Sinh đẻ và vai trò của gia đình trong sức khoẻ sinh sản - Pdf 55

Sinh đẻ và vai trò của gia đình trong sức khoẻ sinh sản
I. Một vài nhân tố ảnh hưởng đến sinh đẻ
Richard A. Easterlin và Grimmins Đưa ra một khung khái niệm (dưới góc độ kinh tế) dùng
để nghiên cứu mức sinh và sự quá độ dân số và thái độ đối với mức sinh ở thời kỳ tiền hiện
đại (Richard A. Easterlin và Grimmins , 1995: 114):
• Những điều kiện kinh tế-xã hội cơ bản ( những biến số hiện đại hoá): giáo dục, đô
thị hoá, việc làm ở khu vực hiện đại cũng như những yếu tố văn hoá như dân tộc
và tôn giáo, và những yếu tố quyết định khác như những nhân tố di truyền
• Những yếu tố về hành vi sinh đẻ: nhu cầu có con cái ( số những đứa con còn sống
mà cha mẹ muốn có, nếu việc điều chỉnh sự sinh đẻ không phải tốn kém); mức
cung cấp con cái( số con cái còn sống mà cha mẹ có thể có nếu họ đã không hạn
chế sinh đẻ một cách có suy tính) ; và các chi phí ( chủ quan và khách quan) của
việc điều chỉnh sự sinh đẻ.
• Những “yếu tố quyết định kế cận “ của mức sinh: mức dộ được phép giao hợp; khả
năng thụ thai ( bao gồm tần số giao hợp); thời gian không thụ thai sau khi sinh
( đặc biệt liên quan dến thời gian không cho con bú); tình trạng vô sinh và việc sử
dụng biện pháp kiểm soát sinh đẻ một cách cố ý bao gồm việc tránh thai và phá
thai; độ tuổi kết hôn...;
Những yếu tố quyết định cơ bản chỉ ảnh hưởng đến mức sinh một cách gián tiếp và
ảnh hưởng của chúng phải thông qua các yếu tố quyết định kế cận.
1. Sức ép về con cái đối với các cặp vợ chồng
Giá trị của đứa con
Con cái luôn là niềm mong ước và hạnh phúc của các gia đình ở Việt Nam từ trước đến
nay. Vấn đề tăng nhanh dân số và sức ép kinh tế đã dẫn đến sự đánh giá lại những chuẩn
mực truyên thống liên quan đến sinh đẻ và giá trị kinh tế của con cái.
Một nghiên cứu xã hội học thực nghiệm gần đây ( tháng 10,11 năm 2001 tại Hải Dương)
đã đưa ra nhận định : Có sự nhấn mạnh đến giá trị con cái mang tinh mục đích của việc
sinh con nhằm thoả mãn nhu cầu tình cảm của cha mẹ, củng cố hôn nhân. Mặt khác, mong
muốn con cái như là phương tiện , nguồn lao động để giúp đỡ gia đình đã giảm. Con cái từ
chỗ được xem như một tài sản, sang việc con cái được coi như nguồn thoả mãn các nhu
cầu tình cảm của cha mẹ là một trong những đặc điểm nổi bật của sự chuyển đổi giá trị con

Số con mong muốn
Theo kết quả của các cuộc điều tra y tế và nhân khẩu học (VN-DHS) và điều tra dân sốõ
giữa kỳ (ICDS) cho thấy mong muốn có một gia đình ít con ngày càng thể hiện rõ trong
nhận thức và mong muốn của người phụ nữ nông thôn. Tỷ lệ 15-49 tuổi trả lời muốn có 1-
2 con tăng dần từ 31% (VN-DHS 1998) lên 40% (ICDS 1995) và 69% (VN-DHS 1997).
Mặt khác, tỷ lệ phụ nữ mong có 4 con trở nên giảm khá nhanh, đã phản ánh chuyển biến
đáng kể trong quan niệm sinh ít con của phụ nữ nước ta trong thời gian qua ( Lê Ngọc Văn
và Nhóm tác gỉa, 2004: 132)
Nói chung phụ nữ nào có số con ( còn sống) càng nhiều thì họ càng ít muốn có con thêm
nữa. Theo các kết quả điều tra cho thấy, hơn một nửa phụ nữ ở mỗi nhóm học vấn cho biết
họ không muốn có thêm con, khi họ đã có 3 con. Nếu xét dưới góc độ giới thì thấy, tâm thế
hướng đến số con lý tưởng là ít con của phụ nữ mạnh hơn là của nam giới. (Richard A.
Easterlin và Grimmins, 1995).
Kết quả “Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam” (đã dẫn ở trên) cho thấy số con trung bình
mong muốn của gia đình đều cao hơn số con hiện có ở tất cả các vùng điều tra, ở các lứa
tuổi và trình độ học vấn.
Bảng 6. Số con hiện có và số con mong muốn của gia đình
( đơn vị tính: trung bình)
Vùng điều tra Số con
hiện có
Số con mong
muốn
Thành phố 2,33 2,30
Đồng bằng 3,29 2,53
Trung du-miền
núi
3,16 2,51
Chung 3,06 2,48
( Nguồn: Số liệu điều tra cơ bản gia đình Việt nam (1998-2000), tr 116,118)
Kết quả điều tra trên cũng chỉ ra tâm lý trọng con trai vẫn còn biểu hiện ở các cặp vợ

