I HỌC H
Ƣ NG
I HỌC Ƣ PH M
LÊ THỊ NHƢ PHƢƠNG
NGHIÊN CỨ
ẶC IỂM INH HỌC
VÀ KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG CÁ ONG CĂNG Terapon jarbua (Forsskål, 1775)
VÙNG VEN BIỂN HỪA HIÊN H
ÓM Ắ L ẬN ÁN I N Ĩ INH HỌC
HU , 2019
Công trình này đƣợc hoàn thành tại
rƣờng ại học ƣ Phạm, ại học Huế
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. PG . . Võ Văn Phú
2. PSG. TS. Nguyễn Quang Linh
Phản biện 1: ........................................................................
............................................................................................
Phản biện 2: ........................................................................
.............................................................................................
Phản biện 3: ........................................................................
.............................................................................................
Luận án sẽ đƣợc bảo vệ trƣớc hội đồng chấm luận án cấp Đại
học Huế. Hội đồng tổ chức tại: số 4 đƣờng Lê Lợi, thành phố Huế,
chuyên sâu về đặc điểm sinh học và khả năng sinh sản của cá Ong
căng để tiến tới việc sản xuất giống cá nhân tạo nhằm chủ động trong
việc cung cấp nguồn giống ổn định, chất lƣợng cho ngƣời nuôi trồng
thuỷ sản, góp phần vào việc bảo tồn và phát triển loài. Vì vậy, chúng
tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và khả năng
nhân giống cá Ong căng – Terapon jarbua (Forsskål, 1775) vùng
ven biển Thừa Thiên Huế”.
1. Lý do chọn đề tài
Qua bƣớc đầu tìm hiểu về tình hình nghiên cứu về họ cá Căng
nói chung và loài cá Ong căng nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam
cũng nhƣ hiện trạng khai thác và đánh bắt cá Ong căng ở Việt Nam,
đề tài này đƣợc lựa chọn với các lý do sau:
- Việc nghiên cứu về họ cá Căng nói chung và cá Ong căng
nói riêng trên thế giới tập trung chủ yếu vào đặc điểm sinh học, phân
bố và môi trƣờng sống của cá.
1
- Các công trình khoa học nghiên cứu về cá Ong căng tại Việt Nam
chủ yếu tập trung vào mô tả, phân loại, một số đặc điểm sinh học của cá,
chƣa có nghiên cứu nào đề cập tới việc cho sinh sản nhân tạo.
- Cá Ong căng đƣợc đánh giá là loài có triển vọng phát triển để
nuôi thả tại vùng đầm phá Thừa Thiên Huế vì sức đề kháng tốt, khỏe,
có giá trị thƣơng phẩm và giá trị dinh dƣỡng cao, đƣợc ngƣời dân ƣu
thích. Tuy nhiên, nghề nuôi cá Ong căng chƣa đƣợc phát triển do
thiếu nguồn giống, đặc biệt là giống đƣợc sản xuất nhân tạo để có thể
cung cấp đƣợc số lƣợng lớn cho nhu cầu nuôi. Chính vì vậy việc
nghiên cứu về đặc điểm sinh học và khả năng nhân giống của cá Ong
căng góp phần phát triển nghề nuôi cá biển tại Thừa Thiên Huế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
nghề nuôi thủy sản vùng ven biển.
5. óng góp của luận án
- Lần đầu tiên cung cấp đƣợc những dẫn liệu cơ bản và đầy đủ
về những đặc điểm sinh học, nhất là đặc điểm sinh sản của cá Ong
căng ở vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Cung cấp đƣợc quy trình sinh sản nhân tạo cá Ong căng để
chủ động nhân giống trong vấn đề nuôi thả cá ở vùng ven biển Thừa
Thiên Huế.
6. Bố cục luận án
Ngoài phần phụ lục, luận án đƣợc trình bày trong 109 trang, bố cục
bao gồm các phần sau:
Phần mở đầu
Phần nội dung: Gồm 3 chƣơng
Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu
Chƣơng 2: Đối tƣợng, địa điểm, thời gian và phƣơng pháp nghiên cứu
Chƣơng 3: Kết quả và bàn luận
Phần kết luận và đề nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Chƣơng 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trên thế giới, họ cá Căng (Teraponidae) có khoảng 52 loài
nằm trong 16 giống. Chúng phân bố chủ yếu ở vùng ven bờ Ấn Độ
Dƣơng và Tây Thái Bình Dƣơng.
