LUẬN VĂN:
Chương trình Dân tộc và Miền
núi trên sóng Đài Truyền hình
Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước Việt Nam ta có 54 dân tộc anh em. Trong số hơn 86 triệu dân số thì đồng
bào các dân tộc thiểu số và miền núi chiếm tới 14, 2 triệu người. Vùng có nhiều đồng bào
các dân tộc thiểu số và miền núi sinh sống là Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và
miền Trung. Đây cũng là vùng có nhiều khó khăn về địa hình, về điều kiện phát triển
kinh tế - xã hội (KT-XH) và vùng bị tranh chấp thông tin.
Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách lớn
khẳng định tầm quan trọng có ý nghĩa chiến lược của vấn đề dân tộc và miền núi trong sự
nghiệp bảo vệ tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đổi mới đất nước. Sự quan tâm
đó được tiến hành trên tất cả các lĩnh vực chính trị, KT-XH. Đời sống vật chất, tinh thần
của đồng bào dân tộc từng bước được cải thiện, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
được giữ vững.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch trong nước và quốc tế luôn tìm cách lợi dụng
truyền hình: tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát
thanh truyền hình bằng các tiếng dân tộc thiểu số [6].
Đổi mới thông tin nói chung, trong đó tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng
thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện
nay đối với Đài THVN. Trước hết cần đánh giá đúng thực trạng, tìm ra những ưu điểm,
nhược điểm; đồng thời, đề ra những giải pháp khắc phục, nâng cao hơn nữa chất lượng và
hiệu quả của thông tin tuyên truyền phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, góp
phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Với những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: "Chương trình Dân tộc và Miền
núi trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam" cho luận văn Thạc sỹ Truyền thông đại
chúng của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Những năm qua, vấn đề dân tộc và miền núi đã được nhiều tác giả, nhiều công
trình nghiên cứu đề cập với nhiều góc độ khác nhau.
Trên lĩnh vực báo chí truyền thông, đáng chú ý có các công trình sau:
- Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Xuân An Việt về "Thông tin về dân tộc miền núi
trên VTV1- Đài Truyền hình Việt Nam" năm 2001, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền,
đã khảo sát chương trình về đề tài dân tộc miền núi của Đài THVN trong 3 năm 1999 -
2001. Qua khảo sát, tác giả đưa ra các giải pháp cụ thể nâng cao chất lượng chương trình,
nhằm tăng cường hiệu quả thông tin về vấn đề dân tộc miền núi của Đài THVN.
- Năm 2005, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Phạm Ngọc Bách đã bảo vệ luận văn
thạc sỹ với tiêu đề "Chương trình Dân tộc và Miền núi trên sóng VTV1- Đài Truyền hình
Việt Nam". Trong luận văn này, tác giả đã khảo sát các chương trình dân tộc và miền núi từ
tháng 01-2004 đến tháng 06-2005 đồng thời đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng
chương trình.
Trong cuốn “Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX” Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội xuất bản năm 2001, gồm nhiều bài viết của một số tác giả về sự phát triển các dân
tộc thiểu số; chính sách dân tộc; xây dựng phát triển kinh tế, đời sống văn hoá - xã hội,
bảo vệ tổ quốc của đồng bào các dân tộc thiểu số. Trong đó có bài "Sự nghiệp phát
Trên cơ sở lý luận báo chí và thực tiễn sản xuất, phát sóng các sản phẩm của
chương trình Dân tộc và Miền núi, luận văn để xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao
chất lượng, hiệu quả của việc tuyên truyền đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
trên sóng Đài THVN.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề Dân tộc và
Miền núi
- Khảo sát Chương trình Tạp chí Dân tộc và Phát triển trên sóng VTV1 và thực tế
hoạt động sản xuất chương trình Dân tộc và Miền núi nói chung trên sóng Đài THVN.
- Phân tích kinh nghiệm, phát hiện vấn đề và những yếu tố ảnh hưởng đến chất
lượng chương trình, đề xuất các giải pháp, nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng Chương trình
Tạp chí Dân tộc và Phát triển trên sóng Đài THVN.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Chương trình Dân tộc và Miền núi trên sóng
Đài truyền hình Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi giới hạn phạm vi khảo sát các chương
trình được phát sóng trong Chương trình Tạp chí Dân tộc và Phát triển trên của Đài
THVN do Ban truyền hình tiếng dân tộc đảm nhiệm.
