NGHIÊN cứu cá NHÂN tố ẢNH HƯỞNG đến HIỆU QUẢ làm VIỆC NHÓM - Pdf 55

NGHIÊN CỨU
“CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ LÀM VIỆC NHÓM
CỦA SINH VIÊN KHOA MARKETING ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG”.

TÓM TẮT
Nghiên cứu này phân tích, nhận xét, đánh giá thực trạng làm việc nhóm của
sinh viên Khoa Marketing, trường ĐHKT-ĐHĐN. Nghiên cứu những biến số tác động
đến hiệu quả làm việc nhóm như Đóng góp cho hoạt động nhóm (CTB), tương tác với
các thành viên trong nhóm (ITR), giữ cho nhóm đi đúng hướng (KPT), mục tiêu mong
đợi (EPT), có những kiến thức, kỹ nẵng và khả năng thích hợp (KSA). Dựa trên những
cơ sở lý thuyết, mô hình lý thuyết cùng với các giả thuyết liên quan đến các yếu tố nói
trên.
Nghiên cứu này chính thức được hình thành thông qua khảo sát bằng bản câu hỏi (hình
thức online), kết quả thu được 125 phiếu điều tra.
Dữ liệu sau khi được mã hóa, nhập liệu và phân tích qua phần mềm SPSS phiên
bản 20. Phương pháp xử lý dữ liệu gồm có: kiểm định thang đo (Cronbach’s Alpha),
phân tích tương quan, phân tích hồi quy tuyến tính và phân tích ANOVA.
Từ những kết quả nghiên cứu thu được, nhóm đưa ra những giải pháp đề xuất
cho nghiên cứu, nhà trường, giảng viên, sinh viên khoa Marketing, trường ĐHKTDHĐN, góp phần cải thiện cách làm việc nhóm hiệu quả hơn.


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐHKT-ĐHĐN: Đại học Kinh Tế-Đại học Đà Nẵng
CTB:
Đóng góp cho hoạt động nhóm
ITR:
Tương tác giữa các thành viên trong nhóm
KTP:

song với nhiệm vụ nâng cao chất lượng trong việc đào tạo thì chính bản thân mỗi sinh
viên cũng là đối tượng cần phải năng động và sáng tạo để tiếp thu những kiến thức,
phương pháp học tập mới mẻ.
Đặc biệt ở bậc đại học thì phương pháp làm việc theo nhóm được biết đến như
là một phương pháp học tập khá phổ biến. Ngày nay, kĩ năng làm việc nhóm gần như
không thể tách rời với sinh viên. Do đó, mỗi sinh viên cần được trang bị những kỹ
năng này ngay từ lúc còn ngồi trên ghế giảng đường để khi tốt nghiệp có thể sống và
làm việc trong các tổ chức một cách tích cực, hiệu quả. Mặc dù các sinh viên cũng
phần nào được tiếp cận với phương pháp học đầy hiệu quả này, tuy nhiên đa phần các
sinh viên từ bậc trung học phổ thông lên bậc đại học đều không thích ứng kịp với cách
học và làm việc nhóm.
Bên cạnh đó một số khác, tuy đã tham gia làm việc nhóm nhưng không tìm thấy
được sự thích thú trong công việc cũng như không tạo ra được hiệu quả trong công
việc của nhóm. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phương pháp học tập này được thực
hiện rộng rãi và phát huy được hiệu quả trong sinh viên, giúp sinh viên nhanh chóng
lĩnh hội, chiếm lĩnh tri thức, có được kết quả học tập tốt nhất.
Xuất phát từ vấn đề thực tế này, nhóm chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm của sinh viên
khoa Marketing Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng”. Đề tài tập trung nghiên cứu
các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm của sinh viên thuộc khoa
Marketing trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng. Qua đó, đề tài đưa ra một số giải pháp
giúp các bạn sinh viên phát triển kĩ năng làm việc nhóm tốt hơn để mang lại hiệu quả
cao khi tham gia vào làm việc nhóm.
2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng làm việc nhóm của sinh viên khoa Marketing trường Đại
học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng.
Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm của sinh viên.
Kiểm định sự khác biệt về hiệu quả làm việc nhóm theo đặc tính quy mô nhóm
và cách hình thành nhóm, sinh viên năm mấy, giới tính.