Các tài liệu có đƣợc cho thấy các nghiên cứu về T. jarbua tập trung
vào đặc điểm sinh học, phân bố và môi trƣờng sống của cá.
Đặc biệt mối tƣơng quan giữa chiều dài và khối lƣợng của T.
jarbua đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu ở Ấn Độ, Đài Loan, Thái Lan,
Pakistan,…Các nghiên cứu này đều chỉ ra rằng GĐ đầu cá tăng
nhanh về chiều dài, còn GĐ sau cá tăng nhanh về khối lƣợng, phù hợp
Nhìn chung, ở Việt Nam, các nghiên cứu về sinh sản nhân tạo
cá biển đƣợc thực hiện chủ yếu ở các vùng ven biển và các đối tƣợng
là các loài cá có giá trị kinh tế ở địa phƣơng. Để sinh sản nhân tạo cá
biển, các tác giả sử dụng các kích dục tố nhƣ Não thùy thể, HCG,
LHRHa+Dom, Ovaprim với các liều lƣợng khác nhau.
Hiện nay vẫn chƣa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu
về thăm dò khả năng nhân giống cá Ong căng tại Việt Nam đƣợc
đăng trên các tạp chí uy tín trong nƣớc cũng nhƣ thế giới. Chính vì lẽ
đó, nghiên cứu về đặc điểm sinh học, thăm dò khả năng nhân giống
cá Ong căng - Terapon jarbua (Forsskål, 1775) là rất cần thiết hiện
nay nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo đối tƣợng này
cũng nhƣ cung cấp nguồn cá Ong căng giống phục vụ cho nuôi trồng
thủy sản ở nƣớc ta.
4
Chƣơng 2. ỐI ƢỢNG, ỊA IỂM, TH I GIAN
VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Cá Ong căng (Hình 2.1) có vị trí trong hệ thống phân loại của
ngành có dây sống:
- Ngành Có dây sống: Chordata
- Lớp cá Vây tia: Actinopteri
- Bộ cá Vƣợc: Perciformes
- Họ cá Căng: Teraponidae
- Giống: Terapon
- Loài: Terapon jarbua (Forsskål, 1775)
- Tên địa phƣơng: Cá Căng, Cá Ong căng hoặc cá Căng cát
- Tên tiếng Anh: Target Fish hoặc Crescent Perch
Khoa học, Đại học Huế.
2.3.3. ịa điểm thăm dò khả năng nhân giống
Các thí nghiệm ƣơng nuôi và sinh sản nhân tạo cá Ong căng
đƣợc thực hiện tại Trung tâm Thực hành, thực tập NTTS, Viện
Nghiên cứu và Phát triển; Trại sản xuất giống Huy Sơn thuộc xã Phú
Thuận, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
6
2.4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1. ơ đồ nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm sinh học
Đặc điểm sinh trưởng
Đặc điểm dinh dưỡng
Đặc điểm sinh sản
Nuôi vỗ thành thục
Thí nghiệm thăm dò sinh sản
Thí nghiệm ương cá
giống
Thức ăn khác nhau
Độ mặn khác nhau
Quy trình sản xuất giống
phƣơng trình sinh trƣởng của Berverton – Holt (1956):
W a Lb
Xác định tuổi: Dùng vẩy để xác định tuổi cá Ong căng.
Tốc độ tăng trưởng: Sử dụng phƣơng pháp của Rosa Lee
(1920) để xác định mức tăng chiều dài cả cá Ong căng với công thức:
V
(1)
Lt t L a a
V
Phương trình sinh trưởng Von Bertalanffy (1952):
k t t
- Về chiều dài:
Lt L 1 e
0
- Về khối lƣợng: Wt W 1 e k t t0
2.4.3.3. Nghiên cứu về dinh dưỡng
Xác định thành phần thức ăn: Thức ăn đƣợc tách khỏi ruột và dạ
dày theo nhóm kích thƣớc cá. Quan sát dƣới kính hiển vi hoặc kính lúp
hai mắt. Vẽ các mẫu thức ăn quan sát đƣợc trong thị trƣờng của kính để
phân loại hình thái từng nhóm (taxon) phân loại của các nhóm.
