CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ
CHUYÊN MÔN CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TIỂU
HỌC THEO YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ
THÔNG TỔNG THỂ
Tổng quan nghiên cứu vấn đề
-Ở nước ngoài
Các
nhà
giáo
dục
Nga
P.V.Zimin,
M.I.Konđakôp,
N.I.Saxerđôtôp đi sâu nghiên cứu “Những vấn đề quản lý trường
học”. Các nghiên cứu QL giáo dục Xô Viết cho rằng: “Kết quả
toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ
chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động của đội ngũ GV”.
Trong những trang viết của mình,V.A.Xukhomlinki cũng như các
tác giả V.PXtrezicodin, Gigoocscaia, Zakhonôp,... khẳng định một
chức năng của HT nhà trường là phải xây dựng, bồi dưỡng và phát
triển đội ngũ GV, phát huy tính sáng tạo, chủ động, linh hoạt trong
lao động của mỗi cá nhân và khả năng tự hoàn thiện trình độ
vực giáo dục:“Chất lượng GD&ĐT chưa đáp ứng yêu cầu phát
triển, nhất là đào tạo nguồn lực trình độ cao vẫn còn hạn chế;
chưa chuyển sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội. Chương trình,
nội dung, phương pháp dạy học và học lạc hậu, chẩm đổi mới; cơ
cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào
tạo; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được
yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa [11].
Như vậy, hơn lúc nào hết, việc nâng cao chất lượng GD là
một nhiệm vụ trọng tâm của ngành GD&ĐT trong công cuộc đổi
mới đất nước. QL hoạt động GD có vai trò quyết định đến chất
lượng GD của nhà trường. Để làm tốt nhiệm vụ đó thì các nhà QL
phải đầu tư nghiên cứu để tìm ra các giải pháp đổi mới công tác
QL, giải pháp nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường.
Trong nhà trường phổ thông, đội ngũ GV được sắp xếp theo từng
TCM nên việc QL hoạt động của đội ngũ GV của người HT chính
là QL hoạt động của TCM trong nhà trường. Điều này đã khẳng
định trong Luật Giáo dục năm 2005 (đã được sửa đổi, bổ sung
năm 2009): “Tuy không trực tiếp tham gia vào hoạt động dạy và
học, những CNQL giáo dục bằng những hoạt động quản lý của
mình tác động vào quá trình giáo dục nhằm hướng cho hoạt động
dạy và học đạt được những mục tiêu yêu cầu của giáo dục và đảm
bảo chất lượng giáo dục” [34].
QL hoạt động TCM là một trong những họat động trung tâm
của người HT, đồng thời cũng là hoạt động cơ bản, quan trọng
trong công tác QL trường học. Chính vì lẽ đó, vấn đề QL hoạt
động của TCM trong nhà trường đã được các nhà QLGD đề cập
trong các công trình nghiên cứu khoa học của mình. Có thể nhắc
được mục tiêu của mình thì các nhóm bắt đầu được hình thành.
Lúc đó quản lý là một nhu cầu tất yếu để phối hợp năng lực của
tập thể để đạt mục tiêu chung. Qua các phương thức sản xuất từ
cộng sản nguyên thủy đến nền văn minh hiện đại, xã hội ngày
càng phát triển, trong đó QL là một thuộc tính tất yếu lịch sử
khách quan gắn với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển. Thuộc
tính đó bắt nguồn từ bản chất của hệ thống xã hội - hoạt động
lao động tập thể - của con người. Trong quá trình lao động con
người bắt buộc phải liên kết, tạo nhóm lại với nhau, kết hợp
thành một tập thể. Điều này đòi hỏi sự phân công và hợp tác
trong lao động, tức là phải có sự QL. Ngày nay, trong tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội, khi con người thực hiện các hoạt
động đều cần đến QL. QL không chỉ thu hẹp trong phạm vi cá
nhân, tổ chức mà hầu như không giới hạn phạm vi; có thể nói
rằng nơi nào có hoạt động thìnơi đó có QL. QL gắn liền với
cuộc sống, với hoạt động của con người, nó gắn liền với quá
trình kinh tế - xã hội. QL là yêu cầu tất yếu nảy sinh và nó chính
là một phạm trù tồn tại khách quan, nó ra đời từ bản thân nhu
cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, trong mọi thời đại. Có
thể nêu ra một số cách tiếp cận sau: Theo góc độ tổ chức, QL là
cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, kiểm tra. Theo góc độ điều khiển, QL
có nghĩa là sự tác động của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm tổ
chức, phối hợp các hoạt động của con người trong quá trình lao
động sản xuất xã hội để đạt được mục đích đề ra.
Theo lý luận của chủ nghĩa Mác -Lênin : QL xã hội một cách
khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể QL đối với toàn bộ
những hệ thống xã hội. Theo Các Mác: “Quản lý là loại lao động
sẽ điều khiển mọi quá trình lao động phát triển xã hội” [22,253].
chức. Đối tượng tác động của QL là một hệ thống xã hội hoàn
chỉnh gồm nhiều yếu tố liên kết hữu cơ với nhau theo một quy
luật nhất định.
Tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển của mọi cá
nhân và tổ chức, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và có hiệu
quả. Hệ thống QL bao giờ cũng gồm hai phân hệ là: Chủ thể QL
và khách thể QL (người quản lý và người bị quản lý).
Như vậy, bản chất của QL là một lao động để điều khiển lao
động. Quá trình này có thể được mô tả bằng sơ đồ sau đây:
MÔI TRƯỜNG
Cơ chế quản lý
Xác định
Chủ thể
Quản lý
Phương pháp
quản lý
Mục tiêu
Quản lý
Công cụ
Quản lý
Đối tượng
Quản lý
quản lý”. Kiểm tra chính là quá trình thiết lập mối quan hệ ngược
trong QL. Kiểm tra không hẳn là giai đoạn cuối cùng của chu kì
QL. Kiểm tra, đánh giá được thực hiện trong suốt quá trình thực
hiện kế hoạch.
Ngoài 4 chức năng nêu trên trong chu trình QL, chủ thể QL
phải sử dụng thông tin như là một công cụ hay chức năng đặc biệt
để thực hiện các chức năng trên.
Ta có thể biểu diễn chu trình QL theo sơ đồ sau:
Kế hoạch
Tổ chức
Thông tin
Kiểm tra,
đánh giá
Chỉ đạo
- Quan hệ giữa các chức năng quản lý
- Quản lý giáo dục
Theo chuyên gia giáo dục Liên Xô M.I.Kônđacốp: “Giáo
dục một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất cảu nó là sự truyền
đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử, xã hội của các thế hệ loài
người. Nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển tinh
hoa văn hóa dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ
sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên.”[23].
Chính vì vậy, giáo dục đã trở thành mục tiêu phát triển xã
thống giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và
nguyên tắc giáo dục của Đảng thực hiện được những tính chất
của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình
dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự
kiến tiến lên trạng thái mới về chất”. [27,89].
Trong QLGD, chủ thể QL ở các cấp chính là bộ máy QLGD
từ Trung ương đến địa phương, còn đối tượng QL chính là nguồn
nhân lực, CSVC kỹ thuật và các hoạt động thực hiện chức năng
của giáo dục đào tạo.
Hiểu một cách cụ thể là:
QLGD là hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có mục
đích của chủ thể QL đến đối tượng bị QL.
QLGD là sự tác động lên tập thể GV, HS và các lực lượng
giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối
hợp, tác động tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường để
đạt mục đích đã định.
Tóm lại, theo chúng tôi, QLGD là quá trình định hướng của
người QLGD trong việc vận dụng những nguyên lý, phương pháp
chung nhất của khoa học QL và lĩnh vực giáo dục nhằm đạt được
mục tiêu mà giáo dục đề ra. Sản phẩm đặc thù của giáo dục là
nhân cách con người, vì vậy chủ thể QLGD tác động đến tình
cảm, tâm lý GV, HS của nhà trường và các lực lượng khác trong
xã hội có tham gia làm công tác giáo dục.
- Quản lý nhà trường tiểu học
- Quản lý nhà trường
Trường học nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân. Nhà
trường được thành lập theo quy định, kế hoạch của nhà nước để
phát triển sự nghiệp giáo dục của mỗi quốc gia. Cũng như khái niệm
trường có mối liên hệ trực tiếp với nhà trường nhằm định hướng,
đồng hành cùng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển đó.
Như vậy, QLNT chính là QLGD trong một phạm vi xác định
của một đơn vị giáo dục, nền tảng đó là nhà trường. Công tác
QLGD nói chung và QLNT nói riêng là yếu tố then chốt trong
thúc đẩy sự phát triển của giáo dục. QLNT được thực hiện trên cơ
sở những quy luật chung của QL, nhưng đồng thời lại có những
nét đặc thù riêng của QLNT, được quy định bởi bản chất lao động
sư phạm của người GV, bản chất của quá trình dạy học và giáo
dục.
Theo chúng tôi, QL nhà trường là những tác động có ý thức,
có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, định hướng và hợp quy
luật của chủ thể QL nhà trường (đứng đầu là HT) lên tất cả các
nguồn lực nhằm đưa các hoạt động dạy và học đạt được mục tiêu
giáo dục cao nhất.
Chủ thể quản lý
Các lực lượng xã hội trong
và ngoài nhà trường
Tập thể sư phạm
Học sinh
(Mục tiêu giáo dục)
- Sơ đồ quản lý nhà trường
- Quản lý nhà trường tiểu học
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục TH có một vị trí
đặc biệt quan trọng, bởi đây là bậc học “nền móng” để xây dựng
một “ngôi nhà mới - con người mới”. Trường TH lần đầu tiên tác
động đến trẻ em bằng hình thức nhà trường (bao gồm cả nội dung,
phương pháp và tổ chức GD). Trường TH là nơi đầu tiên tổ chức
một cách tự giác HĐ học với tư cách là HĐ chủ đạo cho trẻ em
cũng như tổ chức một cách tự giác các HĐ khác cho học sinh.
