Không gian-thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh. - Pdf 55

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------

BÙI THỊ NGOÃN

KHÔNG GIAN-THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT GIÃ BIỆT BÓNG TỐI
CỦA TẠ DUY ANH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP


2

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây kết quả khóa luận này là sự nỗ lực nghiên cứu, tìm
tòi của bản thân, dưới sự hướng dẫn tận tình của cô giáo: ThS Phạm Thị Thu
Hương. Tôi xin bảo đảm về tính trung thực của lời cam đoan trên.
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2012
Tác giả

Bùi Thị Ngoãn


3

LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo:
ThS. Phạm Thị Thu Hương – người đã luôn bên cạnh đóng góp, sửa chữa

hướng con người đến một thế giới tốt đẹp hơn, ông không ngần ngại phơi bày
lên trang giấy những thói hư tật xấu, những lừa lọc giả dối, những đê tiện của


5

cuộc đời. Với một thái độ tỉnh táo, lạnh lùng; ông sẵn sàng xát muối vào lòng
người đọc chứ không hề vuốt ve, ca tụng họ. Do đó hầu hết các sáng tác của
Tạ Duy Anh, từ truyện ngắn cho đến tiểu thuyết, đã trở thành những sự kiện,
hiện tượng văn học đáng chú ý trong đời sống văn chương.
1.3. Giã biệt bóng tối là tiểu thuyết thứ năm của Tạ Duy Anh. Tác phẩm
ngay từ khi ra đời đã nhận được sự bình phẩm rộng rãi của dư luận, được xem
là “bản ca tụng về lòng khoan dung và tha thứ”. Tuy dung lượng không lớn
nhưng tiểu thuyết lại chứa đựng những vấn đề mà cả thời đại quan tâm, đó là
sự xuống cấp về nhân phẩm, sự tha hóa về nhân cách con người. So với
những cuốn tiểu thuyết trước đây thì trong Giã biệt bóng tối, Tạ Duy Anh đã
tìm được cho mình một lối thể hiện mới với sự hòa trộn giữa hiện đại và dân
gian, giữa quá khứ và hiện tại. Tất cả đã góp phần tạo nên giá trị thành công
của tác phẩm.
Chính vì vậy, người viết đã chọn thực hiện đề tài Không gian-thời gian
nghệ thuật trong tiểu thuyết Giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh; với mong
muốn khám phá một trong những yếu tố thuộc hệ thống thi pháp đã góp phần
làm nên thế giới nghệ thuật độc đáo, riêng biệt mang phong cách, cá tính sáng
tạo của nhà văn.
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài này là hai phương diện quan trọng của thi pháp tiểu
thuyết, đó là không gian và thời gian nghệ thuật.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu tiểu thuyết Giã

chú ý. Thể hiện ở chỗ hiện nay có khá nhiều những đề tài luận văn, luận án đã
chọn sáng tác của Tạ Duy Anh làm đối tượng nghiên cứu như:


7

- Sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại qua ba tác giả Hồ
Anh Thái, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo (Nguyễn Thị Thu Hiền, luận văn thạc
sĩ ngữ văn, Đại học Sư phạm Huế, 2006).
- Phong cách tiểu thuyết Tạ Duy Anh (Phạm Thị Thu Hương (2010),
luận văn thạc sĩ Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Huế, 2010).
3.2. Về tiểu thuyết Giã biệt bóng tối
Trước các ý kiến đánh giá khác nhau về các sáng tác của Tạ Duy Anh,
ngày 15/5/2008, phòng Văn học Việt Nam đương đại - Viện Văn học đã tổ
chức tọa đàm Tiểu thuyết Giã biệt bóng tối trong bối cảnh tiểu thuyết Việt
Nam đương đại. Tất cả những ý kiến đóng góp của các nhà lí luận phê bình
văn học đã được tuyển chọn và đưa vào cuốn Giã biệt bóng tối -Tác phẩm và
lời bình. Hầu hết tất cả các nhà phê bình đều ghi nhận những nỗ lực của Tạ
Duy Anh trong việc đổi mới tiểu thuyết như Bùi Việt Thắng, Nguyễn Đăng
Điệp, Nguyễn Hữu Cơ, Nguyễn Thị Bình…
PGS.TS. Bích Thu nhận xét: “Điểm nổi bật của Giã biệt bóng tối là nghệ
thuật trần thuật và đặc biệt gây ấn tượng ở sự tổ chức điểm nhìn. Có rất nhiều
điểm nhìn mà mỗi điểm nhìn nói lên một khía cạnh của cuộc sống, của thế
giới con người. Điểm đáng chú ý thứ hai là ngôn ngữ và giọng điệu. Đó là thứ
ngôn ngữ linh hoạt, ám ảnh, rất thông tục nhưng cũng có nhiều chất thơ với
những triết lý khá sâu sắc” [5, tr.12].
PGS.TS. Tôn Phương Lan cho rằng: “Giã biệt bóng tối là sự tiếp tục
những nỗ lực làm mới mình của tác giả. Với Giã biệt bóng tối, gương mặt Tạ
Duy Anh tiếp tục ghi nhận trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” [5, tr.35].
Trong bài Vài suy nghĩ về sự đổi mới của tiểu thuyết, Hữu Đạt đã đề