Phương pháp phân tích phổ dinh dưỡng: Phổ dinh dƣỡng của
70
100
01
HCG (UI/kg)
250 500 750
02
Các chỉ tiêu đƣợc theo dõi bao gồm: sức sinh sản thực tế (số
trứng/cá cái), tỷ lệ thụ tinh (%), tỷ lệ nở (%).
2.4.4.4. Nghiên cứu quy trình ương từ cá bột lên cá hương
Quy trình ƣơng cá giống GĐ cá bột lên cá hƣơng khoảng 15
ngày tuổi, chúng tôi tiến hành bố trí 2 thí nghiệm.
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hƣởng của các loại thức ăn đến
tỷ lệ sống của cá GĐ từ bột đến hƣơng
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hƣởng của độ mặn đến tỷ lệ
sống của cá GĐ từ bột đến hƣơng
2.4.4.5. Nghiên cứu quy trình ương từ các hương lên cá giống
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hƣởng của các loại thức ăn đến sinh
trƣởng chiều dài và tỷ lệ sống của của cá GĐ từ 15 đến 40 ngày tuổi
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hƣởng của độ mặn đến sinh
trƣởng chiều dài và tỷ lệ sống của của cá GĐ từ 15 đến 40 ngày tuổi
2.4.5. Phƣơng pháp xử lý số liệu
Xử lý và phân tích các số liệu thu đƣợc từ các thí nghiệm bằng
phần mềm Minitab version 16.2.0:
Sử dụng chƣơng trình Microsoft Excel 2010 để vẽ biểu đồ
biểu diễn các kết quả, các chỉ tiêu theo dõi trong quá trình thí
nghiệm.
9
Chƣơng 3. K T QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
R2 0,84 (Hình 3.1).
10
Khối lượng (g)
600
400
Khối lượng
200
0
0
10
20
30
40
Chiều dài (cm)
Hình 3.1. ồ thị tƣơng quan giữa chiều dài và khối lƣợng cá Ong căng
3.1.1.2. Cấu trúc tuổi
Kết quả phân tích vẩy của cá Ong căng ở vùng ven biển Thừa
Thiên Huế đã xác định quần thể cá Ong căng có 5 nhóm tuổi. Trong
đó nhóm tuổi thấp nhất là 0+, cao nhất là 4+. Căn cứ số lƣợng cá thể
trong từng nhóm tuổi để xác định cấu trúc tuổi của quần thể cá Ong
có thể đạt khối lƣợng tối đa là 1.132,0 g, tƣơng ứng với chiều dài tối
đa là 346,08 mm.
3.1.2. ặc điểm dinh dƣỡng
3.1.2.1. Thành phần thức ăn
Kết quả phân tích cho thấy thành phần thức ăn của cá Ong căng
khá đa dạng gồm 28 loại thức ăn thuộc 8 nhóm thủy sinh vật khác nhau
và mùn bã hữu cơ. Trong đó, chiếm ƣu thế là các loại thuộc ngành Chân
khớp (chiếm 21,43%), tiếp đến là ngành tảo Silic (chiếm 17,86%) ,
ngành Giun đốt và Động vật có dây sống cùng có tỷ lệ 14,29%, ngành
tảo Lam và Động vật thân mềm cùng chiếm 10,71%, mùn bã hữu cơ
chiếm 3,57%.
3.1.2.2. Cường độ bắt mồi
3.1.2.2.1. Cƣờng độ bắt mồi theo thời gian
Từ những kết quả thu đƣợc, có thể đƣa ra nhận xét: cá Ong
căng bắt mồi theo các tháng trong năm nhƣng với cƣờng độ khác
nhau. Tháng 3 và tháng 5 cá bắt mồi với cƣờng độ tích cực nhất. Vào
các tháng mùa khô cá bắt mồi tích cực hơn các tháng mùa mƣa. Điều
này có thể liên quan đến nhiệt độ nƣớc và nhu cầu về chất dinh
dƣỡng để cá thành thục sinh dục.