chồng lần đầu có chiều hướng cao hơn, sức khoẻ tốt hơn, thời gian cho con bú ngắn hơn,
có nhiều khả năng là những kiêng kỵ truyền thống trong hành động tính dục được từ bỏ
nhiều hơn.
Những thái độ liên quan đến qui mô gia đình lý tưởng, khả năng cảm nhận được những
điều lợi của con cái , những phí tổn cho con cái nhìn thấy được và khả năng tương lai có
thể trả được tiền cho con cái ... là những cân nhắc thích đáng và chúng đều có thể chịu ảnh
hưởng của trình độ học vấn của người phụ nữ. Các kết quả nc cứu cho thấy: trình độ học
vấn của phụ nữ càng cao thì qui mô gia đình lý tưởng càng nhỏ và trình độ học vấn của
phụ nữ càng cao thì thì đòi hỏi về “chất lượng” của đứa con càng lớn, và do đó, nếu những
điều khác như nhau thì nhu cầu về số lượng con cái sẽ thấp hơn.
Tử suất của trẻ sơ sinh và trẻ con tuỳ theo trính đọ học vấn của người mẹ: Những bà mẹ
có học vấn cao hơn sẽ sẽ tránh được một cách có hiệu quả hơn cho con khỏi bị chết. Sự
khác nhau về tủ suất của trẻ sơ sinh có lẽ liên quan đến cách chăm sóc người mẹ trước khi
sinh. Trong khi số phụ nữ có ít nhất trình độ trung học được thầy thuốc chăm sóc trước khi
sinh là 60%, thì với phụ nữ có học vấn sơ cấp là 52%, với phụ nứ biết đọc biết viết là 36%
và với phụ nữ mù chữ là 16% ( báo cáo của VNDHS – cộng hoà Việt Nam .1990) (Richard
A. Easterlin và Grimmins, 1995).
Giáo dục càng cao thì càng thuận lợi cho việc kiểm soát sinh đẻ và việc trao đổi bàn bạc
giũa hai vợ chồng về điều tiết mức sinh cũng nhiều hơn. Giáo dục có thể ảnh hưởng đến
3
mức sinh thông qua một số cơ chế , thông qua những yếu tố quyết định kề cận đối với mức
sinh như độ tuổi kết hôn, việc tránh thai và thời gian cho con bú
Trình độ học vấn cao, thời gian học kéo dài thường dẫn tới kết hôn muộn hơn, sinh đẻ
muộn hơn, khi đã gần qua lứa tuổi mắn đẻ nhất:
5. Chi phí cho con cái càng lớn thì số lượng con cái càng nhỏ.
Theo Richard A. Easterlin và Grimmins thì chi phí cho con cái không chỉ là sự tốn kém về
các loại vật dụng và các loại dịch vụ liên quan đến chúng, mà còn bao gồm chi phí gián
tiếp mà người mẹ dành đề chăm sóc chúng ( thời gian...). Chính sự khác biệt về thời gian
của phụ nữ mới dẫn đến những khác biệt trong chi phí cho con cái của các hộ gia đình . Có
2 loại chi phí điều tiết mức sinh: chi phí tâm lý( mức độ hài lòng với cách thực hiện mức

đình ( đất đai đựoc phân phối theo đầu người sẽ khuyến khích sinh đẻ; phạt tiền hoặc thóc
gạo cho những người sinh con thứ ba trở đi hoặc sinh con thứ hai sớm hơn năm năm tính
từ lần sinh thứ nhất v.v…
4
Điều “ Những chính sách và qui định nhằm khuyến khích công tác dân số và KHHGD?
Về chính sách sinh đẻ gồm có:
“ Những gia đình có số con nhiều hơn cho phép ( gồm những đứa con họ đã có) phải
trả tiền thuê nhà hoặc thuê đất tính theo giá cao cho diện tích vượt quá mức mà họ
cần”
“ Từ nay, những gia đình có 3 con hay nhiều hơn sẽ không được phép cho nhập vào
các trung tâm đô thị của các thị trấn, các thành phố và khu công nghiệp”
“ Những gia đình có số con vượt quá qui định phái đóng góp quĩ trợ cấp xã hội, gồm
có quĩ giáo dục và chăm sóc sức khoẻ và một sự đóng góp tăng thêm cho lao động lợi
ích xã hội...”
“ Nhà nước sẽ ra những qui định cung cấp trợ phí để khuyến khích những người triệt
sản “
Từ Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân (năm 1989) đến các văn bản dưới luật ( Quyết định,
Chỉ thị ) liên quan đến vấn đề kế hoạch hoá gia đình được ban hành đã tác động mạnh đến
việc giảm mức sinh và bảo vệ quyền sinh sản của phụ nữ, bảo vệ sức khoẻ của bà mẹ và trẻ
em, ràng buộc trách nhiệm của nam giới trong hoạt động sinh đẻ của gia đình .
8. Các dịch vụ tránh thai
Reubenhill, chuyên gia nổi tiếng thế gioí trong lĩnh vực XHHGĐ đã nhấn mạnh: “ Một xu
hướng mang tính chất thời đại là các phương tiện tránh thai ngày càng được vận dụng rộng
rãi như một điều hết sức bình thường , cần thiết, cho phép tách quan hệ tình dục chăn gối
ra khỏi quá trình duy trì nòi giống. Nhờ đó các cặp vợ chồngcó khả năng phân biệt tình dục
để sinh con đẻ cái với tình dục nhằm biểu hiện tình yêu và sự gắn bó.
Việc giảm mức sinh liên quan trực tiếp đến việc sử dụng các biện pháp tránh thai. Công
tác truyền thông thông , giáo dục kết hợp với việc cung cấp và đa dạng hoá các phương
tiện tránh thai đã thay đổi định hướng, tâm thế đến việc sử dụng vào mục đích hạn chế
sinh đẻ. Tuy nhiên trong lĩnh vực này, sự bất bình đẳng về giới trong gia đình cũng thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status