Thời gian khảo sát từ tháng 05-2008 đến tháng 05-2009.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Phương pháp luận của luận văn dựa trên cơ sở quan điểm triết học Mác - Lênin,
mà nền tảng là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các phân tích
đánh giá trong đề tài dựa trên quan điểm báo chí vô sản, tư tưởng Hồ Chí Minh về đường
lối dân tộc; dựa vào đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đối với vấn đề
dân tộc và miền núi; cũng như quan điểm của Đảng về vai trò của báo chí trong đời sống
văn hóa xã hội để làm căn cứ trong quá trình nghiên cứu.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DÂN TỘC VÀ MIỀN NÚI Ở NƯỚC TA 1.1. DÂN TỘC VÀ MIỀN NÚI TRONG SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN ĐẤTNƯỚC
1.1.1. Khái niệm về Dân tộc và Miền núi
Hiện nay, khái niệm “dân tộc” còn có nhiều ý kiến khác nhau. Điều đó một
phần là do vấn đề dân tộc được xem xét từ nhiều quan điểm, lập trường và giác độ
khái niệm dân tộc như sau:
Khái niệm dân tộc thông thường được dùng để chỉ hầu như tất cả các
hình thức cộng đồng người (bộ lạc, bộ tộc, dân tộc). Cần phân biệt "dân tộc"
theo nghĩa rộng trên đây với "dân tộc" theo nghĩa khoa học: đó là hình thức
cộng đồng người cao hơn các hình thức cộng đồng trước đó, kể cả bộ tộc.
Cũng như bộ tộc, dân tộc là hình thức cộng đồng người gắn liền với xã
hội có giai cấp, có nhà nước và các thể chế chính trị. Dân tộc có thể từ một bộ
tộc phát triển lên, song, đa số trường hợp được hình thành trên cơ sở nhiều bộ
tộc và tộc người hợp nhất lại. Từ hình thức cộng đồng trước dân tộc phát triển
lên dân tộc là một quá trình vừa có tính liên tục vừa là bước nhảy vọt lớn [34,
tr. 475-476].
Từ những nội dung trên có thể khái quát rằng: dân tộc là một khái niệm đa nghĩa,
nhưng có hai nghĩa chính: hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một quốc gia, hoặc để chỉ
cộng đồng dân cư của một tộc người. Sự liên kết cộng đồng dân tộc được tạo nên từ yếu
tố có chung ngôn ngữ, văn hóa, lãnh thổ và biểu hiện thành ý thức tự giác tộc người. Xét
cho cùng, nền tảng của sự liên kết mà các yếu tố trên tạo nên là trình độ phát triển kinh
tế. Bởi vì, tính chất của dân tộc bao giờ cũng phụ thuộc vào phương thức sản xuất.
Ngoài ra nhiều ý kiến còn nhấn mạnh, dù hiểu theo nghĩa nào thì dân tộc cũng vừa
là một cộng đồng người, vừa là một cộng đồng chính trị- xã hội-tộc người. Có thể định
nghĩa khái quát: dân tộc là một cộng đồng chính trị-xã hội- tộc người. Quan niệm này tạo
nên một ranh giới rõ rệt để phân biệt khái niệm dân tộc với sắc tộc, bởi vì khái niệm sắc
tộc thường dùng để chỉ các tộc người da màu [53, tr. 199]. Quan niệm này cũng cho phép
phân biệt khái niệm dân tộc với khái niệm chủng tộc, vì khái niệm chủng tộc thường dùng
để chỉ sự khác nhau về cấu tạo tự nhiên của con người [35, tr. 529].
Dân tộc và Miền núi - đây là cách gọi ngắn gọn khi chúng ta dùng để chỉ toàn bộ
các dân tộc thiểu số và các vấn đề liên quan đến miền núi, cao nguyên, vùng cao. Gọi
như thế này để dễ dàng trong giao tiếp và nhằm khu biệt với những nội dung khác. Hiện
nay, cụm từ này đang được dùng phổ biến trong các đường lối chính sách của Đảng, Nhà
nước ta.
còn nhiều hạn chế, yếu kém. Hiện nay, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang phải
đối mặt với nhiều cam go, thách thức, trước hết là đói nghèo. Ba vùng nghèo nhất là Tây
Nguyên, Bắc Trung Bộ và miền núi phía Bắc.
