VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MAI QUÂN
ĐỀ TÀI VIẾT VỀ THIẾU NIÊN QUA BA TÁC PHẨM
CHO TÔI XIN MỘT VÉ ĐI TUỔI THƠ, TÔI THẤY
HOA VÀNG TRÊN CỎ XANH, CÂY CHUỐI NON
ĐI GIÀY XANH CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MAI QUÂN
ĐỀ TÀI VIẾT VỀ THIẾU NIÊN QUA BA TÁC PHẨM
CHO TÔI XIN MỘT VÉ ĐI TUỔI THƠ, TÔI THẤY
HOA VÀNG TRÊN CỎ XANH, CÂY CHUỐI NON
ĐI GIÀY XANH CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH
Ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 8 22 01 21
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS. ĐẶNG THỊ THU HÀ
1.3. Vị trí Nguyễn Nhật Ánh trong dòng văn học viết về thiếu nhi................ 21
Chương 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT TRONG SÁNG TÁC VỀ ĐỀ
TÀI VIẾT CHO THIẾU NIÊN CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH ................. 24
2.1. Chủ đề nổi bật .......................................................................................... 25
2.1.1. Những kỉ niệm tuổi thơ ......................................................................... 25
2.1.2. Tình bạn và tình yêu tuổi mới lớn ......................................................... 31
2.2. Cốt truyện và nhân vật ............................................................................. 43
2.3. Nghệ thuật kể chuyện ............................................................................... 48
2.3.1. Người kể chuyện nhập vai .................................................................... 48
2.3.2. Ngôn ngữ kể chuyện ............................................................................. 53
2.3.3. Giọng điệu kể chuyện............................................................................ 55
2.3.4. Điểm nhìn song chiếu............................................................................ 57
Chương 3: DẤU ẤN VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC VỀ
ĐỀ TÀI THIẾU NIÊN CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH ............................... 61
3.1. Không gian làng quê Việt ........................................................................ 61
3.2. Những sinh hoạt văn hóa dân gian ........................................................... 64
3.2.1. Những trò chơi dân gian........................................................................ 64
3.2.3. Quan niệm và sự thực hành tín ngưỡng dân gian ................................. 72
3.2.4. Truyện mang yếu tố nghệ thuật tự sự dân gian ..................................... 73
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 81
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt là văn học Việt Nam đầu thế kỉ XXI được
đánh giá là vẫn đang tiếp tục hành trình hiện đại hóa và hội nhập với sự bộn bề giữa các
yếu tố truyền thống, hiện đại và hậu hiện đại. Trong giai đoạn này, mặc dù không xuất
hiện nhiều cây bút nổi bật như mấy thập kỉ cuối thế kỉ XX nhưng vẫn có một số nhà văn
ghi được và tiếp tục ghi được dấu ấn bằng những sáng tác có ảnh hưởng tới đời sống và
thành phim năm 2015) đã xuất hiện trong một số công trình nghiên cứu về Nguyễn
Nhật Ánh trước đây, chúng tôi tập trung vào tác phẩm Cây chuối non đi giày xanh
là ấn phẩm mới nhất của ông (phát hành năm 2018 với số lượng lên tới 170.000
bản) với mong muốn trả lời câu hỏi điều gì đã làm nên thành công của ngòi bút
Nguyễn Nhật Ánh khi ông trường kì thâm canh trên mảnh ruộng đề tài thiếu niên.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Là nhà văn gắn bó với đề tài viết về thiếu niên, Nguyễn Nhật Ánh đã sớm tạo
nên một vương quốc riêng cho mình và sớm khẳng định vị trí của mình trong dòng