Điều 3 trong Điều lệ trường TH đã chỉ rõ nhiệm vụ cơ bản của
trường TH là: Tổ chức giảng dạy, học tập và các HĐGD khác theo
chương trình GD TH do Bộ trưởng Bộ GD &ĐT quyết định ban
hành [3].
Do các đặc thù riêng của nhà trường Tiểu học nên ngoài
những tri thức về kinh tế học, xã hội học, GD học, QL hành chính
một cơ sở v.v..thì người QL trường TH đòi hỏi phải có những tri
thức về: đặc điểm của nhà trường TH, tâm lý học bậc TH, đặc
điểm lao động của người GV tiểu học..., đồng thời phải có kỹ
năng giao tiếp và ứng xử với đa dạng các các thành phần như: GV,
học sinh, phụ huynh, các nhân vật trong cộng đồng có quan hệ
trực tiếp hoặc gián tiếp với nhà trường.
QL trường TH là quá trình sư phạm diễn ra trong nhà trường
TH bằng cách sử dụng có hiệu quả nhất các đầu vào (CSVC, tài
chính, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ) để đạt kết quả GD có
chất lượng cao nhất khi sử dụng các phương pháp, phương tiện
hiện đại hợp lý và phù hợp với các quy luật tâm lý, quy luật giáo
dục học để tiến hành việc biến đổi đối tượng giáo dục từ chưa biết
đến biết.
cộng đồng, hợp tác với các tổ nghiệp vụ trong trường dưới sự QL,
chỉ đạo của HT. TCM sẽ giúp HT điều hành và tổ chức thực hiện
các hoạt động sư phạm và nghiệp vụ, trong đó TTCM cùng với tổ
phó chuyên môn giúp HT quản lí GV, thực hiện các hoạt động
giáo dục theo kế hoạch chung của nhà trường. TCM là nơi chịu
trách nhiệm trực tiếp về chất lượng giảng dạy của GV và chất
lượng học tập của HS trong khối lớp phụ trách. Ngoài ra TCM
còn là đơn vị cơ sở cần xây dựng kế hoạch chung giúp các tổ viên
xây dựng kế hoạch trong công tác CM của mình, là nơi đôn đốc,
kiểm tra, theo dõi các hoạt động CM của từng giáo viên. TCM là
nơi tổ chức, tiến hành và trao đổi nghề nghiệp tự học, tự nâng cao
trình độ nghiệp vụ CM, tổ chức các giờ rút kinh nghiệm và tham
gia tốt các phong trào trong tổ.
Hoạt động của TCM có vai trò quyết định đến chất lượng
giáo dục của nhà trường. Chính vì vậy, nếu HT quản lý tốt hoạt
động của TCM thì sẽ nâng cao chất lượng GD của trường. Đặc
điểm TCM ở trường TH khác với đặc điểm TCM ở các bậc học
trên ở chỗ: GV TH là người dạy nhiều môn học trong một lớp
chính vì vậy việc QL hoạt động TCM ở trường TH gặp nhiều
khó khăn hơn so với việc QL chuyên môn ở các bậc học trên.
Bởi vì mỗi GV không thể dạy tốt được tất cả các môn như Toán,
Tiếng Việt, TNXH, Âm nhạc, Mĩ thuật…chính vì vậy HT cũng
cần phải có những biện pháp QL các TCM cho thật linh hoạt sao
cho phát huy tốt sở trường của mỗi GV.
- Tổ trưởng chuyên môn
TTCM là những GV có chuyên môn vững, có phẩm chất chính
trị, đạo đức tốt, biết tập hợp các thành viên trong tổ, biết giúp HT
triển khai kế hoạch hoạt động của nhà trường. TTCM là người chỉ
chủ nhiệm tổ chức kiểm tra công tác học tập của HS. Tổ chức việc sử
dụng và bảo quản trang thiết bị dạy học; Tổ chức, chỉ đạo việc bồi
dưỡng và tự bồi dưỡng của GV trong tổ; Tổ chức nghiên cứu và áp
dụng PPDH theo hướng đổi mới; Hướng dẫn GV về thực hiện các
hướng dẫn của chuyên môn; Tập huấn công tác giảng dạy, giáo dục
như: “Sử dụng đồ dùng - TBDH, chế độ chấm và cho điểm, đánh
giá, xếp loại HS....; Kiểm tra nội bộ tổ về chất lượng giảng dạy, giáo
dục”[3].
Quan hệ với HĐSP
Quan hệ với HT và
PHT
GVCN
hệ với đoàn thể trong trường
Quan
hệ với các TTCM Quan
khác hệ vớiQuan
Chấp hành, tham mưu,
tham
giatham mưu, cầuPhối
Chấp
hành,
nối hợp, thi đuaChỉ đạo, phối kết hợp
Phối hợp
- Quan hệ của TTCM trong hoạt động quản lý
- Hoạt động của tổ chuyên môn
Hoạt động của TCM hàng năm phải bám sát nội dung,