3.1.2.2.2. Theo sự phát triển tuyến sinh dục
Tuyến sinh dục của cá Ong căng phát triển qua 6 GĐ. Mỗi GĐ
phát triển của tuyến sinh dục đều liên quan đến quá trình tích lũy
chất dinh dƣỡng, năng lƣợng của cá. Điều này đƣợc thể hiện quan
mối liên quan giữa độ no của cá với sự phát triển của từng GĐ chín
muồi sinh dục (CMSD).
3.1.2.2.3. Theo nhóm tuổi
Kết quả nghiên cứu cƣờng độ bắt mồi của cá theo từng nhóm
tuổi cho thấy dạ dày và ruột cá ở 5 nhóm tuổi đều có các bậc độ no
khác nhau . Điều này chứng tỏ cá bắt mồi tích cực (ống tiêu hóa đều
chứa thức ăn). Từ cá ở nhóm tuổi 0+ đến 2+ cƣờng độ bắt mồi của cá
trải qua 6 GĐ.
3.1.3.3. Tuổi thành thục sinh dục
Cá Ong căng ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế phát dục sớm,
cá ở nhóm tuổi 1+ đã có thể phát dục tham gia vào đàn đẻ trứng.
Nhóm cá tuổi 2+ và 3+ là thành phần chủ yếu tham gia đẻ trứng trong
mùa sinh sản.
3.1.3.4. Sức sinh sản
Sức sinh sản tƣơng đối của cá Ong căng tại Thừa Thiên Huế
dao động không nhiều so với chiều dài và khối lƣợng cá ở các nhóm
tuổi khác nhau, từ 967 – 999 trứng/g, trung bình đạt 982 trứng/g.
13
Tƣơng tự với nghiên cứu của Tsu-Chan Miu và cs (1990) khi nghiên
cứu sức sinh sản tuyệt đối của cá Ong căng tại Đài Loan dao động
trong khoảng 37.083- 480.400 trứng (trung bình 145.816), sức sinh
sản tƣơng đối của cá dao động từ 334 – 1.258 (520) trứng/g. Có thể
thấy trong tự nhiên cá Ong căng có sức sinh sản tƣơng đối khá lớn,
nếu không bị khai thác quá mức thì khả năng tái sản xuất của quần
thể cá Ong căng ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế cao và có khả
năng phục hồi đàn.
3.2. THỬ NGHIỆM KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG CÁ ONG CĂNG
3.2.1. Kích thích sinh sản và ấp trứng cá Ong căng
3.2.1.1. Nuôi vỗ thành thục cá Ong căng
3.2.1.1.1. Các yếu tố môi trường
Sự biến động của các yếu tố nhiệt độ, độ mặn, oxy hòa tan, pH trong
quá trình nuôi vỗ đều nằm trong mức cho phép, thuận lợi cho cá Ong
căng phát triển
3.2.1.1.2. Thành thục của cá Ong căng nuôi vỗ
a) Ảnh hƣởng của môi trƣờng đến khả năng thành thục của cá Ong căng
sản của cá Ong căng
Nhƣ vậy, nồng độ LRH-A3 thích hợp để kích thích sinh sản ở
cá Ong căng cho kết quả tốt nhất về thời gian hiệu ứng, sức sinh sản,
tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở của trứng là 70 μg/kg + 3 mg/kg DOM. Liều
lƣợng LRH-A3 sử dụng cho cá Ong căng để đạt hiệu quả cao hơn so
với liều sử dụng cho cá Bóp R. canadum (20 và 30µg/kg) và thấp hơn liều
sử dụng cho cá cá Chốt trắng M. planiceps (100 µg/kg cá cái).
3.2.1.2.2. Ảnh hưởng của nồng độ HCG đến một số chỉ tiêu sinh sản
của cá Ong căng
Ta có thể thấy nồng độ của HCG chỉ ảnh hƣởng đến thời gian
hiệu ứng (nồng độ càng cao, thời gian hiệu ứng càng ngắn) nhƣng
không làm thay đổi kết quả của tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở của trứng cá
Ong căng. Liều lƣợng HCG dùng để sinh sản nhân tạo cá Ong căng
bằng với cá Bóp (250 – 750 UI/kg cá cái), thấp hơn cá Chốt trắng
(1.500 UI/kg cá cái) và cá Chẽm (4.500 UI/kg cá cái).