1.1.2.2. Những khác biệt
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo, lạc hậu ở hầu hết các
vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta là: sự khác biệt về năng lực, và sự khác biệt về
ngôn ngữ.
Sự khác biệt về năng lực
- Rào cản lớn nhất để đạt tới sự thành công chính là giáo dục. Các dân tộc thiểu số
và miền núi được tiếp cận ít hơn nền giáo dục có chất lượng. Do vậy, kết quả học tập của
họ cũng thấp hơn. Tỷ lệ học sinh bỏ học vẫn còn cao trong cộng đồng các dân tộc thiểu
số và miền núi. Họ có xu hướng đi học muộn hơn ở bậc tiểu học và còn thiếu tiếp cận
giáo dục bậc mầm non. Kết quả là tỷ lệ mù chữ và không thông thạo tiếng Việt ở người
dân tộc thiểu số cao, từ đó cản trở khả năng tương tác của họ.
Nhiều người dân tộc thiểu số, đặc biệt là người già và phụ nữ, không biết đọc biết
viết, thậm chí không biết nói tiếng Việt. Điều này hạn chế khả năng tiếp cận và chia sẻ
thông tin; đồng thời là trở lớn trọng tới năng lực của họ trong suốt cả cuộc đời.
- Rào cản khác ngăn cản khả năng mở rộng năng lực là việc thiếu tính di chuyển
và ít kinh nghiệm hòa nhập về một thế giới rộng lớn. Các dân tộc thiểu số và miền núi ít
di chuyển hơn so với người Kinh. Điều đó hạn chế tới khả năng quan sát, học hỏi các ý
tưởng và công nghệ mới của họ.
- Khả năng hành động cũng bị hạn chế bởi yếu tố văn hóa. Nhiều người dân tộc
thiểu số tự nhận ra những khác biệt về văn hóa giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số
trong các hoạt động giao dịch mua bán ở chợ, ở trường học hay ở các hoạt động xã hội
khác.
Sự khác biệt về ngôn ngữ
Trong "các cuộc thảo luận nhóm tập trung trên khắp cả nước, các nhóm
dân tộc thiểu số thường bày tỏ rằng họ "không tự tin" và "e ngại" khi lui tới
các khu chợ, đòi giá cao hơn cho hàng hóa của mình, đòi hỏi các dịch vụ của
giúp đỡ, tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc phát huy được nội lực, phấn đấu vượt qua
đói nghèo, vươn lên từng bước hòa nhập vào sự phát triển chung của cả nước.
Nghị quyết 22/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 27-11-1989 "Về chủ trương chính
sách lớn phát triển kinh tế- xã hội miền núi" đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ trong
quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc và miền núi, Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ) đã có quyết định số 72/QĐ-HĐBT, ngày 13-3-1990 "Về một số chủ trương,
chính sách cụ thể phát triển KT-XH miền núi" quy định rõ những nội dung đổi mới cơ
cấu kinh tế và tổ chức sản xuất ở miền núi theo hướng chuyển sang kinh tế hàng hóa phù
hợp với đặc điểm từng vùng, từng tiểu vùng, từng dân tộc, gắn phát triển kinh tế với vấn
đề dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và củng cố an ninh, quốc phòng.
Ngày 31 tháng 12 năm 2001, Thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định số 1637/QĐ-
TTg về việc cấp một số loại báo, tạp chí của 17 tòa soạn báo được Chính phủ cấp kinh phí
xuất bản để phát hành không thu tiền đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ngày
20 tháng 7 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 975/QĐ-TTg thay
thế Quyết định 1637 nhưng nội dung không thay đổi. Đến nay, các báo, tạp chí phục vụ
riêng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thuộc diện thụ hưởng của Quyết định 975
đang phát huy hiệu quả tuyên truyền, được đồng bào ghi nhận.
