Liên quan về bệnh lý tai mũi họng với các chuyên khoa - Pdf 55

BG TAI MUI HONG
MỤC LỤC
Phần 1: Đại cương
Chương 1: Liên quan về bệnh lý tai mũi họng với các chuyên khoa khác
Chương 2: Điều trị cơ bản
Phần 2: Tai – xương chũm
Chương 1: Giải phẫu và sinh lý tai
Chương 2: Phương pháp khám tai
Chương 3: Bệnh học tai ngoài
Chương 4: Bệnh học tai giữa
Chương 5: Bệnh học xương chũm
Chương 6: Bệnh học tai trong
Chương 7: Biến chứng viêm tai xương chũm
Chương 8: Chấn thương tai – xương đá
Phần 3: Mũi xoang
Chương 1: Giải phẫu – sinh lý mũi xoang
Chương 2: Phương pháp khám mũi xoang
Chương 3: Bệnh học mũi
Chương 4: Bệnh học xoang
Chương 5: Ung thư các xoang mặt
Chương 6: Chấn thương mũi xoang
Phần 4: Họng – thanh quản
Chương 1: Giải phẫu – sinh lý họng – thanh quản
Chương 2: Phương pháp khám họng – thanh quản
Chương 3: Bệnh học họng
Chương 4: Bệnh học thanh quản
Chương 5: Ung thư họng – thanh quản
Chương 6: Dị vật đường ăn, đường thở
Chương 7: Chấn thương họng – thanh quản – khí quản

1

1. Quan hệ với nội khoa.
1.1. Nội tiêu hoá.
Khi bệnh nhân bị viêm mũi họng, các chất xuất tiết như: đờm, rãi, nước mũi...là
những chất nhiễm khuẩn khi nuốt vào sẽ gây rối loạn tiêu hoá. Hơn nữa hệ tiêu hoá có
hệ thống hạch lympho ở ruột có cấu tạo giống như ở họng vì vậy mỗi khi họng bị viêm
thì các hạch lympho ở ruột cũng bị theo gây nên tăng nhu động ruột.
Viêm tai giữa ở trẻ em có rối loạn tiêu hoá tới 70% do phản xạ thần kinh tai -
ruột (phản xạ Rey).
2
Nôn ra máu do vỡ tĩnh mạch bị giãn ở 1/3 dưới của thực quản (trong hội chứng
tăng áp lực tĩnh mạch cửa).
Hội chứng trào ngược thực quản: trào dịch dạ dày vào thanh, khí phế quản gây ra
viêm đường hô hấp vì dịch dạ dày có nồng độ p
H
thấp.
1.2. Nội tim, thận, khớp.
Khi viêm nhiễm như viêm amiđan mạn tính, bản thân amiđan trở thành một lò
viêm tiềm tàng (focal infection), bệnh sẽ thường xuyên tái phát khi gặp điều kiện thuận
lợi thông qua cơ chế tự miễn dịch sẽ gây ra các bệnh như viêm cầu thận, viêm khớp và
các bệnh về tim. Giải quyết được các lò viêm như cắt bỏ amiđan sẽ góp phần điều trị
các bệnh trên.
1.3. Thần kinh.
Các bệnh viêm xoang, viêm tai thường bị đau đầu thậm chí gây suy nhược thần
kinh. Đặc biệt trong ung thư vòm triệu chứng đau đầu chiếm tới 68 - 72% các trường
hợp. Ung thư giai đoạn muộn bệnh nhân thường xuyên bị liệt các dây thần kinh sọ não.
1.4. Nội huyết học.
Bệnh nhân giai đoạn cuối trong các bệnh về máu thường bị viêm loét họng dữ dội
chảy máu lớn vùng mũi họng, phải xử trí cầm máu. Bệnh nhân trong phẫu thuật tai mũi
họng thường phải kiểm tra kỹ hệ thống đông máu, tuy nhiên đôi khi thông qua cơ chế dị
ứng miễn dịch xuất hiện chứng đông máu rải rác ở vi mạch gây chảy máu ồ ạt phải xử