Qua đây ta có thể thấy sử dụng những kích dục tố kích thích
sinh sản khác nhau thì cũng cho kết quả sinh sản khác nhau, kích dục
tố hiệu quả trên loàinày nhƣng lại không hiệu quả trên loài khác. Vì
vậy, trong sinh sản nhân tạo cá, tùy thuộc vào từng đối tƣợng và điều
kiện cụ thể mà sử dụng loại, liều lƣợng cũng nhƣ phƣơng pháp tiêm
các loại kích dục tố phù hợp để đem lại hiệu quả cao trong sinh sản
nhân tạo cá.
Từ kết quả nghiên cứu ở thí nghiệm kích thích cá Ong
căng sinh sản đã rút ra nhận định là để kích thích sinh sản nhân
tạo cá Ong căng đạt hiệu quả tốt nhất, ta có thể dùng LRH -A3
với liều lƣợng là 70 μg/kg + 3 mg/kg DOM hoặc HCG với liều
lƣợng 750 UI/kg cá cái.
15
k. Ấu trùng mới nở (14h50) (x40)
Hình 3.2. Các G phát triển của phôi cá Ong căng
Thời gian phát triển phôi của cá Ong căng dao động trong
khoảng 14 đến 16 giờ, trung bình 14 giờ 50 phút ở nhiệt độ nƣớc từ
28,0oC đến 29,5oC và pH từ 8,3 đến 8,4. Cá mới nở dinh dƣỡng bằng
16
noãn hoàng và sau khoảng 3 - 4 ngày cá tiêu hết noãn hoàng và bắt
đầu dinh dƣỡng bằng thức ăn ngoài.
3.2.2. Kỹ thuật ƣơng từ cá bột lên cá hƣơng
3.2.2.1. Các yếu tố môi trường
Nhiệt độ trong thời gian ƣơng nuôi biến thiên trong khoảng 26
– 310C, trong đó nhiệt độ trung bình dao động trong khoảng 26,5 ±
2,8, nhiệt độ trong thời gian thí nghiệm là phù hợp với sự sinh trƣởng
và phát triển của cá.
Trong thời gian thí nghiệm, hàm lƣợng oxy hòa tan (DO) dao
động trong khoảng từ 4,5 – 5,6 mg/l, trung bình ở mức 5,2-5,4 mg/l,
có thể thấy đƣợc DO trong các bể ấp phù hợp cho sự phát triển của
cá thí nghiệm.
3.2.2.2. Ảnh hưởng của các loại thức ăn lên tỷ lệ sống của cá Ong
căng GĐ cá bột lên cá hương
Sau 15 ngày ƣơng nuôi, tỷ lệ sống của cá tại các NT khá thấp,
dao động từ 1,03% - 4,48% (bảng 3.1). Tỷ lệ sống cao nhất ở NT1
(Nanochloropsis oculata + Rotifer) là 4,48%, tiếp theo là NT2
(Nanochloropsis oculata + Nauplius của artemia) đạt 3,23% và thấp
nhất là NT3 (Nanochloropsis oculata + TĂCN) 1,03%. Đặc biệt ở
NT4, cá bột chết đồng loạt sau 5 ngày ƣơng bằng TĂCN. Kết quả
phân tích phƣơng sai cho thấy có sự sai khác có ý nghĩa thống kê
15
4,48a ± 0,11
3,23b ± 0,28
1,03c ± 0,26
0
Các chữ số ký hiệu a, b,c khác nhau trên cùng một hàng thể hiện sự sai
khác có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa p < 0,05
NT1
Nanochloropsis
oculata +Rotifer
Nhƣ vậy, kết quả nghiên cứu này cho thấy không thể sử dụng
riêng lẻ TĂCN để ƣơng cá Ong căng GĐ cá bột lên cá hƣơng vì ống
tiêu hóa của cá ở những ngày đầu chƣa phát triển, cá chƣa có men để
tiêu hóa TĂCN; GĐ này cá chỉ ăn đƣợc động vật phù du là loại thức
17
ăn có khả năng tự phân hủy giúp cá hấp thu dễ dàng, Kết quả thí
nghiệm cũng cho thấy rotifer giữ vai trò quan trọng trong ƣơng cá
Ong căng bột, góp phần tăng tỷ lệ sống của cá do có kích thƣớc nhỏ,
giàu dinh dƣỡng, dễ tiêu hóa, phù hợp với GĐ ấu trùng của cá.