văn học viết cho thiếu nhi ở Việt Nam bên cạnh những tên tuổi như Nguyễn Huy
Tưởng, Tô Hoài, Phạm Hổ, Võ Quảng, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Ngọc Thuần, …
Trở thành một “hiện tượng” trong văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Nhật Ánh
không chỉ dành được sự quan tâm đông đảo công chúng bạn đọc mà còn thu hút được sự
chú ý của báo giới cũng như sớm trở thành đối tượng của giới nghiên cứu. Có khá nhiều
công trình, bài viết tìm hiểu về Nguyễn Nhật Ánh ở nhiều khía cạnh, nhiều chiều kích
với phạm vi rộng hẹp, mức độ nông sâu khác nhau. Tựu chung lại, có thể tạm phân
những tư liệu viết về Nguyễn Nhật Ánh thành hai mảng chính, gồm:
2.1. Các bài báo có tính chất giới thiệu, quảng bá về nhà văn và tác phẩm
Tính đến nay, đã có khá nhiều bài báo viết về Nguyễn Nhật Ánh và một số tác
phẩm của ông. Có thể kể đến các bài viết đăng trên nhiều tờ báo, tạp chí khác nhau
như Mực tím, Sài Gòn, Thanh niên, Văn nghệ, Phụ nữ đánh giá về cuộc đời, tính
cách, sự nghiệp cầm bút của ông - một “hiện tượng” văn học đương đại, một best
seller truyện viết cho thiếu nhi từ những góc nhìn khác nhau: có thể là của một
người bạn, người đọc bình thường, nhà báo, nhà nghiên cứu. Có những bài được
viết nhân kỉ niệm ngày sinh của ông, hoặc những bài phỏng vấn nhân dịp những tác
phẩm của ông xuất bản hoặc tái bản. Nhà văn Lê Minh Quốc (bạn thân của ông)
cũng có nhiều bài báo in trên báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh, số 31, 29/4/1992
nhận thấy những tác phẩm của Nhà văn xuất phát từ bộn bề cuộc sống đời thường,
nhưng rất “hồn nhiên, trong sáng của những nhân vật nhỏ tuổi không hề gợn lên
chút thù hằn, cay độc nào” [52, tr19]. Mặc dù cuộc đời nhà văn không suôn sẻ, êm ả
nhưng “trang viết cuộc đời này rất trong sáng và ngập tràn hi vọng” bởi thế ông
“một mình một chợ” vì “Nguyễn Nhật Ánh đã dày công phản ánh những sinh hoạt
muôn mặt của lứa tuổi học trò.” Qua nghệ thuật dẫn truyện hấp dẫn, tự nhiên, lối
viết theo kết cấu chương hồi, xây dựng nhân vật qua hành động và cảm xúc… thậm
chí nhiều tác phẩm ông viết theo lối viết văn trinh thám khơi gợi được trí tò mò,
ham tìm hiểu của tuổi học trò. Cũng chính Văn Hồng đã nhận xét “trong các nhà
văn đương đại Nguyễn Nhật Ánh giữ nhiều kỉ lục: là người viết có đông bạn đọc, là
nhà văn có nhiều cuộc giao lưu với bạn đọc, xuất hiện nhiều trên thông tin đại
chúng, sống đường hoàng bằng tiền nhuận bút”. Và khi viết cho thiếu nhi, Nguyễn
3
Nhật Ánh có “bút lực dồi dào như gặp vỉa quặng lộ thiên” bởi ông có bản lĩnh sáng
tạo được trẻ em thích, bởi “tạng hợp trẻ con”, bởi “cấu trúc đặc sắc” và cũng bởi
ông đã kết hợp yếu tố truyền thống và hiện đại, giữa tinh hoa dân tộc với đặc sắc
của thế giới, và bởi vốn văn học tay nghề cao nên ông trở thành “hiện tượng độc
đáo trong văn học thiếu nhi” [29, tr89].
Với các nhà báo lại nhìn nhận và đánh giá về ông và tác phẩm của ông giàu
tính ngợi ca. Như nhà báo Hiền Hòa trên báo Sài Gòn tiếp thị, 5/4/2010, cho rằng
Nguyễn Nhật Ánh là “người bắc cầu mộng cho lứa tuổi đang cần sự mơ mộng”.
Mộng mà ông viết không gắn với phép thuật kì ảo, những cuộc phiêu lưu kì thú mà
nó ở ngay cuộc sống thường nhật đã được lãng mạn hóa [26, tr167]. Bên cạnh đó,
nhà báo Mai Quỳnh Nga trên Báo Văn nghệ Công an, 10/7/2013 lại khẳng định
“thương hiệu nhà văn best seller của Nguyễn Nhật Ánh đến nay vẫn khó có ai soán
ngôi” [42, tr228]. Điều đó thành công bởi dường như ông không bao giờ “lớn” và
luôn “mang thế giới trong trẻo hồn nhiên đến với tuổi thơ và dẫn người lớn tìm về
sân ga tuổi nhỏ trong hỗn độn bể đời”.