•Về mặt đào tạo
Bài nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về sau với
nội dung liên quan về hiệu quả làm việc nhóm.
Đối với nhóm tác giả, thông qua việc nghiên cứu này đã rút ra được các lý luận
cơ bản liên quan đến làm việc nhóm hiệu quả cũng như cải thiện hơn cho mình kĩ thuật
thu thập, phân tích và đo lường dữ liệu.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÍ LUẬN
1. Cơ sở lí luận về nhóm và hiệu quả làm việc nhóm
1.1 Định nghĩa và phân loại nhóm
1.1.1 Định nghĩa
Nhóm là một tập hợp hai hay nhiều người cùng chia sẻ mục tiêu. Các thành
viên trong nhóm luôn tương tác với nhau, theo đó hành vi của mỗi thành viên bị chi
phối bởi hành vi của các thành viên khác.

6


1.1.2 Phân loại nhóm
Theo như hầu hết các nhà nghiên cứu có 2 loại nhóm: Nhóm chính thức và
nhóm phi chính thức
Nhóm chính thức là nhóm thực hiện những công việc cụ thể theo cơ cấu tổ
chức. Trong các nhóm chính thức, mục tiêu của tổ chức là cơ sở thúc đẩy và định
hướng các hoạt động cá nhân. Nhóm chính thức có thể phân loại nhỏ hơn hay thành
nhóm chỉ huy và nhóm nhiệm vụ.
Nhóm chỉ huy được xác định theo sơ đồ tổ chức. Nó bao gồm một nhà quản lý
và một số nhân viên dưới quyền. Ví dụ, nhóm gồm hiệu trưởng trường tiểu học và
mười hai giáo viên hay nhóm kiểm toán bưu chính bao gồm một tổ trưởng và năm
nhân viên.

Nhóm nhiệm vụ bao gồm một số người cùng làm việc để hoàn thành một công

người và người” (Human Relations Movement), với những chuỗi hoạt động thử thách
trong những điều kiện nhất định, nhằm thử khả năng làm việc của nhóm công nhân.
Qua nhiều lần nghiên cứu và phân tích, người ta đồng ý rằng yếu tố chủ yếu thành
công là xây dựng tinh thần đồng nhất, tạo sự gắn kết và hỗ trợ nhau trong tập thể.
Qua 2 thập niên sau đó, nhiều cuộc thử nghiệm và phân tích được áp dụng cho
nhiều nhóm công nhân, đã minh chứng rằng năng suất làm việc tăng nhanh khi các
công nhân được lập thành nhóm. Vào những năm 1950, tập đoàn Genaral Foods đã có
7


một cuộc thử nghiệm về khái niệm làm việc nhóm. Nhiều nghiên cứu sau đó liên tục
được đưa ra, nhấn mạnh tầm quan trọng của nhóm trong việc tăng năng suất làm việc.
Những thập niên sau đó, càng ngày càng có nhiều tập đoàn như Genaral
Motors, Saab, Volvo, Honeywell, Xerox, và Pratt & Whitney tổ chức những hoạt động,
nhằm chứng tỏ hiệu quả lớn lao của làm việc nhóm. Giờ đây, kỹ năng làm việc nhóm
được coi là tất yếu cho mỗi nhân viên thế kỉ XXI hay nói cách khác làm việc theo
nhóm chính là một đòi hỏi của thời đại. Khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì
yêu cầu làm việc theo nhóm là cần thiết hơn bao giờ hết. Từ nhiều thế kỷ qua, thanh
niên Nhật khi đi xin việc làm, ngoài cuộc phỏng vấn cá nhân còn phải qua những bài
tập làm việc theo nhóm. Tinh thần và kỹ năng hợp tác của người lao động quan trọng
không thua gì các phẩm chất khác như nắm vững chuyên môn,siêng năng cần cù , có
tinh thần học hỏi. Con người là một thực thể sống, không ai là hoàn hảo, làm việc theo
nhóm sẽ tập trung những mặt mạnh của từng người và bổ sung cho nhau. Cá nhân
thường chỉ đảm nhiệm được một hai việc cụ thể nhưng một nhóm lại có thể làm được
nhiều việc cùng lúc với hiệu quả thường cao hơn.
“Nhóm làm việc” ngày nay đã trở thành một đối tượng của khoa học và người
ta được đào tạo không phải chỉ để hiểu nó mà còn là tác động vào để biến nó thành
một công cụ giáo dục và phát triển cá nhân và xã hội.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm
Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm có thể

