STT
I
II
I
II
III
1
2
3
4
5
IV
V
I
II
Nội dung
PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề
Mục đích
PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Cơ sở lí luận của vấn đề
Thực trạng vấn đề
Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
Giải pháp 1: Rèn kỹ năng phát âm chuẩn và nói đúng ngữ
điệu
Giải pháp 2: Rèn kỹ năng nói qua các hoạt động bài học
Giải pháp 3: Rèn kỹ năng nói qua các chủ đề của bài học
Giải pháp 4: Tạo môi trường nói tiếng Anh
Giải pháp 5: Rèn kỹ năng nói qua các trò chơi ngôn ngữ
Tính mới của giải pháp
1
Chính vì vậy việc dạy và học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, đã và đang
được nhà nước quan tâm và phát triển từ các cấp học. Dạy học tiếng Anh tiểu
học nhằm hình thành và phát triển ở học sinh những kiến thức và kỹ năng cơ bản
về sử dụng ngôn ngữ để tạo tiền đề cho các em tiếp thu và học tập tốt môn tiếng
Anh ở các cấp cao hơn.
Khi học tiếng Anh, học sinh được rèn luyện bốn kỹ năng nghe, nói, đọc,
viết xuyên suốt quá trình học. Mục đích cuối cùng là các em có thể sử dụng kiến
thức đã học vào giao tiếp một cách thành thạo. Trong quá trình giảng dạy tôi
nhận thấy rằng nhiều học sinh đã tích cực, chủ động, tự tin thể hiện năng lực của
mình. Tuy nhiên một số em có vốn từ vựng và kiến thức ngữ pháp ít, gặp khó
khăn trong việc diễn đạt câu. Cũng có những em đã nắm vững từ vựng và cấu
trúc ngữ pháp nhưng vẫn lúng túng, rụt rè, chưa mạnh dạn khi nói. Để có kỹ
năng nói tốt học sinh cần phải vận dụng kiến thức về ngữ âm, từ vựng, ngữ
pháp, kết hợp chặt chẽ với các kỹ năng khác và cần phải rèn luyện thường
xuyên, liên tục thì mới có thể vận dụng vào các tình huống thực tế.
Qua những năm giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học, tôi đã chú ý
nghiên cứu, tìm tòi, vận dụng các biện pháp mới để phát triển kỹ năng nói của
học sinh, giúp các em thêm mạnh dạn, tự tin hơn khi sử dụng ngôn ngữ. Chính
vì vậy, tôi đã áp dụng sáng kiến: “Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng nói tiếng Anh
cho học sinh lớp 4”.
Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp nhằm rèn kỹ năng nói tiếng Anh cho
học sinh lớp 4.
Phạm vi nghiên cứu: Môn Tiếng Anh lớp 4 trường Tiểu học Krông Ana năm
học 2018 -2019.
II. Mục đích
Đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm rèn kỹ năng nói tiếng Anh cho học
sinh lớp 4, từ đó giúp học sinh tích cực, chủ động lĩnh hội và vận dụng kiến thức
trọng và vô cùng cần thiết.
II. Thực trạng vấn đề
- Ưu điểm
Được sự chỉ đạo, quan tâm sâu sát của Phòng Giáo dục và Đào tạo, lãnh
đạo nhà trường đã có những kế hoạch cụ thể, lâu dài trong công tác dạy và học
nói chung và môn Tiếng Anh nói riêng.
Học sinh khối lớp 4 được học chương trình Tiếng Anh theo Đề án NNQG
2020 với thời lượng 4 tiết/ tuần. Chất lượng học sinh tương đối đồng đều, đa số
học sinh tích cực học hỏi và có ý thức học tập tốt.
Giáo viên dạy Tiếng Anh đạt trình độ B2 theo khung tham chiếu Châu Âu,
nhiệt tình với công việc, tận tụy giảng dạy. Không ngừng tìm tòi, vận dụng các
phương pháp dạy học tích cực, tạo hứng thú cho người học để giúp các em tiếp
thu bài một cách hiệu quả.
Đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện nên quan tâm hơn đến
việc học môn tiếng Anh, mua sắm sách vở, đồ dùng học tập cho học sinh.