dựa trên cơ sở lý thuyết thi pháp học và tự sự học để chỉ ra nghệ thuật xử lý
không - thời gian nghệ thuật góp phần tạo nên thành công của tác phẩm.
Ngoài ra trong luận văn này chúng tôi còn sử dụng thêm một số phương
pháp hỗ trợ khác như: Phương pháp so sánh, chứng minh...


9

5. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, khóa luận
gồm ba chương chính:
Chương 1. Tạ Duy Anh và tiểu thuyết Giã biệt bóng tối
Chương 2. Cách tổ chức không-thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết
Giã biệt bóng tối
Chương 3. Hiệu quả của việc tổ chức không-thời gian nghệ thuật trong
tiểu thuyết Giã biệt bóng tối


10

CHƯƠNG I
TẠ DUY ANH VÀ TIỂU THUYẾT GIÃ BIỆT BÓNG TỐI
1.1. Tạ Duy Anh - hành trình từ truyện ngắn đến tiểu thuyết
1.1.1. Một Tạ Duy Anh thành danh từ truyện ngắn
Tạ Duy Anh là một trong những nhà văn nổi bật của nền văn học Việt
Nam đương đại. Ông sinh ngày 9/9/1959, trong một gia đình nông dân nghèo
tại làng Đồng Trưa, xã Hoàng Diệu, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (nay
thuộc Hà Nội). Ngay từ khi sinh ra ông đã được thừa hưởng một điều không
ai muốn, ấy là sự thất học. Sống ở một vùng quê hẻo lánh, lớn lên với nỗi ám
ảnh về một lời nguyền “khi nào đá có thể nổi trên mặt nước thì làng mới có

Sau thành công của Bước qua lời nguyền, Tạ Duy Anh tiếp tục khẳng
định mình ở thể loại truyện ngắn với việc cho ra đời hàng loạt các tác phẩm
có giá trị như: Truyền thuyết viết lại (1991), Luân hồi (1994), Ánh sáng
nàng (1996), Người khác (2000), Ngày hội cuối cùng (2000), Bố cục hoàn
hảo (2004)…Ngoài ra ông còn viết tản văn và truyện ngắn cho thiếu nhi.
Bằng lối viết hiện thực phê phán, nhà văn đã can đảm nhìn lại quá khứ
đau đớn của mình, của một thế hệ lớn lên trong hai lớp hận thù là hận thù
dòng họ và hận thù giai cấp. Truyện ngắn của ông thường đặt ra những câu
hỏi về quá khứ nông thôn Việt Nam thời cải cách ruộng đất. “Nó không cho
rằng cải cách ruộng đất là một sai lầm, một “thủ đoạn chính trị”, mà sâu sắc
hơn, nó xoáy vào sự đổ vỡ của nhân tính khi con người bị đẩy vào tình thế
buộc phải lựa chọn. Bi kịch của người nông dân Việt Nam là ở đấy, trong thế
giới u minh của mình” [5, tr. 57]. Tuy nhiên, kết thúc mỗi tác phẩm, bằng ánh
sáng của tình yêu, nhân vật đã tìm được cho mình một nguồn sáng: “ngày mai
sẽ tạnh ráo bởi đêm nay những thiên thần đang ào ạt lao xuống. Nàng đã cho
tôi một giấc mơ kì lạ. Tôi thấy nàng bồng lão Mị xuống trần, đỏ hỏn. Tôi thấy