Có thể nói, thông tin nói chung và thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và
miền núi nói riêng luôn được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cơ quan báo chí và
sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân.
Cả trong thời kỳ chiến tranh và trong thời kỳ đổi mới hiện nay, thông tin về lĩnh
vực này luôn được coi trọng góp phần rút ngắn khoảng cách giữa miền ngược và miền
xuôi. Thông tin giúp đồng bào nắm bắt được chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước; nhanh chóng xóa đói, giảm nghèo, từng bước vươn lên làm
giàu,…
1.2.1.2. Vai trò
Ngay từ khi thành lập, Đảng ta trên cơ sở nguyên lý của chủ nghĩa Mác -Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh đã coi trọng vấn đề dân tộc, coi đây là một bộ phận quan trọng của
sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về
công tác dân tộc đưa ra mục tiêu đến năm 2010:
Phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống đồng bào các
dân tộc. Đến năm 2010, các vùng dân tộc và miền núi cơ bản không còn hộ đói,
giảm hộ nghèo xuống dưới 10%; giảm dần khoảng cách mức sống giữa các dân
tộc, các vùng; trên 90% hộ dân có đủ điện, nước sinh hoạt; xóa tình trạng nhà
tạm, nhà dột nát; 100% xã có đường ôtô đến trung tâm xã; cơ bản không còn xã
đặc biệt khó khăn.
Nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc sức khỏe, nâng cao mức hưởng thụ
văn hóa của đồng bào: hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; nâng cao
chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo; đẩy mạnh việc dạy và học tiếng dân
tộc. Hầu hết đồng bào nghèo vùng sâu, vùng xa được tiếp cận dịch vụ chăm
sóc sức khỏe; tiếp tục khống chế, tiến tới loại bỏ dịch bệnh ở vùng dân tộc.
Phấn đấu 90% đồng bào được xem truyền hình; 100% được nghe đàiphát
thanh; các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu
số được bảo tồn và phát triển [6].
Thực hiện mục tiêu trên, Nghị quyết nêu nhiệm vụ:
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình phủ sóng phát thanh,
truyền hình, tăng cường các hoát động văn hóa, thông tin tuyên truyền hướng
về cơ sở; tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh,
truyền hình bằng các tiếng dân tộc thiểu số; làm tốt công tác nghiên cứu, sưu
tầm, giữ gìn và phát huy các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hóa các dân
tộc [6].
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta đã nêu: "Phát triển
mạnh và nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình, xuất
bản và phát hành sách trên tất cả các vùng, chú ý nhiều hơn đến vùng sâu, vùng xa, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số" [25, tr, 214].
Những năm gần đây, việc nâng cao mức hưởng thụ văn hóa tinh thần cho nhân
dân, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc được Đảng và Nhà nước, các cấp, các
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí [7]
Sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc luôn được Đảng và Bác Hồ quan tâm và coi trọng.
Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam năm 1946, Bác viết:
Đồng báo Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Lai hay Ê Đê, Xê
Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam,
đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau,
no đói giúp nhau…Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết
của chúng ta không bao giờ giảm bớt [49].
Khẳng định vai trò và nhiệm vụ của báo chí trong sự nghiệp đổi mới, Nghị quyết
Đại hội lần thứ IX của Đảng đã nêu rõ:
Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng. Báo chí,
xuất bản… làm tốt chức năng tuyên truyền, thực hiện đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước; phát hiện những nhân tố mới, cái hay, cái
đẹp trong xã hội; giới thiệu gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên
tiến, phê phán các hiện tượng tiêu cực, uốn nắn những nhân tố lệch lạc, đấu
tranh với những quan điểm sai trái; coi trọng, nâng cao tính chân thật, tính
giáo dục và tính chiến đấu của thông tin [32].
1.2.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn coi dân tộc và miền núi có tầm chiến lược
quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới của đất
nước.
Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị (ngày 27-11-1989) "Về chủ trương chính sách lớn
phát triển KT-XH miền núi" đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ trong quá trình tổ chức
thực hiện chính sách dân tộc và miền núi của Đảng và Nhà nước; đồng thời đưa ra các
quan điểm, chủ trương, đường lối cho việc phát triển KT-XH vùng dân tộc và miền núi.
