Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Kinh Tế: Quản Lý Đầu Tư Cơ Sở Hạ Tầng Giao Thông Tại Huyện Ngọc Hồi - Pdf 55

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

TRẦN THỊ THU THẢO

QUẢN LÝ ĐẦU TƯ
CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG TẠI
HUYỆN NGỌC HỒI, TỈNH KON TUM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

Đà Nẵng - Năm 2017


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

TRẦN THỊ THU THẢO

QUẢN LÝ ĐẦU TƯ
CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG TẠI
HUYỆN NGỌC HỒI, TỈNH KON TUM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10

Người hướng dẫn khoa: TS. NINH THỊ THU THỦY

Đà Nẵng - Năm 2017




GTVT

: Giao thông vận tải

HĐND

: Hội đồng nhân dân

TVGS

: Tư vấn giám sát

HTGT

: Hạ tầng giao thông

KCHTKT

: Kết cấu hạ tầng kỹ thuật

KT-XH

: Kinh tế - xã hội

NS

: Ngân sách

NSĐP

ấy nghèo nàn, trong khi đó lại nằm ở vị trí địa lý quan trọng thuộc trung tâm
tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia. Hệ thống giao thông còn
quá thiếu, tại thời điểm đó giao thông đối ngoại chỉ có một hướng về phía
nam theo Quốc lộ 14 bằng đường bộ. Sau khi tái lập tỉnh, do yêu cầu phát
triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn cũng như được sự quan
tâm của Trung ương, của tỉnh, nhiều con đường được đầu tư xây dựng, từ
những tuyến đường quốc lộ đến tỉnh lộ, liên xã, liên thôn được ưu tiên nguồn
vốn để mở rộng. Từ năm 2010 đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có 12 công trình
trọng điểm được đầu tư với tổng số vốn hàng nghìn tỷ đồng đã hoàn thành
đưa vào sử dụng, góp phần kết nối hạ tầng giao thông giữa tỉnh Kon Tum và
các tỉnh lận cận, tạo chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh.
Huyện Ngọc Hồi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Kon Tum, đuợc thành lập
vào ngày 15/10/1991 và nằm ở ngã ba Đông Dương giáp 2 nước Lào và
Campuchia, là nơi hội tụ của đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 40 và Quốc lộ
14c, đặc biệt có cửa khẩu quốc tế Bờ Y nên có vị trí rất quan trọng về đầu mối
giao lưu kinh tế-văn hóa-xã hội, có nhiều điều kiện thuận lợi tạo thành hành
lang thương mại quốc tế nối từ Myanma-Đông Bắc Thái Lan-Nam Lào với
khu vực Tây Nguyên, duyên hải miền Trung. Hệ thống cơ sở hạ tầng giao
thông của huyện đã có nhiều thay đổi tích cực, giao thông đối ngoại không chỉ
phá thế ngõ cụt mà còn đảm bảo giao lưu thuận tiện cả bốn hướng - đi các
tỉnh phía bắc, phía nam bằng đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 14, xuống các tỉnh
ven biển bằng Quốc lộ 24 và kết nối với các nước Lào, Campuchia, Thái Lan


2

bằng Quốc lộ 40 theo hướng liên kết giữa các vùng, miền, mở hướng giao
thương thông suốt, tạo thuận lợi cho thu hút đầu tư, thúc đẩy kinh tế phát
triển...