12

cha tôi bồng mẹ tôi trong tiếng cười giòn tan của bà nội. Chúng tôi rồng rắn
đi về phía bên kia tiếng hú. Sau lưng chúng tôi là ác mộng, là những cơn mưa
trước phút luân hồi” [1, tr. 143].
1.1.2. Tạ Duy Anh và những thử nghiệm táo bạo cùng thể loại tiểu thuyết
Khi nhà văn có được một tác phẩm nổi tiếng, họ thường quay về nhấm
nháp niềm vinh quang và ngủ quên trên đỉnh cao ấy. Sớm thành danh trên văn
đàn từ những năm 90 với thể loại truyện ngắn và công lao mở đầu dòng văn
học bước qua lời nguyền nhưng Tạ Duy Anh không dừng lại. Trong những
năm gần đây, nguời đọc lại bắt gặp một Ta Duy Anh đang thể nghiệm mình ở
thể loại tiểu thuyết. Và ở thể loại này, Tạ Duy Anh cũng dần dần định hình

lượng 201 trang, là sự điều tra để tìm ra những khổ đau của con người, những
nguyên nhân đưa đến thù hận dòng họ đã giết chết biết bao thế hệ. Với ý
muốn đào sâu các chuyện vụn vặt, muốn nhân vật mình là những con người
“đời thường” chứ không phải những “anh hùng”, Tạ Duy Anh đã bắt đầu có
sự tiếp nhận lý thuyết phương Tây đưa vào tiểu thuyết Lão Khổ.
Sau gần 10 năm lăn lộn khá vất vả, Tạ Duy Anh đã làm xôn xao dư
luận với tiểu thuyết Đi tìm nhân vật (1999). Tiểu thuyết xoay quanh nhân vật
nhà báo Chu Quý và quá trình điều tra của anh về vụ việc một đứa bé đánh
giày bị đâm chết dã man ở phố G. Từ điểm tựa đó, tiểu thuyết mở rộng dần ra
với câu chuyện của nhiều nhân vật khác như tiến sĩ N, nhà văn Trần Bân,
Thảo Miên… và cuối cùng khép lại với sự hoang mang của các nhân vật trong
khát vọng tìm một lối thoát, để ra khỏi cái mê cung của phần vực tối trong
tâm hồn con người. Cuốn tiểu thuyết đã rung lên tiếng chuông cảnh báo về sự
phi lý của cuộc sống khi xã hội chỉ còn lại những bản sao, có những điểm y
hệt nhau, ngay cả các chỉ số kích thước cũng hầu như trùng khít, khi cá nhân
bị đánh đồng, không thể nào cảm thông và thấu hiểu nhau, khi họ không có
đủ tự tin để trả lời câu hỏi mình là ai, mình có phải là mình nữa không. Đi tìm
nhân vật là một tiểu thuyết phức tạp bởi tính đa âm của tác phẩm. Thành công


14

của Tạ Duy Anh trong tiểu thuyết này không chỉ thể hiện ở việc đặt ra một
vấn đề nhân sinh mang tầm phổ quát mà còn ở nỗ lực đổi mới ngòi bút.
"Người đọc có thể thấy được những dấu hiệu của chủ nghĩa hiện sinh, của thủ
pháp dòng ý thức và có chương xuất hiện lời thoại kiểu kịch phi lý. Nhưng cái
thế giới nghệ thuật được tạo lập từ những thành tố vừa độc lập vừa xen cài
của cuộc đời các nhân vật trong sự hướng đến một chủ đề chung thì là của
riêng Tạ Duy Anh” [5, tr.62].
Vào thời điểm mở đầu thế kỉ XXI, Tạ Duy Anh góp thêm cho nền văn

phải tự mình bươn chải để kiếm sống, nhưng đi đến đâu cũng gặp phải sự tráo
trở của lòng người. Qua tác phẩm, hiện thực xã hội Việt Nam hiện lên với đủ
mọi hạng người tốt xấu trắng đen lẫn lộn, mang lại cảm giác mãnh liệt về sự
tha hóa đang len lỏi vào từng con người. Điều này chúng tôi sẽ trình bày kĩ
hơn ở những phần sau.
Từ Khúc dạo đầu cho đến Đi tìm nhân vật, tài năng của Tạ Duy Anh
rõ ràng đã được khẳng định ở thể loại tiểu thuyết. Đó là kết quả của cả một
hành trình tiếp nhận văn học phương Tây để tìm lối viết thích hợp. Từ dấu ấn
lãng mạn trong Khúc dạo đầu qua hiện thực phi lý trong Thiên thần sám hối,
từ lối viết mang màu sắc cổ điển trong Đi tìm nhân vật đến lối viết hiện đại ở
Giã biệt bóng tối; Tạ Duy Anh đã thể hiện rõ nét sự cách tân táo bạo cùng
những thể nghiệm của mình ở lĩnh vực tiểu thuyết.
1.1.3. Quan niệm nghệ thuật Tạ Duy Anh
Không chỉ mang đến cho độc giả những tác phẩm văn chương có giá
trị, Tạ Duy Anh còn thẳng thắn bày tỏ quan niệm sáng tác của mình thông qua
những lần đối thoại văn chương nhân dư luận xung quanh tiểu thuyết Thiên
thần sám hối, qua các lần trả lời phỏng vấn trên báo Thể thao & Văn hóa,
báo Pháp luật, báo Giáo dục & Thời đại, qua lần nói chuyện với Lê Thiếu
Nhơn trong bài Lê Thiếu Nhơn hỏi chuyện Tạ Duy Anh xung quanh việc
tiểu thuyết Giã biệt bóng tối được xuất bản.