Thể chế hóa Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị và Quyết định 72 của Hội đồng Bộ
trưởng, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị 525/CT - TTg "Về một số chủ trương, biện
pháp tiếp tục phát triển KT-XH miền núi" nhằm thúc đẩy việc thực hiện Nghị quyết 22,
Quyết định 72 và quán triệt tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ 5 (khóa VII) về
truyền nâng cao nhận thức cho đồng bào các dân tộc về phát triển kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần, phù hợp với đặc điểm, điều hiện từng vùng, đảm bảo cho đồng bào khai thác
ngày càng hiệu quả thế mạnh của địa phương, làm giàu cho mình và đóng góp tích cực
vào sự nghiệp của đất nước trong thời kỳ đổi mới.
Báo chí đã thông tin đầy đủ về những chính sách ưu tiên cho miền núi, đặc biệt
trong lĩnh vực phát triển giáo dục và đào tạo, coi trọng đào tạo cán bộ và đội ngũ trí thức
người dân tộc thiểu số. Đồng thời, tuyên truyền rộng rãi trong đồng bào, giúp họ thấy, họ
hiểu và họ phát huy tốt hơn nữa những giá trị văn hóa cộng đồng các dân tộc Việt Nam
và của từng dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; góp phần vào việc xây dựng
giữ gìn nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội
nhập.
Đối với lĩnh vực an ninh quốc phòng, Đảng, Nhà nước ta khẳng định sức mạnh
quốc phòng, an ninh phụ thuộc trước hết vào sự ổn định chính trị, đẩy mạnh sự nghiệp
đổi mới; bảo vệ tổ quốc gắn liền với bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân
dân…Do đó, thực hiện đầy đủ chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực an
ninh quốc phòng chính là tăng cường sức mạnh bảo vệ tổ quốc trên địa bàn đồng bào dân
tộc.
1.2.3. Yêu cầu của thông tin đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Từ mục tiêu, nhiệm vụ trên, thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số cần đáp
ứng những yêu cầu sau:
- Đảm bảo đúng quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.
- Đảm bảo tính chính xác kịp thời.
- Phát huy thế mạnh tổng hợp trên hai lĩnh vực: Thông tin nhanh nhạy, chính xác,
phương tiện thông tin phong phú: báo in, báo nói, báo hình.
- Đáp ứng nhu cầu của đồng bào: giản dị, ngắn gọn, dễ hiểu.
- Thông tin về chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình chung cho đối tượng là
đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa.
- Thông tin về dân tộc và miền núi cho khán giả trong và ngoài nước.
Báo chí cần có định hướng rõ ràng, xác định nội dung cần phản ánh, đúng thời
Nhiều năm qua, báo chí nước ta đã góp phần tích cực vào nhiệm vụ nâng cao trình
độ dân trí, nhận thức và phổ biến kiến thức cho đồng bào vùng dân tộc miền núi. Hiện
nay, đồng bào các dân tộc ở miền núi rất coi trọng thông tin báo chí trên các tờ báo, tạp
chí; các chương trình phát thanh, truyền hình… Đối với họ báo chí chỉ nói những điều
đúng, điều tốt đẹp, vừa là người bạn vừa là người thầy rất gần gũi.
Báo chí đã định hướng, tăng cường thông tin tuyên truyền nâng cao nhận thức, phổ
biến kiến thức phổ thông góp phần thay đổi mặt bằng dân trí, xóa bỏ sự cách biệt giữa miền
núi và đồng bằng. Con em đồng bào được đến trường. Tỷ lệ người đọc thông viết thạo tiếng
phổ thông ngày càng cao. Tỷ lệ mù chữ của đồng bào đã giảm hẳn. Sự thay đổi đã hiện rõ
trong cuộc sống đời thường của bà con như nằm ngủ phải mắc màn, biết cách phòng và
chống các bệnh đơn giản, có hiểu biết về sinh sản và dinh dưỡng; biết tiếp thu kiến thức chăn
nuôi, trồng trọt,… biết áp dụng vào thực tế.