3.2.2.3. Ảnh hưởng của độ mặn lên tỷ sống của cá Ong căng GĐ cá
bột lên cá hương
Kết quả ƣơng cá Ong căng từ GĐ cá bột lên cá hƣơng đƣợc
trình bày ở bảng 3.2.
Bảng 3.2. Ảnh hƣởng của độ mặn đến tỷ sống của cá Ong căng
G cá bột lên cá hƣơng (%)
NT thí nghiệm
NT1 - 20‰
Lisboa và cs (2015) khi ƣơng cá Đối (Mugil liza) GĐ giống trong các
độ mặn khác nhau;
Nhìn chung cả thức ăn và độ mặn có vai trò quan trọng ảnh
hƣởng đến tỷ lệ sống của cá GĐ cá bột lên hƣơng (1 đến 15 ngày
tuổi). Đối với cá Ong căng GĐ từ bột lên hƣơng khi ƣơng ở độ mặn
30‰ sẽ đạt tỷ lệ sống cao nhất. Ở GĐ ƣơng này, cho cá ăn thức ăn tự
nhiên trong ao nuôi tôm công nghiệp hoặc tảo tƣơi với luân trùng
hoặc nauplius của Artemia sẽ cho tỷ lệ sống cao hơn so với việc cho
cá ăn thức ăn tổng hợp (p
sau gần một tháng ƣơng nuôi, sinh trƣởng và tốc độ tăng trƣởng của
cá sau 25 ngày ƣơng ở NT độ mặn 25‰ cho kết quả tốt nhất và có sự
sai khác có ý nghĩa thống kê (p0,05) giữa NT1 với NT2 và
giữa NT1 và NT3.
3.2.3.3. Tăng trưởng của cá Ong căng ở các khẩu phần thức ăn
khác nhau
Bảng 3.4. Ảnh hƣởng của các khẩu phần thức ăn đến tăng
trƣởng của cá
NT thức ăn
Ngày tuổi
NT1 (N 5/8)
NT2 (Ocialis)
NT3
(Grobest)
9,5
11,29 ±0,13
12,04 ±0,13
15,40 ±0,66
18,04 ±0,94
21,06b±0,47
15
9,5
9,5
20
10,71 ±0,25
Khi ƣơng nuôi cá Ong căng từ 15 đến 40 ngày tuổi với 03 loại
thức ăn công nghiệp khác nhau cho thấy tỷ lệ sống đạt cao nhất ở NT
sử dụng thức ăn NRD 5/8 (81,48%), tiếp đến là NT sử dụng thức ăn
Ocialis và thấp nhất ở NT sử dụng thức ăn Grobest (bảng 3.5). Tuy
nhiên kết quả phân tích phƣơng sai cho thấy tỷ lệ sống của cá Ong
căng ở các NT thức ăn khác nhau không sai khác có ý nghĩa thống kê
(P > 0,05). Từ đó cho thấy các loại thức ăn công nghiệp khác nhau
trong thí nghiệm có tác động không đáng kể đến tỷ lệ sống của cá
Ong căng trong GĐ này.
Bảng 3.5. Ảnh hƣởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ sống của cá
Ong căng G 15 đến 40 ngày tuổi (%)
NT
Trung bình
Min
Max
NT1 - NRD 5/8
81,48a ± 6,79
75,56
88,89
NT2 – Ocialis
74,07a ± 7,80
66,67
82,22
NT3 – Grobest
66,67a ± 4,44
62,22
71,11
Chú thích: Các giá trị trên cùng một cột có các kí tự (a,b,c,…) khác nhau thể
hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,05).
Các loại thức ăn công nghiệp (NRD 5/8, Ocialis và Grobest) và
độ mặn từ 20 đến 30‰ không ảnh hƣởng đến tỷ lệ sống, nhƣng ảnh
hƣởng đến tốc độ tăng trƣởng của cá Ong căng GĐ từ 15 đến 40 ngày
tuổi. Để nâng cao hiệu quả quá trình ƣơng nuôi cá Ong căng, trong GĐ
này nên sử dụng thức ăn NRD 5/8 và ƣơng nuôi ở độ mặn 25‰.
