Cốt truyện trong văn xuôi dân
tộc và miền núi Hàng loạt tác phẩm của Triều Ân, Nông Minh Châu, Hoàng Hạc, Vi Hồng, Sa
Phong Ba, Bùi Nguyên Khiết, Đặng Quang Tình trong những thập niên 50 - 80 của thế
kỉ trước có chung môtíp cốt truyện: cái mới (thường được đại diện bởi một cô gái hoặc
một lớp thanh niên) đấu tranh với cái cũ (thường là ông bố, phía sau là thầy mo và
những kẻ bảo thủ khác); cái mới đi tiên phong, năng động tìm tòi, dũng cảm vượt qua
những cản trở, bài xích; cái cũ bị tác động, lay chuyển, dẫn đến thay đổi trong nhận
thức hoặc buộc phải lùi bước trước cái mới. Từ lối mòn công thức này, nhiều cốt
truyện quen thuộc, dễ đoán đã ra đời: ké Nàm bảo thủ đã bị chinh phục bởi viễn cảnh
tươi sáng của vùng thủy điện Thác Bà qua lời đám thanh niên, bởi cuộc sống mới hé
mở qua công cuộc khai hoang mà con gái ké cùng mọi người đang tiến hành (Ké Nàm -
Hoàng Hạc); ông Lử cổ hủ phải nghĩ lại về chủ trương phá nhà cúng ma để trồng rừng
ở xã mình do cô con gái học lâm nghiệp về khởi xướng, sau khi tận mắt chứng kiến
những thay đổi đáng kinh ngạc ở xã khác (Lòng rừng - Sa Phong Ba); mâu thuẫn giữa
bố con ông Pản về ý thức bảo vệ rừng được xoá bỏ, và ông đã hoàn toàn tỉnh ngộ sau
trận cháy khủng khiếp tàn hại rừng núi quê hương (Lửa rừng - Đặng Quang Tình) Sự
phân tuyến rạch ròi tốt - xấu, chính - tà và môtíp cái mới phải thắng cái cũ, ta phải
thắng địch, nhân vật chính diện gặp khó khăn thường dễ vượt qua đã đem lại sự đơn
điệu không chỉ riêng cho văn xuôi miền núi mà là nhược điểm chung của văn học một
thời.
3. Cốt truyện theo quan niệm truyền thống bao gồm các thành phần chính là thắt
nút, phát triển, cao trào, mở nút. Hạn chế trong cốt truyện của văn xuôi dân tộc thiểu
những số phận bi thảm éo le là miền đất vàng mời gọi nhà văn tạo dựng những tình
huống độc đáo cho tác phẩm. Tâm thế của Mỵ sau khi cởi trói cho A Phủ: ở lại và chết
thay cho người vừa được giải phóng, hay chạy trốn theo cùng? (Vợ chồng A Phủ - Tô
Hoài); nỗi đau đớn của Tnú khi nấp ở gốc cây, chứng kiến cảnh vợ con hứng chịu cơn
mưa gậy sắt (Rừng xà nu -Nguyên Ngọc); Pao trong tình thế tuyệt vọng chỉ còn hai lựa
chọn trong vòng một giây: hoặc chịu chết bởi tay kẻ thù, hoặc liều mình nhảy xuống
vực sâu với một tia hi vọng sống sót (Vùng biên ải - Ma Văn Kháng); Đàng sau lễ
“tống ma gà” bị xích chân trên mảng thả trôi sông, xung quanh đầy hiểm nguy rình rập
(Vãi Đàng - Vi Hồng) đều là những tình huống căng thẳng khai sinh từ những xung
đột làm nền cho cốt truyện. Đó là xung đột giữa các giai cấp, lực lượng xã hội, xung
đột giữa các tính cách, xung đột giữa tính cách và hoàn cảnh vốn luôn tiềm tàng
trong lịch sử đầy bóng tối và sương mù của miền núi. Những tình huống này cũng
thường tương ứng với thành phần cao trào (hay đỉnh điểm) của cốt truyện, là sự kiện
thử thách cao nhất, tột cùng đối với nhân vật, “đánh dấu thời điểm mà xung đột của cốt
truyện phát triển đến giới hạn gay gắt, quyết liệt nhất”
(3)
. Miền núi trong lịch sử đấu
tranh cách mạng vốn không hiếm những chuyện đời dữ dội, những tình cảnh ngặt
nghèo, những thử thách nghiệt ngã, những quyết định lớn lao, nhưng đáng tiếc là chưa
nhiều tác phẩm tận dụng được những cơ hội vàng để tạo tình huống cho cốt truyện.