2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Luận văn nghiên cứu thực trạng công tác Quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng
giao thông bằng vốn ngân sách của huyện Ngọc Hồi trong thời gian qua, từ đó
đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác Quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng
giao thông bằng vốn ngân sách của huyện Ngọc Hồi trong thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông.
- Phân tích thực trạng quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông tại huyện
Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2016.
- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý đầu tư cơ
sở hạ tầng giao thông của huyện Ngọc Hồi trong giai đoạn tiếp theo.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Nội hàm công tác quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng giao
thông bằng ngân sách nhà nước là gì?
Câu hỏi 2: Tình hình quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông bằng
nguồn vốn ngân sách huyện Ngọc Hồi đang diễn ra như thế nào?
Câu hỏi 3: Cần có những giải pháp nào để hoàn thiện công tác quản
lý đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý đầu
tư cơ sở hạ tầng giao thông.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Luận văn nghiên cứu công tác quản lý đầu tư cơ sở hạ


4

tầng giao thông (trong đó chỉ tập trung vào cơ sở hạ tầng giao thông đường


Công trình nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống, góp phần khái
quát được lý luận về quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông (đường bộ) bằng
nguồn vốn ngân sách. Trên cơ sở đánh giá được thực trạng về công tác quản
lý đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách của huyện Ngọc
Hồi; từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản để hoàn thiện công tác quản lý đầu
tư cơ sở hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách của huyện Ngọc Hồi.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông
bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
- Chương 2: Thực trạng quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông bằng
nguồn vốn ngân sách nhà nước tại huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng
giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon
Tum.
8. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Việc quan tâm đến hiệu quả quản lý nhà nước đối với các khoản đầu tư,
chi tiêu công cộng đã được các nhà nghiên cứu kinh tế nước ngoài quan tâm
từ rất lâu. Tuy nhiên, do sự khác biệt rất lớn giữa nền kinh tế các nước phát
triển so với Việt Nam về mặt quy mô, trình độ phát triển, nguyên tắc điều
hành,… nên các kết quả nghiên cứu đạt được thường không phù hợp cho việc
áp dụng vào quản lý kinh tế của Việt Nam nói chung và huyện Ngọc Hồi nói
riêng. Do đó trong nội dung này chỉ đề cập đến các nghiên cứu liên quan tới
đề tài được thực hiện tại Việt Nam. Cụ thể:
- GS.TS Dương Thị Bình Minh (2006) “Quản lý chi tiêu công ở Việt
Nam: Thực trạng và giải pháp”, Sách chuyên khảo. Tác giả đã dựa trên cơ sở
tiếp cận các lý thuyết hiện đại về quản lý chi tiêu công để phân tích, đánh giá



- Bùi Quang Vinh (2013), “Nâng cao hiệu quả đầu tư sử dụng nguồn


7

vốn nhà nước”, Tạp chí Cộng sản. Bài viết đề cập đến tình hình đầu tư sử
dụng nguồn vốn nhà nước, đánh giá hiệu quả đầu tư sử dụng nguồn vốn nhà
nước và nêu định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư sử dụng vốn nhà
nước; nêu ra khó khăn lớn nhất liên quan đến hoạt động đầu tư sử dụng vốn
nhà nước là sự mất cân đối rất lớn giữa nhu cầu vốn có thể cân đối và nhu cầu
đầu tư; đề ra trọng tâm đổi mới quản lý và nâng cao hiệu quả đầu tư sử dụng
vốn nhà nước là khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, không đồng bộ
và cả tình trạng đầu tư các dự án kém hiệu quả, những dự án chưa hoàn thành
thủ tục đầu tư tồn tại kéo dài qua nhiều năm.
- Tác giả Cấn Quang Tuấn (2009) “Một số giải pháp nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung từ ngân sách nhà nước do
thành phố Hà Nội quản lý”, Luận án tiến sĩ. Tác giả đã hệ thống hoá cơ sở lý
luận về quản lý vốn đầu tư phát triển, trong đó có vốn đầu tư xây dựng cơ bản
thuộc ngân sách nhà nước; nghiên cứu thực trạng quản lý sử dụng vốn đầu tư
xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước do thành phố Hà Nội quản lý từ năm
2001 - 2005. Từ đó đánh giá và đề xuất các giải pháp với mong muốn nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước do
thành phố Hà Nội quản lý.
- Tác giả Tạ Văn Khoái (2009) “Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư
xây dựng từ ngân sách nhà nước ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ. Tác giả chú
trọng đến quản lý các hoạt động kinh tế kỹ thuật tại các dự án đầu tư từ ngân
sách nhà nước, trong đó chú trọng chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng,
làm rõ được các nội dung cơ bản và đưa ra nội dung quản lý nhà nước đối với
dự án đầu tư xây dựng. Các kết quả nghiên cứu của công trình này gợi ý về nội
dung và quy trình quản lý các hoạt động kỹ thuật tại dự án đầu tư từ ngân sách