tiền quỹ cũng có ảnh hưởng đến hiệu quả của nhóm làm việc nhóm theo nghiên cứu
của De Long (1970), Sternberg và Wilson (2006) và Leahey (2007).
Nhóm nhân tố cuối cùng để xác định hiệu quả của nhóm thường được xác định
là số lượng và chất lượng của các kết quả đầu ra của nhóm ( Shea và Guzzo, 1987).
Tuy nhiên, định nghĩa này bỏ qua khả năng một đội có thể đốt cháy bản thân thông qua
xung đột chưa được giải quyết hoặc tương tác gây chia rẽ, khiến các thành viên không
muốn tiếp tục làm việc cùng nhau (Hackman, 1987). Vì vậy, một số nhà nghiên cứu đã
lập luận rằng các định nghĩa về đội hiệu quả cũng nên kết hợp các biện pháp khả năng
tồn tại của nhóm (Guzzo và Dickson, 1996). Khả năng tồn tại của nhóm đề cập đến sự
hài lòng, sự tham gia và sẵn sàng tiếp tục của các thành viên làm việc cùng nhau trong
tương lai. Nó cũng có thể bao gồm các kết quả cho thấy sự trưởng thành của nhóm,
chẳng hạn như sự gắn kết, phối hợp, giao tiếp hiệu quả và giải quyết vấn đề, và các
chuẩn mực và vai trò rõ ràng.
2. Các mô hình nghiên cứu hiệu quả làm việc nhóm
2.1 Mô hình CATME
Các nghiên cứu về kĩ năng làm việc nhóm dựa trên mô hình CATME
(Comprehensive Assessment of Team Member Effectiveness) để đánh giá hiệu quả của
các thành viên trong nhóm thông qua một quy trình khá nghiêm ngặt. Dựa trên nghiên
cứu của Loughry, Ohland, and Moore (2007), chúng tôi trình bày ngắn gọn về công cụ
này: Ban đầu nhóm nghiên cứu lấy được 392 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu qủa làm việc
nhóm được cho là tiềm năng từ tài liệu và sau đó thí điểm chúng đến vài ngàn sinh
viên đại học thông qua các cuộc khảo sát. Cuối cùng họ hợp nhất 87 yếu tố để đánh giá
sự đóng góp khác nhau của các thành viên trong nhóm. Một phiên bản ngắn bao gồm
trong số 33 yếu tố cũng được xây dựng để hợp lý hóa quy trình và được phân loại
thành năm nhóm yếu tố: Đóng góp cho công việc của nhóm (tám mục); tương tác với
đồng đội (mười mục); sự phát triển và duy trì nhóm (bảy mục); mục tiêu mong đợi
(bốn mục); và có kiến thức, kĩ năng và các khả năng liên quan (bốn mục). Công cụ này
ra đời đã tích hợp rất nhiều tài liệu, người ta tin rằng nó có thể đánh giá các hành vi
làm việc nhóm ở mức độ chung. Ngoài ra, công cụ cũng đủ linh hoạt để tự đánh giá và
đánh giá ngang hàng trong hoặc cuối dự án học tập