Tác giả Tiểu Quyên trên báo Người Lao động, 11/12/2010 đã coi Nguyễn
Nhật Ánh như “giải cơn khát” cho độc giả Việt Nam và “cái tên Nguyễn Nhật Ánh
đã đủ bảo chứng để tạo nên sức hút cho tác phẩm bởi câu chuyện nào của anh cũng
khiến người ta phải đọc, phải nhớ, phải yêu thích”. Bởi “tác phẩm của Nguyễn Nhật
ước mơ, là do nhà văn “biết thời”, “yêu và tin cậy trẻ”, và hơn hết do văn phong rất
riêng biệt của ông. Do đó, ông là “nhà văn thân quý của tuổi thơ”.
Để tổng kết cho những nhận xét, đánh giá, lời khen tặng, bài viết tìm hiểu về
nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, chúng tôi mượn lời của William Naythons (dịch giả
người Mỹ) cho rằng: “tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh vừa rất toàn cầu, mà vừa rất
gần gũi tương đồng làm sao với tính Việt của đời thường: là sự thông thái mộc mạc
và sự hài hước cởi mở có từ trong máu.” [70, tr364].
Đông đảo nhà nghiên cứu phê bình, nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhạc sĩ, bạn bè,
độc giả, dịch giả trong và ngoài nước đã dành nhiều tình cảm viết về cuộc đời và
hành trình sáng tác của ông vì thế, NXB Kim Đồng (năm 2012) biên soạn cuốn
“Nguyễn Nhật Ánh - hoàng tử bé trong thế giới tuổi thơ”. Đây là cuốn sách đầu tiên
viết về nhà văn Nguyễn Nhật Ánh với những thông tin đầy đủ, mới mẻ và thú vị
nhất về tác giả được thiếu nhi Việt Nam yêu thích nhất bấy giờ. Những câu chuyện
tâm tình của người đọc gần xa về ông được thể hiện trong cuốn “Nguyễn Nhật Ánh
và tôi” (Nhà xuất bản Trẻ 2013). Đặc biệt, nhân kỉ niệm sinh nhật tuổi 60 của nhà
văn, Trung tâm ngôn ngữ và văn học - nghệ thuật trẻ em của trường Đại học Sư
phạm Hà Nội đã tổ chức hội thảo Nguyễn Nhật Ánh - hành trình chinh phục tuổi
thơ. Hội thảo đã thu hút sự có mặt của hơn 40 diễn, nhà văn, nhà nghiên cứu cùng
rất nhiều học sinh, sinh viên của trường cũng như các độc giả yêu thích nhà văn
Nguyễn Nhật Ánh. Cuốn sách Nguyễn Nhật Ánh hiệp sĩ tuổi thơ (NXB Đại học
5
Quốc gia Hà Nội, 2015) ra đời đã chứng minh được giá trị thơ văn và sức lan tỏa
rộng lớn của ông trong cộng đồng.
Ngoài ra gần đây nhất, Nhà xuất bản Trẻ (năm 2017) đã xuất bản cuốn sách
“Nguyễn Nhật Ánh trong mắt đồng nghiệp” tổng hợp 75 bài tiểu luận, tùy bút của
bạn bè, đồng nghiệp trong và ngoài nước về con người và sáng tác của ông với những
nhìn nhận, bình giá, ngợi ca bằng tình cảm nồng hậu, trân trọng, kính phục nhất.
Như vậy có thể thấy những bài viết về Nguyễn Nhật Ánh của báo giới chủ yếu là
ngày tốt lành - diễn ngôn của nhà văn “mãi mãi tuổi 15”); những bài viết của các nhà
nghiên cứu tại Viện Văn học Việt Nam như: PGS.TS Lưu Khánh Thơ (Nước mắt hồi
sinh thế giới), PGS.TS Vân Thanh (Văn học thiếu nhi Việt Nam với một lịch sử: từ Tô
Hoài đến Nguyễn Nhật Ánh), PGS.TS Nguyễn Bích Thu (Muốn hiểu tâm lí trẻ em nên
đọc Nguyễn Nhật Ánh), và rất nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học khác nữa.