Truyện Đoạn đường ngoặt của Nông Viết Toại đặt ra được tình huống khá đặc biệt
(trong giờ khắc nghiêm trọng của cuộc đời, nhân vật Lưu phải lựa chọn giữa hai con
đường: đi và ở, lí tưởng cách mạng và vợ con) nhưng cũng như nhiều trường hợp thiếu
kinh nghiệm nghệ thuật khác, tình huống được chạm tới mà chưa được khơi sâu mài
sắc nên sức căng và tính gay cấn của nó bị giảm nhẹ. Tiểu thuyết Người trong ống của
Vi Hồng có tình huống đời thường mà li kì, độc đáo: nhân vật Tú (con người khắc kỉ,
gạt bỏ mọi cám dỗ để theo đuổi lí tưởng riêng của mình) phải thực hiện một phong tục
kì lạ là ở chung ba đêm giữa chốn nhung lụa xa hoa với người con gái quyền quý xinh
đẹp, nếu không cưỡng được lòng mình mà “khai nụ, xâu hoa” thì phải cưới nàng. Tình
huống thử nghiệm bản lĩnh này được tác giả thể hiện trong một thời gian nghệ thuật hết
xương, thì những yếu tố “ngoài lề” như thế này là máu thịt. Chúng góp phần đắp bồi
nhung tuyết cho tác phẩm. Thực tiễn văn học cho thấy những tác phẩm ưu tú thường
giàu yếu tố ngoài cốt truyện, còn những tác phẩm chỉ quan tâm đến việc kể lại cốt
truyện với một chuỗi sự kiện khô gầy (như một số truyện ngắn buổi đầu của các tác giả
dân tộc thiểu số) sẽ không tránh khỏi sơ lược, nhợt nhạt và đôi khi không phân định
được rõ rệt đường biên giữa truyện và kí.
5. Nếu lấy điểm tựa từ những tiêu chí khác nhau để phân loại, có thể thấy trong
quá trình phát triển của mình, văn xuôi miền núi đã có sự làm quen với không ít những
hình thức cốt truyện. Ở buổi bình minh khai vỡ của văn xuôi miền núi, loại cốt truyện
chiếm ngôi vị độc tôn là loại pha trộn giữa cốt truyện trinh thám và cốt truyện kinh dị.
Các truyện ngắn, truyện vừa của Thế Lữ và Tchya Đái Đức Tuấn như Đêm
trăng, Vàng và máu, Thần hổ, Ai hát giữa rừng khuya đều mang đặc trưng của loại
này. Sang giai đoạn văn học cách mạng, trong văn xuôi miền núi chủ yếu tồn tại loại
cốt truyện kịch tính tập trung vào các xung đột khai thác từ hiện thực cuộc cách mạng
dân tộc - dân chủ. Cốt truyện kịch tính gắn với cái nhìn nhị nguyên, đặt các sự vật hiện
tượng trong thế đối lập giữa thiện - ác, cao cả - thấp hèn, ánh sáng - bóng tối. Những
năm gần đây văn xuôi miền núi vừa kế thừa những hình thức cốt truyện truyền thống
vừa bổ sung thêm tính chất của những kiểu cốt truyện mới, chẳng hạn cốt truyện huyễn
ảo (đan xen các yếu tố hoang đường với yếu tố thật) và cốt truyện ghép mảnh (được
ghép từ nhiều mảnh nhỏ lại với nhau) như các truyện ngắn Những ngọn gió Hua
Tát của Nguyễn Huy Thiệp, Kí ức rừng xanh của Kim Nhất, Hoa cẩm tú cầu ứng
mệnh của Phạm Duy Nghĩa (các truyện này có sự dung hoà đặc điểm của hai loại cốt
truyện trên), cốt truyện mở (có kết thúc mở, bỏ lửng, không xác định) như truyện
ngắn Người săn gấu của Cao Duy Sơn, cốt truyện đa nghĩa (mang nghĩa nổi, nghĩa
chìm) như truyện ngắn Thiên truyện cổ của Hồ Thủy Giang. Cũng là truyện ngắn
nhưng các truyện của La Quán Miên được nén chặt trong một cấu trúc tiết kiệm, tối
giản đến mức không thể bỏ một chi tiết, một câu, không thể rút gọn hơn được nữa. Đó
là kiểu cốt truyện ngụ ngôn, một cách kí thác thông điệp rất dân gian nhưng cũng rất
riêng của La Quán Miên. Trong khi chưa xuất hiện những tiểu thuyết miền núi có dấu
hiệu mới về cách viết thì truyện ngắn tỏ ra có khả năng bén nhạy hơn trong việc làm