16

Với Tạ Duy Anh, một tác phẩm tiểu thuyết đích thực không phải là tác
phẩm hướng đến những điều cao xa, huyền ảo và thơ mộng mà phải đi vào
khám phá các căn bệnh của xã hội; từ những gian trá, đớn hèn, vật dục, tàn ác
đến những bí ẩn về sự tồn tại của con người và nhân thế. Nhờ vậy, văn
chương mới có khả năng làm nổi lên gương mặt thế sự đau đáu, riết róng
chuyện thánh thiện, tàn ác, liêm sỉ và vô lương, để rồi qua đó con người nhận

không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho.
Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi
những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” [6, tr.341], Tạ Duy
Anh luôn viết với sự tìm tòi nỗ lực không ngừng để tự làm mới mình. Theo
ông, “mỗi tác phẩm đã được sinh ra vĩnh viễn đem theo chiếc áo chỉ mình nó
mặc vừa. Muốn tạo ra tác phẩm, khác, phải có chiếc áo dành riêng cho nó” [3,
tr.164]. Một cuốn tiểu thuyết hiện đại là tác phẩm “mời người đọc đối thoại
với nó. Thay vì cảm giác đang nghe kể lại một câu chuyện (độc giả thường là
đối tượng theo dõi một cách thụ động) là cảm giác câu chuyện đó của chính
mình cần một sự sáng tạo thứ hai trước khi có được những phát ngôn chân lý.
Tiểu thuyết hiện đại ít tìm kiếm sự khẳng định về mặt thể loại hơn là cách
trình bày vấn đề, ít tuân thủ những nguyên tắc kết cấu, nhân vật, bố cục…và
vì thế nó tự do hơn” [3, tr.164].
Chỉ có thể tạo ra tác phẩm có giá trị khi nhà văn sống hết mình với tác
phẩm, biết trăn trở với hiện thực, với những nỗi đau của thân phận con người.
Ông đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của nhà văn trong việc kiến giải những
vấn đề xã hội. Ông từng nói: “Tôi không phải là nhà chính trị để có thể và cần
phải đưa ra những giải pháp cụ thể. Nhưng có một giải pháp chính trị nào
tuyên bố có thể thay đổi số phận con người thì đấy chính là lúc cần vai trò của
nhà văn với tư cách một người cảnh báo sớm về những thảm họa không thể
thay đổi từ sự thay đổi đó” [3, tr.151]. Không thích dạy dỗ, xoa đầu người


18

khác mà nhà văn chỉ âm thầm, lặng lẽ bằng các tác phẩm của mình nói lên sự
phô diễn của các biến cố khủng khiếp, những bóng ma tinh thần cứ ngày một
đè bẹp con người, khiến họ bị dị dạng, tha hóa về nhân cách và phẩm giá. Và
rồi cũng bằng những tác phẩm ấy, nhà văn hướng con người đến những cái
nhìn mới mẻ, tươi sáng hơn, đến một cuộc sống khác đầy nhân văn, nhân bản.