sau lao phổi. Dị ứng đường hô hấp...
2. Quan hệ với chuyên khoa răng hàm mặt.
Răng Hàm Mặt là một khoa cận kề với Tai Mũi Họng và các bệnh lý có liên quan
chặt chẽ như: trong xử trí đa chấn thương, trong phẫu thuật thẩm mỹ...Trong bệnh lý
ung thư đầu mặt cổ, trẻ em có dị dạng bẩm sinh. Viêm xoang hàm do răng (răng sâu,
răng mọc lạc chỗ).
3. Quan hệ với chuyên khoa mắt.
Bệnh lý của khoa mắt liên quan chặt chẽ với khoa Tai Mũi Họng đặc biệt trong
viêm xoang sau gây viêm thần kinh thị giác hậu nhãn cầu. Nếu điều trị xoang phục hồi
thì thị lực cũng phục hồi. U nhầy các xoang, u to dần đẩy lồi nhãn cầu. Viêm xoang
sàng có thể xuất ngoại ở góc trong trên của mắt dễ nhầm với viêm túi lệ.
4. Quan hệ với chuyên khoa thần kinh sọ não.
- Các khối u tai trong (u dây thần kinh số VIII), u xoang bướm...
- Trong chấn thương vỡ nền sọ:
Vỡ nền sọ trước: chảy máu mũi và dịch não tủy.
Vỡ nền sọ giữa: chảy máu tai và dịch não tuỷ, liệt mặt, điếc.
5. Quan hệ với chuyên khoa sản.
Trẻ sơ sinh có những dị dạng trong tai mũi họng ảnh hưởng tới hô hấp và tiêu hoá
như: hở hàm ếch, dò thực quản-khí quản, hội chứng trào ngược thực quản...
6. Quan hệ với chuyên khoa y học lao động.
Khoa học ngày càng phát triển cùng với tiến độ của khoa học có nhiều bệnh nghề
nghiệp xuất hiện như:
- Tiếng ồn trong công nghiệp và trong quốc phòng gây điếc, trong không quân, hải
quân: cơ quan tai chiếm một vị trí quan trọng liên quan tới nghề nghiệp.
- Chống bụi.
- Chống hơi độc...
- Chấn thương âm thanh, chấn thương do áp lực không khí trong những quân binh
chủng đặc biệt như binh chủng xe tăng, hải quân, không quân.
CHƯƠNG 2
ĐIỀU TRỊ ĐẠI CƯƠNG

hấp và tiêu hoá nên cấu trúc của của niêm mạc có những điểm giống và khác nhau.
- Giống nhau: đều được cấu tạo bởi nếp gấp của biểu mô và lớp tổ chức đệm.
- Khác nhau: khu vực hô hấp bao gồm mũi, họng, thanh quản, khí quản là biểu mô trụ
đơn có lông chuyển. Khu vực ngã tư hô hấp - tiêu hoá, miệng thực quản, thực quản
được bao phủ bởi biểu mô lát tầng. Do đó niêm mạc vùng tai mũi họng vừa mang
tính chất cảm giác, vừa mang tính chất bảo vệ. Vì vậy khi dùng thuốc phải bảo đảm
vừa chữa khỏi bệnh vừa phải bảo vệ được sự toàn vẹn của niêm mạc.
2. Cách dùng thuốc trong điều trị bệnh lý tai mũi họng.
2.1. Cách dùng thuốc trong điều trị bệnh lý tai.
Trong các trường hợp tai có dịch mủ, nhầy, chảy máu... hoặc sau phẫu thuật tai.
2.1.1. Lau, rửa tai: nhằm làm sạch hết dịch mủ, dịch nhầy, dịch máu ở tai.
* Thuốc thường dùng: Oxy già (H
2
O
2
) 6 đến 12 đơn vị thể tích hoặc nước muối sinh
lý, nước chè tươi.
* Cách sử dụng: rỏ hoặc bơm nhẹ dịch rửa vào tai, sau đó dùng que tăm bông lau sạch
dịch mủ trong tai, làm như trên vài lần, cuối cùng dùng que bông khô thấm sạch
không để dịch rửa ứ đọng trong tai.
2.1.2. Rỏ thuốc tai.
* Thuốc thường dùng:
Cồn bôric 2-5% khi chảy dịch nhầy.
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status