Cốt truyện trong văn xuôi dân
tộc và miền núi
Hình thành và phát triển từ những năm 1930 của thế kỉ trước trở lại đây, văn
xuôi dân tộc và miền núi có vị trí khá quan trọng trong nền văn học hiện đại nước nhà.
Do những điều kiện đặc thù về tự nhiên, lịch sử và con người của miền núi, mảng văn
học về đề tài này vừa có những nỗ lực vận động để hoà nhập vào tiến trình văn học
chung, vừa tồn tại những giới hạn và đặc điểm riêng thể hiện ở cả hai phương diện nội
dung và nghệ thuật. Bài viết này xin nêu vài nhận xét về đóng góp và hạn chế của văn
xuôi miền núi thể hiện ở cốt truyện - yếu tố quan trọng hàng đầu của tác phẩm tự sự.
1. Cốt truyện (plot) là “hệ thống sự kiện cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu tư
tưởng và nghệ thuật nhất định tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình
thức động của các tác phẩm tự sự”
(1)
.
Trong thực tế thì các thành phần của cốt truyện không phải khi nào cũng được
trình bày tuần tự theo trật tự nhân quả liền mạch của chuỗi sự kiện. Việc xáo trộn trật
tự trước sau của cốt truyện để tạo ra một trật tự trần thuật theo dụng ý của tác giả là
việc làm quen thuộc nhằm mang lại một hiệu quả nghệ thuật cùng sự hấp dẫn cho tác
phẩm, như Lotman và Uspensky định nghĩa: “Trần thuật là thay đổi, là sự đổi thay vị
trí của các yếu tố trong nội bộ cốt truyện”
(2)
. Việc mở đầu tác phẩm bằng hiện tại rồi
ngược về quá khứ, bắt đầu khi sự kiện đã xảy ra rồi đi tìm nguyên nhân, nguồn cội của
nó (hay từ phát triển quay lại thắt nút) là kiểu trần thuật phổ biến thường gặp. Một số
Truyện của Nguyễn Huy Thiệp là ví dụ - thường bắt đầu bằng một thời điểm quá khứ
từ cái nhìn hồi cố của người kể chuyện, rồi kể ngược trở lại về phía hiện tại theo dòng
tuyến tính, chẳng hạn sự mở đầu củaNhững người thợ xẻ: “Ít năm trước đây, tôi theo
chân một toán thợ xẻ lên miền ngược kiếm ăn ”; hay Truyện tình kể trong đêm mưa:
“Hồi ở Tây Bắc, tôi có quen một người Thái tên là Bạc Kỳ Sinh ”. Truyện của
Nguyễn Huy Thiệp hiếm khi chen quá khứ vào hiện tại, cứ thủng thẳng, tuần tự từng
việc mà kể, diễn biến của truyện được triển khai từ những khởi điểm về thân thế, quan
hệ của nhân vật và không gian truyện. Lối trần thuật này có điểm gặp gỡ với Ma Văn
Kháng. Tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xoè và phần lớn các truyện ngắn đặc sắc về
miền núi của Ma Văn Kháng như Vệ sĩ của quan châu, Móng vuốt thời gian, Hoa gạo
đỏ, Seo Ly, kẻ khuấy động tình trường, Mã Đại Câu, người quét chợ Mường Cang, San
Cha Chải được tổ chức trần thuật theo trình tự: giới thiệu lịch sử, địa lí, thiên nhiên,
quang cảnh vùng đất trong tác phẩm; giới thiệu lai lịch, diện mạo, tính cách và hoàn
cảnh của nhân vật (thường khái quát, điểm nét); về cơ bản tôn trọng quan hệ nhân quả
khi trình bày các sự kiện, ít có sự phá vỡ lôgíc thời gian và lôgíc hiện thực theo quan
niệm thông thường. Phương thức tự sự này phù hợp với tính minh bạch về chủ đề - tư
tưởng vốn là đặc điểm nổi bật của tác phẩm Ma Văn Kháng, đồng thời thích ứng với
tầm đón nhận và tư duy truyền thống của nhiều độc giả miền núi, tuy khó tránh khỏi
đơn điệu.
Xét theo tiêu chí thời gian, loại cốt truyện phổ biến nhất ở mảng văn xuôi dân
tộc thiểu số là cốt truyện tuyến tính (tự sự theo mạch thẳng thời gian, duy trì quan hệ
nhân quả). Thực tế khảo sát cho thấy trong các tác phẩm ở mảng này thời gian trần
thuật thường trùng với thời gian cốt truyện. Đây là đặc điểm tất yếu của một khu vực
văn học chưa đoạn tuyệt hẳn với những chi phối nặng nề của văn học dân gian trong đó
có kết cấu khép kín của truyện thơ dân tộc. Việc trần thuật theo dòng tuyến tính sẽ
giúp cho độc giả là người dân tộc thiểu số dễ theo dõi, nắm bắt nội dung ý nghĩa của
truyện nhưng cơ hội đem lại những hiệu quả thẩm mĩ từ sự so le giữa diễn biến cốt
truyện với trật tự trần thuật đã bị bỏ phí. Đây là hạn chế rõ rệt của văn xuôi miền núi.
Vi Hồng có ý thức sớm về điều này nên ở Vãi Đàng đã tạo ra những đảo lộn thời gian
nhất định (truyện dài này mở đầu bằng hình ảnh cô Đàng khi đã về già, vào một ngày