Những thành công của công tác thông tin tuyên truyền báo chí đã góp phần ổn
định tình hình chính trị, an ninh quốc phòng ở vùng dân tộc miền núi. Các vấn đề dân tộc,
tôn giáo, xung đột sắc tộc… đã được giải quyết và tự giải quyết. Đặc biệt, những âm mưu
thủ đoạn của các thế lực thù địch, chống phá Nhà nước xã hội chủ nghĩa được ngăn chặn
từ gốc.
Có thể nói thông tin nói chung và thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và
miền núi nói riêng luôn được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cơ quan báo chí và
sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân. Thông tin đã rút ngắn khoảng cách các địa phương
giữa miền ngược và miền xuôi. Thông tin giúp đồng bào nắm bắt được chủ trương,
đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; giúp đồng bào nhanh chóng xóa đói, giảm
nghèo, phê phán những hủ tục lạc hậu.
Cùng với việc tăng thời lượng, chương trình, mở rộng phạm vi phát sóng, mở rộng
phạm vi phát hành báo chí đưa thông tin kịp thời phục vụ đồng bào các dân tộc thiểu số,
các cơ quan báo chí đã quan tâm đến hình thức thể hiện chương trình, nội dung và chất
lượng thông tin. Các tin, bài, phóng sự đã hướng tới nhóm độc giả đặc thù. Từ đó khẳng
định sự đúng đắn và thành công của quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước ta đối với đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi.
Tháng 01-2004, kênh VTV5 được tách hẳn thành một kênh độc lập, đánh dấu
bước phát triển mới của Ban. Thời lượng chương trình tăng gấp đôi, từ 4h/ngày lên
8h/ngày, phát sóng bằng 11 thứ tiếng. Do có sự sắp xếp lại nhân sự, đội ngũ phóng viên,
biên tập viên chuyên trách về mảng dân tộc miền núi, nên chương trình đã phát huy được
hiệu quả từng, bước nâng cao chất lượng chương trình.
Được Chính phủ phê duyệt, năm 1995 Đài THVN đã triển khai chương trình
truyền hình bằng các thứ tiếng dân tộc ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền
Trung và miền Tây Nam Bộ. Trong điều kiện khó khăn về giao thông, phương tiện kỹ
thuật, nguồn điện không ổn định…song, với quyết tâm phục vụ đồng bào, dự án "Đưa
truyền hình về vùng núi, vùng cao" đã cấp được gần 36 nghìn máy thu hình cho 4000
nghìn xã và trang bị cho trên 180 điểm xem TVRO, đạt gần 70% kế hoạch. Dự án "Phủ
sóng truyền hình vùng lõm" đã xây dựng được gần 300 trạm phát lại truyền hình cho 43
tỉnh, cung cấp hàng chục nghìn máy thu hình cho bà con. Mục tiêu của dự án đến năm
2010, sẽ phủ 100% sóng truyền hình trên cả nước.
Năm 2005, thời lượng chương trình truyền hình tiếng dân tộc là 10h/ngày. Năm
2006: 14h/ngày. Năm 2007: 14h/ngày với 13 thứ tiếng. Năm 2008: phát sóng trên VTV5
16h/ngày.
Từ ngày 01-01-2006 đến nay, VTV5 tiếp tục tăng thời lượng phát sóng lên 12
giờ/ngày (tăng 2 giờ/ngày so với năm 2005 và gấp 3 lần so với giai đoạn phát sóng thử
nghiệm). Song song với việc tăng thời lượng, chất lượng chương trình cũng được từng
bước cải tiến. Nội dung chương trình ngày càng sát với đời sống thực tế của bà con dân
tộc thiểu số.
Hiện nay, ngoài chương trình truyền hình bằng tiếng phổ thông, một số vùng có
đồng bào dân tộc, nhiều đài phát thanh - truyền hình địa phương, Đài THVN thường trú
tại các khu vực đã tổ chức sản xuất và phát sóng các chương trình bằng tiếng dân tộc.
Thông qua các chương trình truyền hình tiếng dân tộc, bà con học tập và làm theo
truyền hình nên đã góp phần nâng cao hiệu quả về các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội
cũng như an ninh quốc phòng. Nhiều điển hình tiên tiến, nhiều gương người tốt việc tốt là
đồng bào dân tộc thiểu số có tác dụng động viên rất lớn trong cộng đồng.