Trong thời đại ngày nay, đầu tư đã trở thành một nhân tố quan trọng đối
với sự phát triển của một quốc gia. Thuật ngữ "đầu tư " được hiểu theo nhiều
khía cạnh khác nhau, song tựu chung lại " Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn
bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các
hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp
luật có liên quan” – theo Khoản 1, điều 3 Luật đầu tư năm 2005.
Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến
hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất
định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả
đó. Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí
tuệ. Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản
vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực.
Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các
nguồn lực ở hiện tại nhằm đêm lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả
trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó.
Từ đây có khái niệm về đầu tư như sau: “Đầu tư là hoạt động sử dụng
các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để
sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận
và lợi ích kinh tế xã hội”. [27, tr. 3]


10

Đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông là một phần của đầu tư cơ sở hạ tầng,
vì vậy trước khi tìm hiểu khái niệm về đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông thì sẽ
tìm hiểu khái niệm về cơ sở hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ nững quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh
tế của một xã hội, là tổ hợp các công trình vật chất kĩ thuật có chức năng phục
vụ trực tiếp dịch vụ sản xuất, đời sống của dân cư được bố trí trên một phạm
vi lãnh thổ nhất định.

công trình hạ tầng giao thông thường đòi hỏi vốn lớn, thời gian xây dựng lâu,
hiệu quả kinh tế mang lại cho chủ đầu tư không cao, khó thu hồi vốn nên
không hấp dẫn các nhà đầu tư ngoài nhà nước. Bên cạnh đó các công trình
giao thông phục vụ cho nhu cầu đi lại của toàn xã hội, được mọi thành phần
kinh tế tham gia khai thác một cách triệt để, khi hư hỏng lại ít ai quan tâm đầu
tư sửa chữa, bảo dưỡng để duy trì tuổi thọ cho chúng. Vì vậy Nhà nước hàng
năm đều trích ngân sách để đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, sửa chữa khắc
phục những công trình hư hỏng góp phần cải tạo bộ mặt giao thông đất nước.
Đầu tư CSHTGT mang tính xã hội hoá cao, khó thu hồi vốn nhưng đem
lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế- xã hội. Tuy hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng giao thông không đem lại lợi ích trực tiếp cho chủ đầu nhưng lợi ích
mà nền kinh tế xã hội được hưởng thì không thể cân đong đo đếm được. Có
thể coi hoạt động đầu tư này là đầu tư cho phúc lợi xã hội, phục vụ nhu cầu
của toàn thể cộng đồng.
Sản phẩm đầu tư xây dựng các công trình giao thông là một loại hàng
hoá công cộng, yêu cầu giá trị sử dụng bền lâu nhưng lại do nhiều thành phần
tham gia khai thác sử dụng. Vì vậy Nhà nước cần tăng cường quản lý chặt chẽ
các giai đoạn hình thành sản phẩm, lựa chọn đúng công nghệ thích hợp, hiện
đại để cho ra các công trình đạt tiêu chuẩn và chất lượng quốc tế, đảm bảo an
toàn cho mọi hoạt động của nền kinh tế.
Đầu tư CSHTGT có tính rủi ro rất cao do chịu nhiều tác động ngẫu