Effectiveness), một cuộc khảo sát đã được sử dụng để kiểm tra sự phát triển các kỹ
năng làm việc nhóm của các sinh viên năm nhất thông qua một hoạt động học tập hợp
tác (dự án nhóm) tại một Đại học ở Hồng Kông. Dữ liệu được thu thập bằng bảng khảo
sát bảng câu hỏi được thực hiện hai lần, tại lúc trước khi bắt đầu và sau khi hoàn thành
dự án. Bài viết cho thấy rằng, sinh viên nên cải thiện kỹ năng làm việc nhóm bằng
cách tập trung vào bốn trong năm loại hành vi (sự đóng góp cho công việc của nhóm;
tương tác với đồng đội; sự phát triển và duy trì nhóm; mục tiêu mong đợi), ngoại trừ
loại 5 (có kiến thức, kỹ năng và khả năng liên quan). Bên cạnh đó, nghiên cứu chỉ ra
các ý kiến có liên quan đến các vấn đề cá nhân (chẳng hạn như điểm yếu) rất khó để
sinh viên đồng ý và chấp nhận. Hơn nữa, các sinh viên chấp nhận sự giúp đỡ rất chọn
lọc và họ hiếm khi cung cấp trợ giúp cho đồng đội của họ vì đề nghị giúp đỡ người
khác có thể dẫn đến sự hiểu lầm về sự bất lực. Tuy nhiên, sinh viên có xu hướng chấp
nhận sự giúp đỡ và hỗ trợ từ người khác khi những hành động này liên quan trực tiếp
đến công việc nhóm hoặc kết quả cuối cùng. Tuy nhiên, cả định tính và kết quả định
lượng cho thấy sinh viên vẫn có một nhận thức sai lầm rằng người lãnh đạo nên kiểm
soát mọi thứ và anh ta/cô ta phải chịu trách nhiệm đội thành công hay thất bại.
Tác động của kỹ năng làm việc nhóm đối với sinh viên trong các trường đại học
công lập Malaysia (2017)
Một nghiên cứu của Mashitah và cộng sự (2017) cho rằng các kỹ năng làm việc
nhóm có thể giúp nâng cao các giá trị gia tăng cho sinh viên. Cụ thể là xây dựng sự tự
tin cho sinh viên và cải thiện kỹ năng giao tiếp và tương tác với những người khác.
Đồng thời quá trình làm việc nhóm cũng giúp họ phát triển tư duy phê phán và sáng
tạo, tư duy giải quyết các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ và cải thiện chất lượng của
quá trình học tập.
Tác động của tinh thần đồng đội đối với hiệu suất làm việc của nhân viên: Một
nghiên cứu về các thành viên của Khoa tại Đại học Dhofar
Nhóm tác giả thành viên Đại học Dhofar Shouvik Sanyal (2018) chỉ ra các yếu
tố như khái niệm về sự tin tưởng, lãnh đạo, cấu trúc và đánh giá hiệu suất, phần
thưởng tác động mạnh mẽ đế hiệu quả của làm việc theo nhóm. Cụ thể phong cách cá
nhân có tác động đáng kể nhất đến hiệu suất, tiếp theo là sự tin tưởng giữa các thành

Các đề tài nghiên cứu trong nước đa phần tập trung đánh giá thực trạng làm
việc nhóm ở các trường Đại học hoặc chỉ ra những yếu tố tác động ngược lại dẫn đến
làm việc nhóm kém hiệu quả. Tuy nhiên nghiên cứu chưa chỉ ra rõ cách đánh giá hiệu
suất làm việc nhóm và các yếu tố thúc đẩy làm việc nhóm tốt hơn. Những đề tài
nghiên cứu, những hội thảo khoa học hay những cuốn sách kể cũng đã phần nào chỉ ra
cái đã đạt được, cái cần phải đạt được và đưa ra những cách thức để sử dụng kỹ năng
trong qua trình làm việc nhóm. Tuy nhiên những sách báo, tạp chí chỉ đơn thuần là lý
thuyết về vấn đề làm việc nhóm, chưa thật thực tế và cụ thể cho sinh viên.
Bên cạnh đó, tính đến thời điểm hiện nay, hầu hết các nghiên cứu đều áp dụng
các cơ sở lý thuyết các khái niệm về làm việc nhóm hiệu quả và chưa có nghiên cứu
nào áp dụng hai mô hình nghiên cứu CATME và Teamwork Value rubic mà nhóm đề
xuất trên.
Đối với các đề tài nghiên cứu nước ngoài, dù có hệ thống lý luận và mô hình
nghiên cứu khá chặt chẽ song nếu áp dụng cho nền giáo dục Việt Nam với bối cảnh về
văn hóa còn nhiều khác biệt sẽ dẫn đến sự không tương thích. Tương tự như nghiên
cứu tại Đại học Hồng Kông, khi áp dụng mô hình CATME của nhóm tác giả Mỹ, chỉ
có bốn trong năm nhân tố thông qua kiểm định.
Trên cơ sở đó, đối với nghiên cứu này, nhóm chúng tôi sẽ khai thác những vấn
đề trên với một mô hình nghiên cứu thích hợp với sinh viên Việt Nam, mà cụ thể là
sinh viên khoa Marketing Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng qua góc nhìn: tự sinh
viên đánh giá bản thân, sinh viên đánh giá các thành viên khác trong nhóm. Từ đó đưa
ra được những thực trạng về vấn đề làm việc nhóm của sinh viên. Hơn thế nữa, đề tài
11