Ngoài ra, đề tài viết về thiếu niên của Nguyễn Nhật Ánh cũng là đối tượng thu
hút nhiều thế hệ sinh viên, học sinh, học viên sau đại học thể hiện qua một số đề tài
khóa luận, luận văn, luận án được thực hiện ở nhiều cơ sở đào tạo khác nhau.
Vào năm 2005, tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Phạm Thị Bền đã chọn đề
tài Thế giới trẻ thơ qua cách nhìn của Nguyễn Nhật Ánh trong bộ Kính vạn hoa để bảo
vệ luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam. Chị là một trong những người
tiên phong cho việc tìm hiểu thế giới nhân vật và văn phong của Nguyễn Nhật Ánh một
cách hệ thống trong một công trình nghiên cứu khoa học có tính chuyên sâu.
Tiếp đó, Vũ Thị Hương đã bảo vệ thành công đề tài Thạc sĩ về Thế giới nghệ
thuật truyện Nguyễn Nhật Ánh vào năm 2009 cũng tại trường Đại học Sư phạm này.
Ngoài ra, có thể kể tới một số đề tài nghiên cứu về Nguyễn Nhật Ánh được bảo vệ
thành công như: Hoàng Hương Giang với đề tài Cảm hứng hướng về tuổi thơ trong
truyện Nguyễn Nhật Ánh (năm 2011); Hồi ức trong truyện thiếu nhi của Nguyễn
Nhật Ánh là đề tài luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Minh Phượng bảo vệ năm 2014 tại
Đại học Sư phạm Hà Nội; Nguyễn Thị Thương với đề tài Nghệ thuật tự sự trong
truyện Nguyễn Nhật Ánh (Đại học Khoa học xã hội và nhân văn năm 2014); Bùi Thị
Thu Thủy với đề tài Nhân vật tuổi mới lớn trong truyện Nguyễn Nhật Ánh (tại
trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 năm 2015); Nguyễn Thị Thu Trang với đề tài
Thời gian và không gian nghệ thuật trong truyện Nguyễn Nhật Ánh bảo vệ năm
2016 tại trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn; hay Nguyễn Thái Sơn bảo vệ
thành công đề tài Đặc sắc trong truyện dài của Nguyễn Nhật Ánh (qua Tôi thấy hoa
vàng trên cỏ xanh, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Con chó nhỏ đeo giỏ hoa hồng)
vào năm 2017 tại Học viện Khoa học xã hội… Bên cạnh đó còn có nhiều luận văn
và khóa luận tốt nghiệp hướng mối quan tâm tới thế giới nhân vật trong truyện của
ông như: Đặc điểm truyện Nguyễn Nhật Ánh (Phạm Thị Vân), Nhân vật trẻ em
vé lên “chuyến tàu lộng lẫy về tuổi thơ” (Nguyễn Trương Quý), để khi trẻ thơ níu
kéo người già mà nhà báo Lạc Long đã viết. Tuổi thơ là một thế giới đặc biệt mà
đời người đều trải qua và luôn đọng lại trong tâm trí. Khi có tuổi có thể người ta
lãng quên quá khứ, nhưng khi đọc truyện này thế giới nội tâm người lớn luôn hiện
hữu bên cạnh thế giới tuổi thơ hồn nhiên, trong trẻo, bình dị. Với tác giả Nguyễn
Thụy Anh trong bài viết Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ đã khẳng định ý nghĩa, sức
lan tỏa của truyện mang lại cho mọi người: “người lớn vô tâm mải miết với cuộc
sống cơm áo gạo tiền có thể dừng bước đôi chút mà ngoái về phía sau, nhớ lại thời
thơ ấu” và để hiểu trẻ con, có cách giáo dục, quan tâm, thương yêu các em hơn chứ
không áp đặt vô lối nữa. Ngoài ra với lứa tuổi thiếu niên, cuốn sách cũng đem lại
8
niềm vui thích vì các em thấy mình được đặt ngang hàng, trở thành người đối thoại
bày tỏ suy nghĩ của mình và mong người lớn coi trọng. Với tác giả Mai Sơn trong
Cuộc chiến của cu Mùi và sự thành công của Nguyễn Nhật Ánh đã chỉ ra sự độc đáo
của tác phẩm bởi sự đan xen liên tục giữa tiểu thuyết hư cấu và văn bản triết luận,
người kể chuyện sáng suốt và nhân vật miêu tả đang đắm chìm chính mình; sự kiện
quá khứ và hiện tại, nghệ thuật làm say mê và cách thức lay thức độc giả” [48,
tr326]. Và ông cũng cho rằng những tác phẩm của nhà văn là một “thành tố trong
cấu trúc giáo dục thẩm mĩ cho thiếu nhi bên cạnh những nền tảng giáo dục khác từ
gia đình, nhà trường, xã hội”.