12

nhiên trong thời gian dài, có sự mâu thuẫn giữa công nghệ mới và vốn đầu tư,
giữa công nghệ đắt tiền và khối lượng xây dựng không đảm bảo. Do đó trong
quản lý cần loại trừ đến mức tối đa các nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho nhà
đầu tư, nhà thầu khoán và tư vấn.
Đầu tư xây dựng các công trình giao thông thường liên quan đến nhiều

cơ sở các quy định của pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ
thống các cơ quan quản lý hành chính nhà nước. [31, tr. 10]
+ Chủ thể quản lý đầu tư CSHTGT: Các cơ quan quản lý nhà nước, ví
dụ cấp tỉnh là UBND tỉnh, Sở kế hoạch và đầu tư, Sở tài chính, Sở xây dựng,
KBNN tỉnh,… Còn đối với cấp huyện là UBND huyện, Phòng Tài chính kế
hoạch, phòng kinh tế hạ tầng, Ban quản lý dự án, KBNN huyện,..
+ Đối tượng và khách thể quản lý đầu tư CSHTGT: Chủ đầu tư, nguồn
vốn đầu tư, các công trình, dự án đầu tư,…
Nguồn vốn NSNN đầu tư CSHTGT gồm ngân sách trung ương và ngân
sách địa phương. Ngân sách địa phương được sử dụng từ nguồn thu và số bổ
sung cân đối từ ngân sách trung ương để cân đối thu, chi ngân sách cấp mình.
Có hai cách tiếp cận các nội dung quản lý đầu tư CSHTGT là:
+ Nếu xét theo chức năng quản lý: Hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm
tra.
+ Nếu xét theo quá trình thực hiện hoạt động CSHTGT: Giai đoạn lập
kế hoạch đầu tư; Giai đoạn chuẩn bị đầu tư; Giai đoạn thực hiện đầu tư; Giai
đoạn kết thúc đầu tư.
Trong nghiên cứu này, tiếp cận các nội dung quản lý theo quá trình thực
hiện hoạt động CSHTGT, cụ thể:
+ Công tác lập kế hoạch đầu tư: Nhằm thực hiện các mục tiêu, định
hướng phát triển kinh tế xã hội, việc lập kế hoạch đầu tư phải phù hợp với khả
năng cân đối nguồn vốn ngân sách. Đơn vị tham mưu việc lập kế hoạch đầu
tư đối với cấp tỉnh là Sở Tài chính, đối với cấp huyện là Phòng tài chính giúp


14

UBND ra quyết định phê duyệt kế hoạch. Trong công tác lập kế hoạch cần
xác định rõ ràng các danh mục đầu tư và kế hoạch vốn đầu tư của từng dự án.
Các dự án trọng điểm nằm trong kế hoạch hằng năm và kế hoạch trung hạn

phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn. Khi Nhà nước bố trí nguồn vốn
đầu tư CSHTGT đã xác định tính khả thi của từng dự án đầu tư, đảm bảo đủ
nguồn vốn ngân sách và các nguồn vốn huy động khác. Khi thực hiện đầu tư
thì Nhà nước kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ nhằm chấn chỉnh kịp thời việc lảng
phí và thực hiện tiết kiệm các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn.
Quản lý đầu tư CSHTGT bằng ngân sách nhà nước góp phần đảm bảo
kỷ cương, kỷ luật chính sách, bảo đảm tính tập trung thống nhất trong quản lý
vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước của cả nước, bảo đảm tối đa hóa
mục tiêu phát triển kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, an sinh xã hội, đảm bảo an
ninh, quốc phòng.
1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG
BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.2.1. Quy hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông
Quy hoạch xây dựng là việc tổ chức hoặc định hướng tổ chức không
gian vùng, không gian đô thị và điểm dân cư nông thôn, hệ thống công trình
hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; tạo lập môi trường sống thích hợp cho người
dân tại các vùng lãnh thổ, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia với
lợi ích cộng đồng, đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh, bảo vệ môi trường. Về hình thức, quy hoạch xây dựng được
thể hiện ở đồ án quy hoạch xây dựng bao gồm sơ đồ, bản vẽ, mô hình và
thuyết minh. Quy hoạch xây dựng được phân thành ba loại: quy hoạch xây
dựng vùng, quy hoạch xây dựng đô thị (bao gồm quy hoạch chung xây dựng
đô thị và quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị), quy hoạch xây dựng điểm dân
cư nông thôn. Về phạm vi, quy hoạch xây dựng không chỉ liên quan đến