- Khó khăn
Nhiều học sinh chưa coi trọng bộ môn Tiếng Anh vì nó là môn học tự chọn
nên chưa chủ động tích cực trong học tập. Chính vì vậy mà trong giờ Tiếng Anh
các em thường lơ là, không tập trung chú ý vào bài học, làm ồn trong lớp khiến
giáo viên phải dành thời gian để nhắc nhở và quản lí các em.
Số học sinh trong một lớp học đông so với đặc thù môn học, nên trong mỗi
tiết học giáo viên không thể hướng dẫn cách phát âm cho từng học sinh. Một số
3
học sinh tiếp thu kiến thức còn thụ động, thiếu sự nhiệt tình, tích cực trong các
hoạt động bài học.
Nhiều học sinh ngại sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp do tâm lý sợ sai, sợ bạn
bè chê cười. Chưa dám mạnh dạn bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân.
Lượng kiến thức từ vựng, mẫu câu và các chủ điểm ngữ pháp trong một số
tin
SL
%
SL
%
7
22.6 24 77.4
10 30.3 23 69.7
9
28.1 23 71.9
9
29
22 71.0
6
21.4 22 78.6
Chất lượng kỹ năng nói
Hoàn thành
Chưa hoàn
tốt
Hoàn thành
thành
SL
%
SL
%
SL
%
7
22.6
1. Giải pháp 1: Rèn kỹ năng phát âm chuẩn và nói đúng ngữ điệu
1.1. Rèn kỹ năng phát âm
Để nói được tiếng Anh tốt thì việc phát âm tiếng Anh chuẩn là điều cực kì
quan trọng. Kỹ năng phát âm tiếng Anh là một trong những kỹ năng tương đối
khó đối với người Việt khi học tiếng Anh. Để rèn được kỹ năng phát âm tiếng
Anh chuẩn cho học sinh thì người giáo viên phải nắm vững lý thuyết phát âm
cũng như thực hành tốt để có thể hướng dẫn chính xác cho học sinh.
Điều đầu tiên và tối thiểu để rèn luyện cách phát âm cho học sinh là các em
phải học bảng chữ cái tiếng Anh, học được cách phát âm chuẩn của từng chữ cái
và rèn luyện một số âm khó cũng như âm tiết dễ gây nhầm lẫn.
4
Hình 1. Bảng chữ cái tiếng Anh
Giáo viên dạy phát âm cần dựa trên hệ thống phiên âm quốc tế IPA
(International Phonetic Alphabet), là kiến thức nền tảng để có kỹ năng phát âm
tiếng Anh chuẩn. Dù là những người chuẩn gốc Mỹ, Anh hay những người nước
ngoài học tiếng Anh thì cũng đều học và tuân thủ theo bảng hệ thống phiên âm
quốc tế này.
Bảng IPA gồm 44 âm. Phần trên là nguyên âm và phần dưới là phụ âm.
Nguyên âm gồm có 20 âm được chia làm 2 nửa, bên phải là nguyên âm đôi và
bên trái là nguyên âm đơn. Nguyên âm đơn sẽ được xếp theo từng cặp, với độ
mở miệng lớn dần từ trên xuống dưới. Phụ âm cũng được xếp theo cặp âm mờ là
phụ âm không rung và âm đậm là phụ âm rung.
Hình 2. Bảng phiên âm quốc tế IPA
Trong sách tiếng Anh lớp 4, phần ngữ âm được thiết kế ở Lesson 3, phần
1 - Listen and repeat trong tất cả các bài (Unit). Chính vì vậy khi dạy phần này,
Ngoài ra, để có thể phát âm giống người bản xứ, giáo viên cần chú ý luyện
tập cho học sinh phát âm từ có các âm cuối (final sounds). Ví dụ: like /laɪk/,
cook /kʊk/, map /mæp/, desk /desk/ …
Đối với hình thức số nhiều cần luyện tập cho học sinh cách phát âm, nhấn
mạnh đuôi số nhiều :
+ Phát âm /s/ đứng sau phụ âm vô thanh /t/, /p/, /k/, /f/, / θ/. Ví dụ: cups,
cats, books....