của nhóm không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra những bất cập này cũng như nêu ra những
yếu tố ảnh hưởng tới vấn đề làm việc nhóm. Mục tiêu của đề tài còn là đề ra nhưng
giải pháp hợp lý cho vấn đề làm việc nhóm hiện nay tại của trường. Từ đó, nhóm
mạnh dạn đề ra các giải pháp khả thi giúp sinh viên có thêm các kỹ năng làm việc
nhóm tốt hơn nhằm nâng cao chất lượng học tập.

cộng sự, 2017).
Tương tác với các thành viên trong nhóm (ITR): Tương tác với các thành viên
nhóm là sự giao tiếp, trao đổi giữa các thành viên trong nhóm về vấn đê của nhóm,
cách điều tiết không khí làm việc trong nhóm giữa nhóm trưởng và các thành viên để
hoàn thành công việc. Theo nghiên cứu của De Long (1970) khuyên chúng ta nên chú
ý đến không gian vật lý bằng cách sắp xếp cẩn thận chỗ ngồi thoải mái và sau đó yêu
cầu các thành viên trong nhóm thay đổi người ngồi bên cạnh thường xuyên để giảm
các cuộc thảo luận có cấu trúc phân cấp. Hơn thế nữa, giao tiếp mặt đối mặt là rất quan
trọng để giao tiếp hiệu quả và đây là thức thức giúp cho các thành viên trong nhóm có
nhiều ý tưởng hơn (Hampton và Parker 2011).
Giữ cho nhóm đi đúng hướng (KPT): Giữ cho nhóm đi đúng hướng là cá nhân chia
sẻ trách nhiệm với các hoạt động của nhóm, phản hồi từ những người khác, công việc
nào tiến triển và không tiến triển, và những thay đổi mà bạn có thể thấy, góp ý và chủ
động tìm kiếm vẫn đề của nhóm để cùng giải quyết.

12


Mục tiêu mong đợi (EPT): Mục tiêu theo mong đợi là đặt ra kì vọng về hiệu quả
trước những kế hoạch của nhóm nhằm thúc đẩy những kết quả tích cực từ hoạt động
nhóm. Theo Don Hellriegel và cộng sự (2004), mục tiêu của nhóm là cái đích mà
nhóm làm việc muốn đạt tới. Vì thế nó ảnh hưởng sâu sắc đến hiệu quả làm việc của
từng cá nhân, của nhóm.
Có những kiến thức, kỹ năng và khả năng thích hợp (KSA): Có những kiến thức,
kỹ năng và khả năng thích hợp là cá nhân nhận thức được kiến thức chuyên môn,
những kỹ năng làm việc mà mình có trong việc hoàn thành công việc của nhóm.
Tiêu chí

Ký hiệu
CTB1

ITR6

ITR7
ITR8

Biến quan sát
Công việc được phân chia
một cách công bằng.
Hoàn thành trách nhiệm đối
với nhóm
Chuẩn bị trước cho các
cuộc họp nhóm
Hoàn thành công việc đúng
hạn
Làm chính xác công việc
được giao
Đóng góp quan trọng cho
sản phẩm cuối cùng của
nhóm
Cố gắng khi đối mặt với
những tình huống khó khăn.
Đề nghị giúp đỡ bạn cùng
nhóm lúc thích hợp
Giao tiếp một cách có hiệu
quả
Tạo điều kiện để việc giao
tiếp trong nhóm hiệu quả
hơn
Kịp thời trao đổi thông tin
với thành viên nhóm