16

không gian trên mặt đất mà còn liên quan đến không gian ngầm, gồm phần

Công tác quy hoạch là một trong những bước quyết định đầu tư
CSHTGT bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, nó có vai trò quan trọng để
khẳng định việc sử dụng nguồn vốn NSNN có đi đúng định hướng, mục tiêu
trong khi có rất nhiều các lĩnh vực công cần đầu tư như trường học, y tế,…
Việc quy hoạch đầu tư CSHTGT bằng nguồn vốn ngân sách cần dựa
trên nguồn lực, tài nguyên và khả năng đóng góp của nhân dân, các sự hỗ trợ
của doanh nghiệp từ đó xác định, bố trí, sắp xếp thứ tự ưu tiên các công trình.
Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở đề xuất, lập quy hoạch
đầu tư trình UBND các cấp phê duyệt. Cụ thể, đối với cấp tỉnh thì Sở Kế
hoạch đầu tư phối hợp với Sở Tài chính lập quy hoạch trình UBND tỉnh ra
quyết định phê duyệt. Còn đối với cấp huyện, Phòng Kinh tế hạ tầng phối hợp
với Phòng Tài chính kế hoạch lập quy hoạch hằng năm, trung hạn trình
UBND huyện phê duyệt.
Tiêu chí đánh giá công tác lập quy hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng giao
thông:
• Phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
• Phù hợp với khả năng cân đối nguồn vốn NSNN và khả năng huy
động các nguồn vốn khác đối với các công trình sử dụng nhiều nguồn vốn.
• Bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và phát triển
bền vững.
1.2.2. Lập, thực hiện kế hoạch vốn ngân sách đầu tư cơ sở hạ tầng
giao thông
Sau khi các dự án nằm trong quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền
phê duyệt thì bước tiếp theo sẽ tiến hành lập, thực hiện kế hoạch vốn để đầu
tư. Kế hoạch vốn ngân sách đầu tư CSHTGT thường được chia làm 3 loại, cụ
thể: kế hoạch hằng năm, kế hoạch trung hạn và kế hoạch dài hạn.


18



vốn NSNN là việc trình cấp có thẩm quyền xem xét việc đầu tư dự án có khả
thi, đảm bảo hiệu quả hay không về các mặt như dự án có trong quy hoạch,
khả năng giải phóng mặt bằng, nguồn vốn, môi trường, an ninh quốc phòng...;
hạn chế tối đa các dự án có tính chất đền bù lớn, nguồn ngân sách không đủ
để thực hiện.
Thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư xây dựng CSHTGT gồm hai bước
cơ bản như sau:
-

Thẩm định dự án đầu tư:

Là công tác tổ chức đánh giá xem xét và phân tích một cách khách quan
trung thực và toàn diện về các nội dung trong dự án xây dựng như báo cáo
kinh tế kỹ thuật, dự toán, bản vẽ thiết kế,.. nhằm đảm bảo dự án mang lại hiệu
quả cho chủ đầu tư và xã hội. Mặt khác, phân tích toàn diện dự án nhằm đảm
bảo tính khả thi của dự án trước khi tiến hành triển khai thi công xây dựng.
- Phê duyệt dự án đầu tư:
Sau khi dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền ban hành văn bản thẩm
định, cụ thể là báo cáo thẩm định thì đơn vị quyết định đầu tư ra quyết định
phê duyệt dự án đầu tư.
Các tiêu chí đánh giá công tác thẩm định và phê duyệt công trình đầu tư
cơ sở hạ tầng giao thông:


Số dự án được thẩm định / tổng số dự án



Số dự án được phê duyệt/ tổng số dự án


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status