+ Phát âm là /z/ khi đứng sau nguyên âm hoặc phụ âm hữu thanh /b/, /d/,
/g/, /v/, /ð/, /m/, /n/, /Ŋ/, /l/, /r/. Ví dụ: toys, lessons, answers, …
+ Phát âm là /iz/ khi đứng sau những phụ âm rít cụ thể các phụ âm như: /z/,
/s/, /ʤ/, / tʃ /, / ʃ /, /ʓ/. Ví dụ: villages, watches, oranges, boxes…
- Đối với hình thức động từ ở quá khứ có quy tắc, tập cho học sinh cách
phát âm âm đuôi “ed”.
+ Đuôi /ed/ được phát âm là /id/ khi động từ có phát âm kết thúc là /t/
hay /d/. Ví dụ: painted, visited, chatted, needed ....
+ Đuôi /ed/ được phát âm là /t/ khi động từ có phát âm kết thúc là /s/, /f/,
/p/,/ʃ/,/tʃ/,/k/. Ví dụ: cooked, watched, washed, asked,...
+ Đuôi /ed/ được phát âm là /d/ với các trường hợp còn lại. Ví dụ: played,
enjoyed, cleaned, …
1.2. Hướng dẫn học sinh cách nhấn trọng âm
Trọng âm tiếng Anh là một trong những yếu tố quan trọng nhất giúp nâng cao
khả năng giao tiếp tiếng Anh. C ó 2 loại trọng âm trong tiếng Anh, đó là trọng âm
từ và trọng âm câu. Khác với tiếng Việt, tiếng Anh là ngôn ngữ không có dấu
nên dựa vào trọng âm của từ và của câu để người nghe có thể hiểu chính xác
người nói muốn nói gì.
Qua quá trình học tập, giảng dạy và nghiên cứu bản thân tôi đã chắt lọc
được những kiến thức, quy tắc về nhấn trọng âm từ, trọng âm câu mà giáo viên
tiếng Anh nào cũng cần trang bị cho mình để có thể tự tin hướng dẫn cho học
sinh một cách chính xác nhất.
chậm hơn những từ còn lại trong câu. Trọng âm câu rất quan trọng, vì khi nói, từ
mà người nói nhấn trọng âm cũng như cách mà họ đánh trọng âm vào cùng một
từ có thể làm thay đổi hoàn toàn nghĩa hàm chứa trong câu nói.
Trong một câu, hầu hết các từ được chia làm hai loại, đó là từ thuộc về mặt
nội dung (content words) và từ thuộc về mặt cấu trúc (structure words). Chúng
ta thường nhấn trọng âm vào các từ thuộc về mặt nội dung, bởi vì đây là những
từ quan trọng và mang nghĩa của câu.
- Từ thuộc về mặt nội dung: được nhấn trọng âm
Những từ mang nghĩa
Động từ chính
Danh từ
Tính từ
Trạng từ
Trợ động từ (dạng phủ định)
Đại từ chỉ định
Ví dụ
go, talk, swim, talking,…
car, music, desk,…
big, good, interesting, clever,…
quickly, loudly, never,…
don’t, can’t, aren’t, didn't,…
this, that, those, these,…
8
Từ để hỏi
Who, Which, Where, When, How,…
Ngữ điệu trong tiếng Anh là cách lên xuống giọng, ngắt nghỉ khi nói, khi
giao tiếp khiến cho kĩ năng nói trôi chảy hơn, hấp dẫn và tự nhiên hơn. Người
nghe có thể hiểu nhầm hoặc hiểu sai hoàn toàn ý của người nói nếu như người
nói sử dụng sai ngữ điệu, bởi ngữ điệu được so sánh như là hồn của câu.
Một số quy tắc về ngữ điệu tiếng Anh cơ bản:
- Ngữ điệu lên được thể hiện bằng cách tăng âm điệu giọng nói lên cao cuối
câu ở trong các trường hợp sau:
Dùng trong câu xác định nhưng hàm ý câu hỏi. Ví dụ: This is you book?➚
Dùng trong các câu hỏi nghi vấn “có…không”. Ví dụ: Is she your friend?➚
- Ngữ điệu xuống được thể hiện bằng cách hạ âm điệu giọng nói xuống
thấp cuối câu ở trong các trường hợp sau:
Dùng trong câu trần thuật, câu bình thường. Ví dụ: I’m a student.➘
Dùng trong yêu cầu hoặc mệnh lệnh, đề nghị. Ví dụ: Close the door!➘
9
Dùng trong câu chào. Ví dụ: Hello!➘
Dùng trong câu hỏi bắt đầu bằng từ để hỏi (who, whom, what, which,
when, where, why, whose, và how).Ví dụ: What is your name?➘
Bên cạnh việc hướng dẫn cho học sinh phát âm chuẩn và nói đúng ngữ
điệu, giáo viên cần tập cho học sinh có thói quen đọc nối. Việc đọc nối giúp cho
câu nói trở nên trôi chảy, lưu loát hơn, nghe tự nhiên hơn.