Peter Lau Theresa
Kwong King Chong Eva
Wong (2003), Nghiên
cứu của De Long (1970),
Hampton và Parker 2011


viên nhóm và cải thiện hiệu
quả làm việc
ITR9
Nhận sự giúp đỡ của các
thành viên khi cần thiết
KPT1
Nhận thức về việc theo dõi
sự tiến bộ của các thành
viên
KPT2
Đánh giá liệu nhóm có đang
tiến bộ như mong đợi
không
KPT3
Nhận thức được những tác
GIỮ
nhân bên ngoài gây ảnh
CHO
Peter Lau Theresa
hưởng đến sự hiệu quả làm
NHÓM
Kwong King Chong Eva
việc của nhóm

thành quả với chất lượng
Likert
sự (2004), Peter Lau
MONG
cao
1-5
Theresa Kwong King
ĐỢI
Chong Eva Wong (2003)
EPT3
Quan tâm việc nhóm đạt
thành quả với chất lượng
cao
Bảng 1: Diễn giải các biến trong mô hình nghiên cứu
Các giả thuyết nghiên cứu của mô hình
1.2.1 Dựa theo 5 yếu tố
H1: Sự Đóng góp cho hoạt động nhóm có ảnh hường thuận chiều đến hiệu quả làm
việc nhóm.
H2: Sự tương tác với các thành viên trong nhóm có ảnh hường thuận chiều đến hiệu
quả làm việc nhóm.
H3: Việc giữ cho nhóm đi đúng hướng có ảnh hường thuận chiều đến hiệu quả làm
việc nhóm.
H4: Yếu tố mục tiêu mong đợi có ảnh hường thuận chiều đến hiệu quả làm việc nhóm.
H5: Việc có những kiến thức, kỹ năng và khả năng thích hợp có ảnh hường thuận
chiều đến hiệu quả làm việc nhóm.
1.2.2 Dựa theo các yếu tố khác
H6: Quy mô nhóm có ảnh hưởng thuận chiều đến hiệu quả làm việc nhóm.
H7: Yếu tố cách thức chia nhóm ảnh hưởng thuận chiều đến hiệu quả làm việc nhóm.

1.2.

hình nghiên cứu chính thức, bảng câu hỏi khảo sát chính thức

Phân tích hồi quy tuyến tính

Phân tích phương sai ANOVA

15

Kết quả, kết luận và hàm ý


3. Thiết kế nghiên cứu
3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu:
Nghiên cứu này nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng: Nhóm cộng sự sẽ làm khảo sát online cho sinh viên
Khoa Marketing, trường Đại học Kinh Tế - Đại học Đà Nẵng. Phương pháp này sẽ
giúp nhóm cộng sự xác định mức độ các bạn sinh viên đánh giá hiệu quả làm việc
nhóm của các bạn.
3.2 Công cụ thu thập dữ liệu : Phiếu điều tra online
3.3. Chọn mẫu
Phương pháp chính để thực hiện cho nghiên cứu này là phương pháp chọn mẫu
theo cụm. Vì khảo sát trực tiếp trên một tổng thể và tất cả các thành viên trong tổng
thể đó đêu tham gia khảo sát.
Phương pháp chọn mẫu được tiến hành bằng cách lấy những nhóm riêng biệt
hoặc những cụm của những đơn vị nhỏ hơn. Những cụm của mẫu có thể được chọn
bằng cách lấy mẫu ngẫu nhiên hay lấy mẫu có hệ thống với một sự khởi đầu ngẫu
nhiên. Cụ thể là chọn mẫu 120 sinh viên năm nhất, năm hai và năm ba Khoa
Marketing, trường Đại học Kinh Tế - Đại học Đà Nẵng. Cụ thể là những sinh viên
được khảo sát thuộc lớp 44K12.2, 44K28, 43K12.1 và 42K12.1.
3.4. Phương pháp xử lý dữ liệu : SPSS

Sử dụng phân tích phương sai ANOVA để xem xét trung bình của một biến
định lượng (kết quả làm việc nhóm) có khác nhau theo nhiều thuộc tính của biến định
tính (quy mô nhóm, cách thức hình thành nhóm, sinh viên năm nào). Để sử dụng bảng
ANOVA cần có điều kiện là khi Sig.Test of Homogencity> α (α =0.05) thì phương sai
của các nhóm thuộc tính của biến định tính bằng nhau. Lúc đó bảng ANOVA mới có
thể được dùng để đưa ra các kết luận trung bình.
Nếu Sig.Levene>α thì kết luận phương sai của các nhóm bằng nhau. Lúc này
xem tiếp bảng ANOVA, nếu Sig.ANOVA< α (=0.05) ta kết luận có sự khác nhau về
giá trị trung bình biến định lượng (hiệu quả làm việc nhóm) giữa các nhóm thuộc tính
của biến định tính (quy mô nhóm, điểm số cá nhân).
Nếu Sig.Levene

Theo khảo sát thực tế thì việc phân chia nhóm do sinh viên tự chọn chiếm
66,4%, còn lại 33,6% do giáo viên chia ngẫu nhiên.