Cũng bài viết lấy tên tác phẩm này, Anjali Vaidya cũng khẳng định “đây không
phải là cuốn sách hoàn toàn dành cho trẻ em” [69, tr297]. Nhà văn cũng thấy sự ảnh
hưởng của tuổi thơ đối với mỗi người. Nhà văn cũng chỉ ra rằng “Nguyễn Nhật Ánh
làm rất tốt - kể sự thật thế giới người lớn bằng cách nhìn nghiêng. Tuy nhiên, di
chuyển qua lại giữa góc nhìn của một đứa trẻ và triết lí của một người lớn có thể
thay đổi đột ngột, và cuốn sách thỉnh thoảng không đều hơi.”
Riêng với Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh lại được nhiều người viết khá nhiều và
những trang truyện “nhẹ nhàng mà đầy ý nghĩa”.
Điểm qua một số công trình viết về Nguyễn Nhật Ánh có thể thấy những
nghiên cứu về Nguyễn Nhật Ánh khá phong phú song chưa có công trình nào đi sâu
tìm hiểu thế giới tuổi thiếu niên như là một nhân tố tạo nên sức hút của hiện tượng
Nguyễn Nhật Ánh, đặc biệt là chưa có bài viết nào bàn về truyện dài mới nhất của
ông: Cây chuối non đi giày xanh. Đây là nguồn tư liệu mới mẻ mà chúng tôi muốn
tập trung khai thác như một điểm nhấn ở đề tài này. Lựa chọn đề tài Đề tài viết về
thiếu niên qua ba tác phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Tôi thấy hoa vàng
trên cỏ xanh, và Cây chuối non đi giày xanh của Nguyễn Nhật Ánh, những kết
quả nghiên cứu của các công trình đi trước là nguồn tham khảo quý trong quá trình
chúng tôi triển khai đề tài của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu một số đặc điểm nổi bật trong sáng tác về đề tài thiếu niên của Nguyễn
Nhật Ánh. Trên cơ sở đó, luận văn đi sâu tìm hiểu khía cạnh dấu ấn văn hóa dân
gian trong sáng tác của ông nhằm góp phần lí giải "hiện tượng" một nhà văn viết
"chuyên" về một đề tài trong thời gian dài (mấy chục năm) mà vẫn được độc giả
đón nhận nồng nhiệt.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là thế giới tuổi thiếu niên được tái hiện trong sáng tác
của Nguyễn Nhật Ánh
- Phạm vi nghiên cứu: là 3 tác phẩm truyện dài (Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ,
Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, Cây chuối non đi giày xanh), các tác phẩm khác
của Nguyễn Nhật Ánh sẽ chỉ được chúng tôi sử dụng với mục đích so sánh hoặc
làm rõ hơn những nhận định trong luận văn.
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
10
sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh nhằm góp phần lí giải “hiện tượng” một nhà văn
“chuyên” về một đề tài trong thời gian dài (mấy chục năm) mà vẫn được độc giả
đón nhận nồng nhiệt.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà
nghiên cứu, nhà giáo hoặc sinh viên, học sinh cũng như các bậc phụ huynh quan
tâm tới sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần nội dung của đề tài
gồm 03 chương:
- Chương 1: Khái quát về văn học viết cho thiếu nhi và nhà văn Nguyễn Nhật Ánh.