ra những cái chết của người dân trong làng, thằng Thượng vô cùng ân hận, nó
quyết tâm chống lại lời ước ma quỷ mà lão già ban cho bằng cách âm thầm
chịu đựng những lời mắng mỏ, những sự đánh đập dã man của người khác.
Cuối cùng Thằng Thượng đã chiến thắng tất cả bằng lòng tha thứ và đức
khoan dung: “tôi nhớ là mình đã nhẹ nhàng nằm xuống trong cái ý thức bóng
tối đang lụi tàn. Tôi biết chắc như vậy không phải nhờ tiếng con gà nào đó sẽ
cất cao tiếng gáy như mọi hôm mà nhờ bước chân xa dần của kẻ vẫn giấu
mặt. Ông ta và đồng ca của ông ta chẳng còn việc gì để làm khi cuộc sống
chỉ còn lại lòng tha thứ , khi mỗi chúng tôi biết chắc chúng tôi là ai, trước mặt
chúng tôi là gì và khi ánh sáng tràn đến…Tôi đã chờ cái ngày này. Tôi chụm
tay lại, hướng về phía mặt trời hét lên một tiếng thay cho lời giã biệt bóng tối”
[4, tr.257].
Điều làm nên giá trị của Giã biệt bóng tối khác với những tác phẩm
trước đây của Tạ Duy Anh, là ngoài việc phê phán những vấn đề bức xúc của
xã hội, tác phẩm còn làm nổi bật lên vẻ đẹp của tình người. Đó là khi chị
điếm “có vẻ hốt hoảng, lia mắt ra bốn phía xung quanh” để tìm thằng bé lang
thang [4, tr.53]. Chính thằng bé lang thang đã đánh thức trong chị cảm giác
của tình mẫu tử: “nhìn vào cặp mắt nó người tôi muốn nhũn ra. Đó là ánh mắt
của kẻ sắp tắt hết mọi hy vọng…Có thể từ trong sâu xa tôi đã từng ao ước có
một đứa con trai như nó” [4, tr.229-230], làm bùng lên trong chị niềm khát
khao về một cuộc sống khác. Chị chấp nhận đi cải tạo để có một cuộc sống
lương thiện và trong sạch hơn, sau biết bao năm bôn ba với cuộc đời chị đã
biết nghĩ về cuộc sống tương lai. Còn đối với thằng bé lang thang, cuộc gặp


20

gỡ với cô gái điếm cũng giúp nó có thêm động lực để vượt qua những sự hành
hạ đáng sợ của bọn nghiện ngập và tránh xa cạm bẫy của lão Vua chuột.
Tuy vẫn chưa thoát khỏi tính chất luận đề “lời nguyền - tội ác” và có

dựng và thể hiện gắn với cuộc đời của các nhân vật, trải dài từ thành thị cho
đến làng Thổ Ô nhỏ bé. Đó là quỹ thời gian xảy ra nhiều sự kiện lớn làm thay
đổi cuộc đời của các nhân vật.
Trước hết đó là thời gian cuộc đời nhân vật Thượng - một thằng bé lang
thang, không nhà cửa, ở với bà ngoại đến năm mười hai tuổi thì phải tự mình
bươn chải làm đủ nghề để kiếm sống. Sống trong cái xã hội mà “có kiếm
được bao nhiêu đi nữa thì cũng đừng mong ngóc nổi đầu lên ở cái thành phố
thối tha này chỉ nhờ những đồng tiền lẻ” [4, tr.30], với đủ các hạng người từ
gã làm nghề xe ôm, mấy mụ cave đến đám trí thức “luôn luôn tưởng mình là


22

tầng lớp tinh hoa của xã hội” [4, tr.40], những kẻ vừa kiêu ngạo vừa hèn mạt,
số phận của thằng bé lang thang luôn luôn biến động, không ngừng quay
cuồng trong cái xã hội ấy. Đi đến đâu nó cũng phải đối mặt với sự tráo trở của
lòng người. Một bà lớn sang trọng lừa nó đi bán ma túy, một tên chủ quán bia
bóc lột sức lao động còn ăn quỵt tiền lương và đẩy nó ra đường khi đèn
đường đã bật sáng, một đám nghiện hút hành hạ nó bằng những mũi dao sắc
lẻm trong khi lên cơn nghiện…Thành phố là cả một cạm bẫy lớn rình rập
thằng bé.
Lưu lạc đến làng Thổ Ô tình cảnh của nó cũng chẳng khá hơn là mấy.
Lấy ngôi miếu từ lâu không còn ai hương khói làm nơi tá túc, “ngày ngày nó
vào làng chờ xem có ai gọi, thỏa thuận công xá rồi từ đấy chả ai trông thấy nó
đâu cho đến khi nhập nhoạng tối mới thấy trong miếu leo lét ngọn đèn dầu”
[4, tr.92]. Thời gian đầu nó đẩy xe cho lão Tung nhưng vô tình đánh rơi chùm
chìa khóa của lão vào sọt phân, nó đã bị lão hất cả muỗng phân vào người.
Sau đó nó lại bị San chó bắt dọn hết chuồng phân ở góc vườn. Rồi mụ Hường,
lão Thìn cũng lần lượt hành hạ thằng bé. Sống ở làng Thổ Ô niềm vui duy
nhất của nó để quên đi nỗi cô độc là ngày ngày, sau khi nhập thêm những