2. Thống kê mô tả
Dữ liệu sau khi thu thập được mã hóa và đưa vào phân tích thống kê mô tả để
tính các chỉ số căn bản như giá trị trung bình, và độ lệch chuẩn cho thấy sinh viên cảm
nhận tích cực mức độ tác động của 5 yếu tố: đóng góp cho hoạt động nhóm, tương tác
với các thành viên trong nhóm, giữ cho nhóm đi đúng hướng, mục tiêu mong đợi, và
có những kiến thức, kĩ năng thích hợp đến hiệu quả làm việc nhóm, thể hiện qua kết
quả giá trị trung bình các thang đo đều khá cao.
Biến

DIỄN GIẢI (N=125)

Giá trị TB

CTB

Đóng góp cho hoạt động nhóm

3.88

Độ
lệch
chuẩn
.495

CTB1


CTB5

Tôi làm chính xác công việc được giao

3.96

.712

CTB6

Tôi đóng góp quan trọng cho sản phẩm cuối cùng của nhóm

3.75

.820

CTB7

Tôi luôn tiếp tục cố gắng khi đối mặt với những tình huống khó khăn.

3.86

.759

CTB8

Tôi đề nghị giúp đỡ bạn cùng nhóm lúc thích hợp

3.78


3.79

.626

ITR4

Tôi động viên các thành viên trong nhóm

3.67

.727

ITR5

Tôi biểu đạt sự nhiệt tình khi làm việc nhóm

3.78

.758

ITR6

Tôi lắng nghe những gì thành viên nhóm nói về những vấn đề gây
ảnh hưởng đến nhóm

3.98

.684

ITR7

.528

KPT1

Tôi có nhận thức về việc theo dõi sự tiến bộ của các thành viên

3.61

.694

KPT2

Tôi đánh giá liệu nhóm có đang tiến bộ như mong đợi không

3.53

.714

KPT3

Tôi nhận thức được những tác nhân bên ngoài gây ảnh hưởng đến sự
hiệu quả làm việc của nhóm

3.66

.774

KPT4

Tôi có những phản hồi mang tính xây dựng cho những thành viên

3.76

.787

EPT

Mục tiêu mong đợi

4.00

.549

EPT1

Tôi mong chờ nhóm sẽ thành công

4.25

.668

EPT2

Tôi tin nhóm có thể đạt thành quả với chất lượng cao

3.96

.734

EPT3


KSA2

Tôi có những kiến thức chuyên môn để làm tốt việc nhóm

3.60

.742

KSA3

Tôi có đủ kiến thức về nhiệm vụ của nhóm để có thể làm nếu cần
thiết

3.76

.756

KSA4

Tôi biết làm cách nào để làm những việc của những thành viên khác

3.62

.769

Bảng 2: Thống kê mô tả các biến
Từ kết quả mô tả các biến ta nhận thấy giá trị trung bình của các biến độc lập có
sự khác biệt cao (3.53÷4.25), biến thấp nhất là KPT2 (Tôi đánh giá liệu nhóm có đang
tiến bộ như mong đợi không), biến cao nhất là EPT1 (Tôi mong chờ nhóm sẽ thành
công). Điều này cho thấy có sự khác nhau về mức độ quan trọng giữa các biến độc lập.