- Chương 2: Một số đặc điểm nổi bật trong sáng tác về đề tài thiếu niên của
Nguyễn Nhật Ánh.
- Chương 3: Dấu ấn văn hóa dân gian trong sáng tác về đề tài thiếu niên của
Nguyễn Nhật Ánh.
11
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC VIẾT CHO THIẾU NHI VÀ NHÀ VĂN
NGUYỄN NHẬT ÁNH
1.1. Khái quát về văn học thiếu nhi ở Việt Nam
1.1.1. Khái niệm về văn học thiếu nhi
Văn học phản ánh hiện thực cuộc sống ở nhiều khía cạnh, nhiều cung bậc. Nếu
hình dung cuộc sống là một bức tranh thì các nhà văn, thông qua lăng kính chủ quan
của mình, là người tái hiện những mảnh ghép của bức tranh ấy. Ngoài việc phản
ánh những xúc cảm riêng tư của cá nhân, ngòi bút của các nhà văn thường có xu
hướng hướng ngòi bút của mình tới những vấn đề có tính thời đại, chẳng hạn các
nhà văn hiện đại quan tâm tới vấn đề nhìn nhận, đánh giá lại chiến tranh, lịch sử,
hợp lí và có sức thuyết phục. Vì thế trong luận văn, chúng tôi hiểu văn học thiếu nhi
theo định nghĩa này và như vậy thì văn học viết về/cho thiếu niên cũng được xác
định là một bộ phận của văn học thiếu nhi.
1.1.2. Khái quát về hành trình của văn học thiếu nhi ở Việt Nam
Văn học thiếu nhi là một bộ phận của văn học dân tộc, nó là nhành hoa nhỏ
nở riêng nhưng đầy cuốn hút và ngày càng chứng minh được vị thế của mình.
Khởi nguồn của sự lớn lên về tinh thần của trẻ Việt Nam là một bầu trời đầy
trăng sao, hoàng tử, công chúa, bà tiên, ông Bụt, những cánh rừng xa xanh với bao
con thú biết nói, bao loài hoa cỏ đẹp tươi … có trong những lời kể thắm tình của bà,
lời ru ngọt ngào của mẹ êm đềm bên vành nôi. Trí tuệ non nớt được nuôi dưỡng
tưới đẫm bởi những bài ca dao, đồng dao, truyện thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn…
nâng đỡ các em vào cuộc sống. Mạch nguồn dân gian này sẽ trở thành một kỉ niệm
đẹp không dễ phai nhòa trong kí ức tuổi thơ của mỗi người.
Văn học thiếu nhi không được quan tâm trong thời kì phong kiến trung đại.
Giai đoạn này lực lượng vua, quan, nho sĩ tiến bộ luôn tâm niệm bởi lễ giáo đạo đức
phong kiến hà khắc, bởi văn dĩ tải đạo thi dĩ ngôn chí. Họ chưa quan tâm đến độc
giả là trẻ em.
