VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH VĂN TÁM
GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH VĂN TÁM
GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
nghề, giải quyết việc làm cho thanh niên ở Thành phố Đà Nẵng .................. 38
CHƢƠNG 3. NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO NGHỀ, TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG ..................................................................................................... 53
3.1. Định hướng chung ................................................................................... 53
3.2. Mục tiêu ................................................................................................... 54
3.3. Nội dung để nâng cao chất lượng-tính khả thi của các giải pháp chính
sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho thanh niên thành phố Đà Nẵng . 54
KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN ..................................................................... 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ LĐ-TB&XH
: Bộ Lao động – Thương binh và xã hội
CN
: Công nghiệp
CNH – HĐH
: Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CSDN
: Chính sách doanh nghiệp
ĐTN
Sở LĐ-TB&XH
: Sở Lao động - Thương binh và xã hội
THCS
: Trung học cơ sở
TN
: Thanh niên
TP
: Thành phố
UBND
: Ủy ban nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới và hơn 25 năm thực
hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(năm 1991), Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn, hết sức quan
trọng trong việc xây dựng và phát triển đất nước. Cũng trong quá trình đó,
Việt Nam đã từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới với việc gia nhập
các tổ chức thương mại: WTO, ASEAN, ASEM…Tất cả những chuyển động
lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động năm 2016 là 1,64%,
trong đó khu vực thành thị là 0,73%; khu vực nông thôn là 2,10%. Bên cạnh
đó, tỷ lệ động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản
năm 2016 ước tính là 55,9%.
Ngoài ra, hằng năm lại có thêm gần 1 triệu TN đến tuổi bổ sung vào lực
lượng LĐ. Đây là lực lượng LĐ dồi dào và năng động, đem lại nhiều cơ hội
cho Việt Nam trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế, có vai trò quan
trọng trong quá trình thực hiện sự nghiệp CNH - HĐH đất nước và sự ổn định
chính trị của đất nước. Song thực tế hiện nay, lực lượng LĐTN chưa được đào
tạo và bồi dưỡng kiến thức về nghề nghiệp còn nhiều. Chất lượng của nguồn
nhân lực vốn được xem là khâu then chốt để nâng cao tính bền vững của nền
kinh tế, của phát triển xã hội vẫn còn nhiều hạn chế hay đúng hơn là vẫn chưa
đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập.
Không những thế, việc sử dụng lao động đã được đào tạo cũng đang còn khá
nhiều bất cập. Tình trạng "thừa thầy thiếu thợ" đang tồn tại khá lâu vẫn chưa
có giải pháp xử lý…Việc học nghề - từ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng xong
cũng rất khó tìm được việc làm, nếu có thì thu nhập cũng ở mức rất thấp...
ĐTN và tạo việc làm cho TN là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, các cấp,
các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng và phát huy vai trò của lao
2
động nói chung và LĐTN nói riêng. Chính sách ĐTN và giải quyết việc làm
từ lâu đã được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và coi đó là một nhiệm
vụ quan trọng trong chiến lược phát triển KT-XH các giai đoạn vừa qua. Nghị
quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008, Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành
Trung ương khóa X “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
TN thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH” đã xác định: “Nâng cao chất lượng LĐ trẻ,
giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho TN” là nhiệm vụ
Việc làm và đào tạo nghề là chủ đề thu hút sự quan tâm từ lâu của Đảng,
Nhà nước ta. Cũng vì thế nó trở thành yêu cầu – đơn đặt hàng cho các hoạt
động nghiên cứu của các trung tâm nghiên cứu, giới nghiên cứu trong cả
nước. Đối với lao động thanh niên, kể từ khi Quyết định 103 của Ban Bí thư
Trung ương Đoàn về phê duyệt Đề án “Hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc
làm giai đoạn 2008-2015” được ban hành, ĐTN, tạo việc làm cho TN càng
nhận được nhiều sự quan tâm của các ngành, các cấp chính quyền địa phương
trong cả nước.Trong nghiên cứu, nhiều năm qua đã xuất hiện khá nhiều công
trình khoa học - với nhiều cấp độ được đăng tải. Trong đó, có thể kể đến một
số công trình tiêu biểu mà chúng tôi được tiếp cận:
Từ góc độ chung có:
Phạm Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân (2004): Quản lý nguồn nhân lực ở
Việt Nam: một số vấn đề lý luận và thực tiễn. NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội;
Phạm Lan Hương (2010): Các vấn đề về quan hệ lao động trong bối cảnh Việt
Nam hội nhập kinh tế quốc tế, Lao động và xã hội, (386); Trung tâm Quốc gia
Dự báo và Thông tin thị trường lao động, Cục Việc làm, Bộ Lao động,
Thương binh và Xã hội: Xu hướng việc làm Việt Nam 2010, Hà Nội, tháng
10/2010; Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Bộ Lao động, Thương binh và
Xã hội: Báo cáo xu hướng lao động và xã hội thời kỳ 2000-2010,Hà Nội,
tháng 3/2011; Lưu Quang Tuấn: Lao động-việc làm năm 2011 và triển vọng
năm 2012, Viện Khoa học lao động và xã hội, , 2012; Trần
4
Việt Tiến: Chính sách việc làm ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng hoàn
thiện, Tạp chí Kinh tế phát triển số 181, tháng 7/2012; Pháp luật lao động về
việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam thời kỳ hội nhập của Đinh Thị Nga
Phượng tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011..
Về ĐTN nói chung và cho ĐTN cho thanh niên nói riêng, hiện nay có các