy định có liên quan, các cơ quan
có trách nhiệm của tỉnh phải thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát các doanh nghiệp
đào tạo XKLĐ để đảm bảo các doanh nghiệp thực hiện theo đúng quy định của Nhà nước,
đảm bảo chất lượng về công tác đào tạo, giáo dục định hướng.
Đối với ban Dân tộc của tỉnh:
Cần tiến hành khảo sát chi tiết các điều kiện cơ sở hạ tầng và trình độ văn hóa của
đồng bào DTTS và miền núi để tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh đầu tư xây dựng hệ
thống cơ sở đào tạo nghề XKLĐ tại các vùng hợp lý hơn.
PHẦN 3 KẾT LUẬN.
Từ nghiên cứu trên ta có thể kết luận lại “ Chính sách đào tạo nghề cho lao
động xuất khẩu ở vùng dân tộc miền núi” nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng
là chính sách quan trọng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Vai trò của
chính sách trên là vô cùng to lớn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và xóa đói
giảm nghèo.
Nghiên cứu trên đã cho thấy được thực tế của công tác đào tạo nghề cho lao
động xuất khẩu ở Việt Nam, khu vực miền núi và tỉnh Thanh Hóa.Thấy được hệ
thống các chính sách liên quan tới việc đào tạo việc làm cho lao động xuất khẩu ở
24
vùng dân tộc và miền núi và đặc biệt ở tỉnh Thanh Hóa.
Nghiên cứu đã trả lời phần nào giúp chúng ta hiểu được những vấn đề trong
việc thực hiện chính sách trên. Cụ thể :
Nhà nước cần tăng thêm biên chế cho các huyện vùng núi. Đồng thời chỉ đạo bố trí
các cán bộ tại các sở LĐTB&XH các tỉnh, thành phố chuyên theo dõi mảng đào tạo nghề
25