một đồng, chị điếm đã định trút tất cả nỗi oán hận lên đầu thằng Thượng.
Nhưng khi nhìn vào mắt nó, trong giây phút đã khiến chị thèm khát một cuộc
sống khác. Từ đây, hồi ức và tâm sự của nhân vật cứ nhập nhằng lên nhau, có
khi chị vượt qua hiện tại để hướng đến tương lai sau bao nhiêu năm ê chề
nhục nhã: “ước gì nó nhận tôi là mẹ nó, tôi sẽ kiếm một công việc gì đó như
bới rác ngoài bãi thải, bưng bê bô chậu trong bệnh viện, lau dọn nhà vệ sinh ở
bến xe, bến tầu, chăm sóc người bị bệnh hiểm nghèo ở các khu cách ly, vào
làm việc trong trại hủi…” [4, tr.232]. Cách hành xử của chị trong trại phục
hồi nhân phẩm hoàn toàn là để chờ đợi tương lai đó, cao quý đúng như một
con người. Chị cảm thấy những ngày tháng dài lê thê cứ dần trôi qua và tìm


24

thấy niềm thanh thản, khoái lạc trong sự đau khổ, trong sự nhẫn nhục chịu tội
thay, trong sự xả thân.
Cùng nằm trong dòng thời gian sự kiện riêng tư của từng nhân vật, thời
gian của nhân vật Bính cũng được miêu tả rõ nét. Là dân chính cư của làng
Thổ Ô, học hết phổ thông trung học theo bạn bè ra thành phố làm cửu vạn,
chấp nhận làm trai bao cho một bà lớn trên thành phố, vốn là người nghèo
khổ nay bị tiền làm cho mờ mắt, gã “dự định hốt một mẻ đẫy rồi lặn thẳng về
quê, không sủi tăm”. Bị bà chủ phát hiện, vừa run sợ vừa xấu hổ lẫn tiếc nuối,
gã bỏ về quê thực hiện giấc mơ làm thành hoàng của làng bằng việc xây dựng
ngôi nhà đại đồng. Trong giấc mơ hôm đầu tiên về làng gã gặp lão già trong
bóng tối, bị lão điều khiển linh hồn, gã hành hạ thằng bé lang thang bằng
những đòn tra tấn dã man. Nhưng vào giờ phút quyết định nhất, hình ảnh cô
gái điếm với cặp mắt u buồn và tha thứ đã kéo gã ra khỏi khoảng tối đen
ngòm ấy, giúp gã tránh xa khỏi cạm bẫy của lão già để trở về với con người
thực của mình: “Tôi sẽ tìm nàng bằng được bất kể nàng từng có một quá khứ
lầy lội, bất kể giờ đây cơ thể nàng lở loét do bệnh tật phát tác, như vẫn thường

bọn hút hít tiêm chích, bọn chủ các xới vàng, bọn đầu gấu đầu trâu, bảo kê
bảo kiệc, bọn bóc lột sức lao động, bọn cướp ngày rồi bày ra trò làm từ thiện
dưới đủ loại danh nghĩa…” [4, tr.75]. Nó cố vùng vẫy để thoát khỏi cái thực
tại ấy nhưng càng chạy trốn thì càng bị bóng đen bao phủ. Những lần như vậy
nó lại đắm mình trong dòng suy nghĩ về những miền đất xa xôi trong những
câu chyện cổ tích mà bà ngoại hay kể: “Nó thấy mình nhẹ bẫng, bay lơ lửng
trên bầu trời giống như một quả bóng bay. Nó bay mãi, bay mãi, qua các miền
đất, chỗ nào cũng hao hao như miền đất bà ngoại thường mô tả trong những
truyện cổ tích bà kể” [4, tr.34].
Cũng trong những lúc đau khổ nhất, thằng Thượng thường hay nghĩ đến
bà và thời gian được sống với bà ngoại: “buổi sáng tôi đến trường...còn bà cắp
thúng và chiếc chổi bằng rễ tre ra đi…buổi tối tôi rúc vào nách bà và thiếp đi



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status