Ví dụ: get‿up, look‿at; This‿is‿a pen, …
2. Giải pháp 2: Rèn kỹ năng nói qua các hoạt động bài học
2.1. Rèn kỹ năng nói qua phần giới thiệu ngữ cảnh
Trước khi bước vào bất kỳ hoạt động nào giáo viên cũng nên đưa ra ngữ
cảnh dẫn dắt vào bài để học sinh có thể ghi nhớ sâu hơn nội dung bài học. Giáo
viên sẽ đưa ra các câu hỏi gợi mở để dẫn dắt học sinh trả lời, sau đó giới thiệu
bài. Việc này giúp học sinh quen với các câu hỏi và trả lời một cách tự nhiên,
dần dần sẽ phát triển kĩ năng nói cho các em. Giới thiệu ngữ cảnh bài thường
sẽ thực hiện một cách tự do (Free Practice), tức là học sinh sẽ dựa vào mẫu câu
nhưng nói về thông tin của chính mình. Đây là phần thực hành quan trọng trong
tiết dạy bởi ở phần này giáo viên sẽ biết được học sinh có thể vận dụng mẫu câu
đã được học ở những phần trước tới đâu. Em nào có thể nói tốt hay em nào còn
chậm, từ đó đưa ra sự giúp đỡ hướng dẫn kịp thời.
Ví dụ: Học sinh hỏi và trả lời về ngày tháng thực tế hôm nay và sinh nhật
của chính các em.
11
Hình 6: Học sinh lớp 4C thực hành phần 3. Let’s talk
2.4. Rèn kỹ năng nói qua hoạt động đóng vai
Để rèn nói tiếng Anh tốt thì hoạt động đóng vai là hoạt động không thể
thiếu, bởi vì học sinh sẽ được tập kỹ năng giao tiếp theo đoạn hội thoại hoặc một
câu chuyện, từ đó giúp các em hình thành thói quen nói theo đúng ngữ điệu.
Hoạt động đóng vai thường được thực hiện trong phần 1. Look, listen and
repeat ở Lesson 1 và Lesson 2 trong tất cả các bài học và Short story: Cat and
Mouse sau mỗi 5 bài học. Học sinh sẽ được hóa thân vào nhân vật và thực hành
đoạn hội thoại hoặc câu chuyện. Để hoạt động đóng vai có hiệu quả, giáo viên
cần dạy từ mới, cho học sinh lắng nghe và lặp lại bài hội thoại cũng như câu
chuyện trước khi các em thực hành đóng vai.
Đây là hoạt động thú vị, lôi cuốn và tạo hứng thú học tập rất lớn cho học
sinh. Các em được hòa mình vào đoạn hội thoại hoặc câu chuyện, được đóng vai
với những nhân vật khác nhau. Giáo viên có thể tạo cho câu chuyện, đoạn hội
thoại thêm sinh động như yêu cầu học sinh thể hiện giọng nói và điệu bộ của
từng nhân vật. Ví dụ, đóng vai mẹ thì giọng điệu trầm ấm, nhẹ nhàng, đóng vai
con thì giọng điệu trong trẻo, bay bổng, … Hay giọng điệu thay đổi theo ngữ
cảnh của câu chuyện, như lúc buồn, vui, tức giận, …
Bên cạnh đó, giáo viên có thể cuốn hút học sinh vào hoạt động đóng vai
My brother is a worker. He works in a factory. And I am a student at Krong Ana
primary school.
Giáo viên có thể hỏi thêm: How many people are there in your family?