20
3.3. BƢỚC ĐẦU XÂY DỰNG QUY TRÌNH NHÂN GIỐNG CÁ
ONG CĂNG
Hình 3.5. ơ đồ quy trình công nghệ sản xuất giống cá Ong căng
21
K T LUẬN VÀ Ề NGHỊ
1. KẾT LUẬN
1.1. Về sinh trưởng: Quần thể cá Ong căng trong tự nhiên có chiều
dài trung bình lớn nhất khi khai thác ở vùng ven biển Thừa Thiên
Huế đạt 298,0 mm, với khối lƣợng tƣơng ứng 371,4 g. Ở nhóm tuổi
thấp, cá chủ yếu tăng về chiều dài, khi tuổi cao hơn cá tăng nhanh về
khối lƣợng
Cấu trúc tuổi của quần thể cá Ong căng vùng ven biển Thừa
Thiên Huế gồm 5 nhóm tuổi, thấp nhất là 0+, cao nhất là 4+. Nhóm
tuổi chiếm ƣu thế là 2+ và 3+ với tỷ lệ tƣơng ứng 46,0% và 23,6%so
với các nhóm tuổi khác.
Phƣơng trình sinh trƣởng về chiều dài và khối lƣợng theo Von
Lt 346,08.[1 e0,426.(t 0,323) ]
Bertalanffy
có
1.5. Kích thích sinh sản nhân tạo:
Ở cá Ong căng nồng độ LRH-A3 thích hợp để kích thích sinh
sản là 70 μg/kg cá cái + 3 mg/kg DOM cho kết quả tốt nhất với thời
gian hiệu ứng là 38 giờ, sức sinh sản thực tế là 19.667 trứng, tỷ lệ thụ
tinh là 67,06% và tỷ lệ trứng nở là 96%.
Nồng độ của HCG chỉ ảnh hƣởng đến thời gian hiệu ứng
(nồng độ càng cao, thời gian hiệu ứng càng ngắn) nhƣng không làm
thay đổi tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở của trứng cá Ong căng. Với liều
lƣợng 750 IU/kg HCG, cá cái có thời gian hiệu ứng 54 giờ, sức sinh
sản thực tế 15.450 trứng, tỷ lệ thụ tinh 47,47% và tỷ lệ trứng nở đạt
91,37%, đạt hiệu quả cao nhất.
Thời gian phát triển phôi của cá Ong căng dao động trong
khoảng 14 đến 16 giờ, trung bình 14 giờ 50 phút. Cá mới nở dinh
dƣỡng bằng noãn hoàng và sau khoảng 3 - 4 ngày cá bắt đầu dinh
dƣỡng bằng thức ăn ngoài.
1.6. Ương cá bột lên cá hương và cá giống:
GĐ ƣơng cá bột lên cá hƣơng (1 đến 15 ngày tuổi): Thức ăn và
độ mặn có vai trò quan trọng ảnh hƣởng đến tỷ lệ sống của cá. Đối
với cá Ong căng GĐ từ cá bột lên cá hƣơng khi ƣơng ở độ mặn 30‰
sẽ đạt tỷ lệ sống cao nhất là 5,53%. Thức ăn Nanochloropsis oculata
+ Rotifer cho tỷ lệ cá sống cao nhất là 4,48%.
GĐ ƣơng cá hƣơng lên cá giống (15 đến 40 ngày tuổi): Các loại
thức ăn công nghiệp (NRD 5/8, Ocialis và Grobest) và độ mặn từ 20 đến
30‰ không ảnh hƣởng đến tỷ lệ sống, nhƣng ảnh hƣởng đến tốc độ tăng
trƣởng của cá Ong căng. Để nâng cao hiệu quả quá trình ƣơng nuôi cá
Ong căng trong GĐ từ cá hƣơng lên cá giống nên sử dụng thức ăn NRD
5/8 và ƣơng nuôi ở độ mặn 25‰.
2. ĐỀ NGHỊ
2.1. Sinh sản nhân tạo cá Ong căng bằng LRH-A3 với nồng độ
70 μg/kg cá cái + 3 mg/kg DOM hoặc HCG với liều lƣợng 750 IU/kg.