Đến những năm đầu thế kỉ XX, khi văn học viết bằng chữ Quốc ngữ ra đời,
các nhà văn đã có viết đến chuyện gia đình, những đứa trẻ như trong Cha con nghĩa
nặng của Hồ Biểu Chánh. Nhưng đề cập sâu đến đời sống nội tâm của trẻ là chưa
có. Giai đoạn từ 1930-1945, nhiều tác giả trong Tự lực văn đoàn đề cập đến những
đứa trẻ thành thị nhưng chưa khái quát được số phận, cuộc đời chúng. Còn những
nhà văn hiện thực phê phán như Nam Cao với một loạt các truyện ngắn viết về trẻ
nghèo ở nông thôn với nhiều bất hạnh, vất vả, đắng cay như: Từ ngày mẹ chết, Bài
học quét nhà, Trẻ con không được ăn thịt chó, Một đám cưới, Một bữa no… Còn
với Nguyễn Công Hoan là truyện Hai cái bụng, Bữa no đòn…. Nguyên Hồng với
Những ngày thơ ấu thực sự đã đem đến cho người đọc thấu hiểu những cơ cực
thường ngày, những lầm lũi, khó nhọc, những bươn chải mưu sinh, những nỗi đau
13
văn học vừa có giá trị lịch sử, địa lí như Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi), Em bé
bên bờ sông Lai Vu (Vũ Cao), Cái Thăng (Võ Quảng)… Các tác giả không chỉ
hướng đến những sự kiện lịch sử như tiểu thuyết Lá cờ thêu sáu chữ vàng (Nguyễn
Huy Tưởng), An Cương với Sóng gió Bạch Đằng mà họ còn tập trung phản ánh góc
14
nhìn trẻ thơ về cuộc sống hàng ngày các em đang làm quen như: Bùi Hiển với
truyện ngắn Ngày công đầu tiên của cu Tí, Tô Hoài với Đàn chim gáy, Nguyễn
Kiên với Kể chuyện nông thôn…. Đề tài viết về mái trường cũng được chú ý. Sau
này khi miền Bắc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa là hậu phương vững chắc cho
tiền tuyến lớn miền Nam thì văn học viết cho thiếu nhi càng dày thêm như: Quê nội
của Võ Quảng, Kim Đồng của Tô Hoài… Còn ở miền Nam lại là những em bé
chăm ngoan, yêu thương ba mẹ, thay ba mẹ chăm sóc các em khi họ sẵn sàng tham
gia kháng chiến. Phải kể đến chị em Chiến, Việt trong Những đứa con trong gia
đình (Nguyễn Thi), em bé trong Mẹ vắng nhà (Nguyễn Thi), bé Thu trong Chiếc
lược ngà (Nguyễn Quang Sáng) và còn có những em bé nơi núi rừng Xô Man, Tây
Nguyên thật thà, chân chất nhưng kiên định, trung thành với cách mạng như Tnú,
Mai khi nhỏ, là Dít, bé Heng trong Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành).
Sau khi đất nước hòa bình thống nhất, văn học đi tìm nguồn đề tài mới nhưng
chưa tạo được tiếng vang. Hơn nữa, văn học viết cho thiếu nhi không được đề cao
khi mà cuộc sống còn đang đối diện với cái đói, cái nghèo sau cuộc chiến. Chỉ từ
sau khi đổi mới căn bản đất nước, từ sau năm 1986, văn học nói chung và văn học
thiếu nhi nói riêng đã chạm sâu đến mọi mặt biến chuyển của đời sống xã hội,
những thay đổi của nền kinh tế thị trường, những gấp gáp trong lối sống chạy, sống
vội vàng tác động sâu sắc tới các gia đình và ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ em. Đó là
các tác phẩm Búp sen xanh của Sơn Tùng, những cuốn tự truyện Tuổi thơ dữ dội
của Phùng Quán, Tuổi thơ im lặng của Duy Khán hướng về quá khứ; những tác
phẩm như Bàn có năm chỗ ngồi, Bồ câu không đưa thư, Buổi chiều Window, Cô gái
đến từ hôm qua của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Và những truyện ngắn của Nguyễn
Nguyễn Nhật Ánh sinh ngày 07 tháng 5 năm 1955 tại làng Đo Đo, xã Bình
Quế, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Đó là một miền quê nghèo lam lũ, đất
cằn sỏi đá nhưng cũng có những phong cảnh hữu tình dễ khơi gợi cảm xúc cho tâm
hồn yêu văn chương của tác giả. Lời bài hát về xứ Quảng vẫn luôn da diết “Đất
Quảng Nam chưa mưa đã thấm, rượu hồng đào chưa nhấp đã say” đưa ta về với
mảnh đất miền Trung thời tiết khắc nghiệt, ngập đầy nắng nóng, gió cát hoặc những
trận lũ lụt lớn. Nhà văn từng đặc tả về quê mình trong Tôi thấy hoa vàng trên cỏ
xanh (tr238): “Mưa như người giận dai, gầm gừ xối xả và miên man, có cảm giác
mây đen đã kéo cả đại dương lên trời để bây giờ hả hê trút xuống. Nửa khuya, lũ từ
thượng nguồn tràn về, mực nước từ từ dâng lên mấp mé mặt giường. Cảnh vật sau
khi lũ đi qua trông hoang tàn như một phim trường vừa quay xong cảnh chiến
tranh”. Nhưng cũng từ mảnh đất nghèo nàn, luôn hứng chịu thiên tai ấy đã gieo
trồng nguồn đề tài không vơi cạn cho ông, tạo nên khối lượng tác phẩm lớn cho nền
văn học dân tộc. Vùng đất quê ông “nổi tiếng với những đụn cát trắng chạy dài đến
tận chân trời, mùa hè nhìn ra ngoài nắng đã thấy xây xẩm mặt mày” [54, tr155].