Is your mother a teacher?; …
Hình 8. Học sinh thực hành nói chủ đề sau khi hoàn thành bài viết
4. Giải pháp 4: Tạo môi trường nói tiếng Anh
Bất cứ ngôn ngữ nào cũng thế, để có thể sử dụng lưu loát thì đều cần có môi
trường luyện tập thường xuyên, nghe nhiều sẽ thành quen, thành phản xạ và lời
nói sẽ tự động phát ra một cách tự nhiên. Chính vì vậy tạo môi trường nói tiếng
Anh cho học sinh là rất cần thiết để rèn luyện và phát triển kỹ năng nói cho các
em. Nhưng làm như thế nào để tạo môi trường nói tiếng Anh? Đó chính là sử
dụng hầu hết tiếng Anh trong giờ học tiếng Anh, và giáo viên tiếng Anh chính là
người phải tạo ra môi trường đó. Có thể ngày 1, ngày 2 nhiều học sinh sẽ không
hiểu giáo viên đang nói gì thì giáo viên có thể sử dụng song ngữ, nhưng dần dần
khi các em quen rồi, giáo viên và các em có thể giao tiếp bằng tiếng Anh trong
lớp học tiếng Anh.
Để làm tốt điều này, vào đầu năm học giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh
lắng nghe và luyện tập ngôn ngữ mà giáo viên sẽ dùng trong giờ học, để học
sinh không quá bở ngỡ khi giáo viên vào lớp và nói tiếng Anh. Ngôn ngữ đó
được gọi là ngôn ngữ trong lớp học (Languages in the classroom).
14
Dưới đây là một số câu tôi thường sử dụng để giao tiếp trong lớp học:
- Greeting (chào hỏi)
Hello/ Hi every one / How are you today?/ How is every one today?...
- Discussing the Date and the weather (Thảo luận về ngày tháng và thời tiết)
tiếng Anh, … Đây cũng chính là môi trường tốt để các em rèn luyện kỹ năng
giao tiếp bằng tiếng Anh của mình, nơi các em có thể học, có thể chơi và giao
lưu cùng với tất cả các bạn bè.
15
Hình 9. Học sinh tham gia giao lưu “Tài năng tiếng Anh”cấp trường
năm học 2018-2019
Hình 10. Học sinh tham gia giao lưu “Hùng biện tiếng Anh cấp Tỉnh”
năm học 2018-2019
5. Giải pháp 5: Rèn kỹ năng nói qua các trò chơi ngôn ngữ
Trò chơi ngôn ngữ là một loại hình hoạt động vừa chơi vừa học có nhiều tác
dụng trong giờ học tiếng Anh của học sinh tiểu học. Trò chơi có thể làm tăng
động cơ học tập cho học sinh, phát huy tính tích cực, chủ động, gây hứng thú
cho học sinh trong giờ học Tiếng Anh, làm cho việc học Tiếng Anh trở nên nhẹ
nhàng hơn, sinh động hơn, hấp dẫn hơn và thực tế hơn. Khi tham gia trò chơi,
học sinh sẽ có tâm lý thoải mái, thể hiện hết năng lực của bản thân để dành chiến
thắng về cho mình hoặc cho đội của mình. Chính vì vậy để phát triển kỹ năng
giao tiếp có hiệu quả, giáo viên không thể bỏ qua những trò chơi rèn kỹ năng nói
cho học sinh.
16
5.1. Trò chơi “Secret word” (Từ bí mật)
Chuẩn bị: Thẻ từ vựng
Cách chơi: Học sinh được chia thành 2 đội, mỗi đội lần lượt đặt câu hỏi
dạng đúng/sai cho giáo viên để có được các gợi ý liên quan để tìm ra đáp án
đúng, cho đến khi cả đội đoán đúng từ được ghi trong tấm thẻ và giành điểm.
Trò chơi sẽ kết thúc khi thẻ từ cuối cùng được mở ra và đội giành số điểm cao
“My favourite subject is + môn học.”
Hình 12. Học sinh lớp 5A chơi trò chơi chuyền bóng
5.4. Trò chơi “Challenging” (Thách đấu)
Chuẩn bị: Các chủ đề
Cách chơi: Giáo viên chia lớp thành 2 hoặc 3 đội, sau đó đưa ra một chủ
đề. Các đội hội ý trong vòng 30 giây và thách đấu với đội bạn có thể nói được
bao nhiêu câu thuộc chủ đề đó. Đội nào thách đấu nhiều câu hơn thì được nói
trước. Nếu nói đủ và đúng số lượng câu thách đấu thì chiến thắng. Nếu nói sai 1
câu hoặc nói ra 1 câu không thuộc chủ đề đó hoặc nói không đủ số câu thách đấu
thì sẽ thua cuộc.