biến

Các tiêu chí

ĐÓNG GÓP CHO HOẠT ĐỘNG NHÓM (Cronbach’s Alpha=0.811)
CTB2

Hoàn thành trách nhiệm đối với nhóm

0.627

0.777

CTB3

Chuẩn bị trước cho các cuộc họp nhóm

0.659

0.768

CTB4

Hoàn thành công việc đúng hạn

0.594

0.781

CTB5

ITR1

Giao tiếp một cách có hiệu quả

0.572

0.873

ITR2

Tạo điều kiện để việc giao tiếp trong 0.633
nhóm hiệu quả hơn

0.868

ITR3

Kịp thời trao đổi thông tin với thành 0.633
viên nhóm

0.869

ITR4

Động viên các thành viên trong nhóm

0.602

0.871



Nhận sự giúp đỡ của các thành viên khi 0.635
cần thiết

0.868

GIỮ CHO NHÓM ĐI ĐÚNG HƯỚNG (Cronbach’s Alpha = 0.836)
KPT1

Nhận thức về việc theo dõi sự tiến bộ 0.571
của các thành viên
21

0.816


KPT2

Đánh giá liệu nhóm có đang tiến bộ như 0.482
mong đợi không

0.829

KPT3

Nhận thức được những tác nhân bên 0.479
ngoài gây ảnh hưởng đến sự hiệu quả
làm việc của nhóm

0.831

MỤC TIÊU MONG ĐỢI (Cronbach’s Alpha = 0.807)
EPT1

Mong chờ nhóm sẽ thành công

0.513

0.808

EPT2

Tin tưởng nhóm có thể đạt thành quả 0.667
với chất lượng cao

0.736

EPT3

Quan tâm việc nhóm đạt thành quả với 0.640
chất lượng cao

0.750

EPT4

Tin rằng nhóm nên đạt được tiêu chuẩn 0.677
cao

0.732


Bảng 3: Kết quả phân tích Cronbach's Alpha

4. Phân tích tương quan
Correlations
Điểm
được

đạt CTB

22

ITR

KPT

EPT

KSA


Pearson
Correlation
Điểm đạt được

CTB

ITR

KPT


125

125

125

125

125

125

Pearson
Correlation

.246**

1

.573**

.536**

.545**

.564**

Sig. (2-tailed)

.006

1

.557**

.451**

.419**

Sig. (2-tailed)

.108

.000

.000

.000

.000

N

125

125

125

125



N

125

125

125

125

125

125

Pearson
Correlation

.397**

.545**

.451**

.471**

1

.420**



.419**

.704**

.420**

1

Sig. (2-tailed)

.010

.000

.000

.000

.000

N

125

125

125

125

nhất với hệ số r là 0.214.


Sig tương quan Pearson giữa IRT và Điểm đạt được lớn hơn 0.05, do vậy,
không có mối tương quan tuyến tính giữa 2 biến này. Biến IRT sẽ được loại bỏ khi
thực hiện phân tích hồi quy tuyến tính bội.


Nhân tố (CTB) là “Đóng góp cho hoạt động nhóm” có mối tương quan với
Điểm đạt được với hệ số 0.246 tại mức ý nghĩa thống kê 5%.


Nhân tố (ITR) là “Tương tác với các thành viên trong nhóm” không có mối
tương quan với Điểm đạt được.


Nhân tố (KPT) là “Giữ cho nhóm đi đúng hướng” có mối tương quan với Điểm
đạt được với hệ số 0.214 tại mức ý nghĩa thống kê 10%.


Nhân tố (EPT) là “Mục tiêu mong đợi” có mối tương quan với Điểm đạt được
với hệ số 0.397 tại mức ý nghĩa thống kê 5%.


Nhân tố (KSA) là “Có những kiến thức, kỹ năng và khả năng thích hợp” có mối
tương quan với Điểm đạt được với hệ số 0.214 tại mức ý nghĩa thống kê 10%.


5. Phân tích hồi quy tuyến tính
5.1. Đóng

n
1
Residual
71.340
Total
74.632
a. Dependent Variable: HQ
b. Predictors: (Constant), CTB

Model

ANOVAa
df

Mean
Square

1

3.292

123
124

.580

Unstandardized
Coefficients

Coefficientsa

e

(Constant
2.434
.541
4.502
.000
)
1
CTB
.329
.138
.210
2.383
.019
a. Dependent Variable: HQ
Bảng 5: Phân tích hồi quy tuyến tính "Đóng góp cho hoạt động nhóm"

1.000

MODEL SUMMARY
Giá trị R2 hiệu chỉnh bằng 0.036 cho thấy biến đóng góp cho hoạt động nhóm
ảnh hưởng 3.6% hiệu quả của hoạt động làm việc nhóm, còn lại 96.4% là do các biến
ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên.
R2a= 0.044, ta có thể kết luận mối quan hệ giữa 2 biến này rất yếu vì R 2a=
0.044


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status