Ví dụ: Khi dạy Unit 13: Would you like some milk? - Tiếng Anh 4 học sinh
được học về đồ ăn và đồ uống, giáo viên sẽ thiết kế trò chơi “Challenging”. Đội
thách đấu nào có thể nói nhiều câu thuộc chủ đề đồ ăn và đồ uống hơn thì đội đó
chiến thắng.
IV. Tính mới của giải pháp
Các giải pháp được nêu trong đề tài có tính mới là áp dụng những hình thức
tổ chức hoạt động dạy học có hiệu quả, phát huy tính tích cực, năng lực học tập
của học sinh, thúc đẩy động cơ học tập, giúp cho các em có thái độ chủ động, tự
tin, mạnh dạn hơn trong giờ học. Như trong hoạt động đóng vai, giáo viên cho
học sinh tự chuẩn bị các dụng cụ cần thiết của câu chuyên, vẽ mũ đội đầu hình
18
nhân vật, tạo cho các em có cảm giác chân thật hơn, sống động hơn và hoạt
động nói diễn ra tự nhiên hơn. Hay trong các trò chơi ngôn ngữ mà tôi áp dụng
trong hoạt động nói giúp cho học sinh tích cực, chủ động hơn khi sử dụng ngôn
ngữ đã học để chơi. Từ đó nâng cao chất lượng kỹ năng nói tiếng Anh nói riêng
và môn tiếng Anh nói chung.
V. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm
Chưa tự
Tự tin
tin
SL
%
SL
%
15 48.4 16 51.6
20 60.6 13 39.4
19 59.4 13 40.6
19 61.3 12 38.7
12 42.9 10 35.7
Chất lượng kỹ năng nói
Hoàn thành
Chưa hoàn
tốt
Hoàn thành
thành
SL
%
SL
%
SL
%
11
35.5
16
51.6
4
Đề tài này được thực hiện trong phạm vi khối lớp 4 của trường tiểu học
Krông Ana và đã đạt được những hiệu quả đáng kể. Ngoài ra đề tài còn có thể áp
dụng cho việc giảng dạy tiếng Anh khối 3, 5 của nhà trường. Giáo viên tiếng
Anh hàng năm có thể bổ sung, sửa đổi đề tài và áp dụng phù hợp, hiệu quả cho
đối tượng học sinh của mình.
PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
Việc giảng dạy Tiếng Anh tiểu học là một công việc quan trọng, giúp cho
các em bước đầu làm quen với ngôn ngữ mới. Vì vậy việc rèn kỹ năng nói tiếng
Anh cho học sinh là vô cùng cần thiết. Các em có tự tin, mạnh dạn nói tiếng Anh
19
được hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc hướng dẫn, giúp đỡ, định hướng
của người giáo viên.
Giáo viên phải cần phải có tâm huyết với nghề, luôn có thái độ cởi mở,
gần gũi, thân thiện, quan tâm đến từng đối tượng học sinh để các em có ấn tượng
tốt với môn học, có đủ tự tin thể hiện hết năng lực của mình. Bên cạnh đó giáo
viên cũng cần có những cách thức để khuyến khích, động viên, tạo động lực
giúp đỡ cho các em vượt qua những khó khăn trong việc học tập cũng như trong
cuộc sống.
Bên cạnh đó, giáo viên phải không ngừng tự học, tự rèn để nâng cao năng
lực chuyên môn, nghiệp vụ. Học hỏi từ đồng chí, đồng nghiệp, tham khảo tài
liệu về các phương pháp dạy học tích cực, các hình thức tổ chức dạy học phong
phú, và vận dụng có hiệu quả vào công tác giảng dạy.
II. Kiến nghị
- Đối với Phòng Giáo dục: Tạo điều kiện tốt nhất trong việc đầu tư cơ sở
vật chất, các thiết bị, đồ dùng dạy học.
Thường xuyên tạo điều kiện cho tất cả giáo viên Tiếng Anh tham gia các
buổi tập huấn phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá do các cấp tổ chức.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT
Tên tài liệu
Tác giả
1
Sách Tiếng Anh 3, 4, 5
NXB Giáo dục
2
Primary English Language
Đại học
21
Teaching Methodology
3
www.sachmem.vn
4