Hơn nữa vùng này còn nổi tiếng với khoai lang Trà Đõa “Quảng Nam có lụa Phú
16
Bông/ Có khoai Trà Đõa có sông Thu Bồn”. Ông yêu miền quê nắng gió, lam lũ của
mình, về làng Đo Đo, Trà Long “làng quê mình sỏi đá nhiều hơn thóc gạo, nghèo
khó muôn đời” (Mắt biếc) thương về dải đất miền Trung dãi dầu mưa bão, ông tri
ân bằng cách quảng bá ra thế giới với trang web: www.quandodo.com và bằng cả
những lời văn chân thực giàu hình ảnh và cảm xúc gửi gắm qua tác phẩm của mình.
Thuở nhỏ, ông học tại quê nhà (trường Tiểu La, Trần Cao Vân, Phan Chu
Trinh) tĩnh lặng, êm đềm bên gia đình. Từ năm 1973, ông vào Sài Gòn và học Sư
phạm. Ông từng tham gia chiến tranh chống Mĩ, dạy học, làm công tác Đoàn Thanh
niên. Đây cũng được coi là thời gian vất vả, bươn chải nhất trong cuộc đời ông. Ông
chịu nhiều thử thách gian nan của cuộc sống nhiều lúc tưởng chừng bế tắc. Nhưng
“Anh đã hứng lấy những đổi thay quanh mình để làm nên một gia tài quý báu” (Lê
lại với tuổi thơ quen thuộc của mình ngày nào. Tác phẩm của ông không kén độc
giả mà phù hợp với mọi lứa tuổi. Mỗi khi ông cho ra đời tác phẩm mới, công chúng
nồng nhiệt chờ mong đón đợi. Vì thế, ông đã trở thành nhà văn nổi tiếng nhất trong giai
đoạn đương đại, nhà văn có số lượng sách xuất bản nhiều nhất, tái bản nhiều nhất và
bán chạy nhất, một “best seller”. Nhiều tác phẩm của ông được dịch ra tiếng nước
ngoài. Và mọi người quen gọi ông là nhà văn của thế hệ thiếu nhi Việt Nam mà như
PGS.TS Văn Giá thì “e chừng cái danh xưng ấy vẫn chật chội” [15, tr49] bởi giọng
văn và nội dung truyện của Nguyễn Nhật Ánh chinh phục tất cả mọi đối tượng độc giả.
Nguyễn Nhật Ánh đã đóng góp công sức rất lớn cho đổi mới nền văn học đương
đại nước nhà đặc biệt là dòng văn học thiếu nhi - một mảnh đất màu mỡ nhưng ít người
thành công khi khai vỡ. Trẻ em được hòa mình vào những câu chuyện thân quen hàng
ngày, những xúc cảm bí mật tuổi thiếu niên mới lớn e ấp xinh tươi, những trò đùa nghịch
hồn nhiên trong trẻo. Người lớn có thể gọi lại tuổi thơ đã từng bị lãng quên nơi sâu thẳm
tâm hồn sau bao tháng ngày trăn trở với cuộc sống hiện thực bộn bề. Vì thế, truyện của
ông tự nhiên đi vào lòng người đọc, tạo một sức hút lớn.
Nguyễn Nhật Ánh là người viết văn giỏi ngay từ nhỏ. Ông yêu thích việc viết
văn. Ông ham mê đọc sách, truy tìm tài liệu, tạo nên những trang văn gần gụi, thân
thiết đặc biệt với thiếu nhi. Ông thử sức và đã thành công trên nhiều thể loại. Cụ thể:
1.2.2.1. Thơ
Năm 13 tuổi, ông đăng báo bài thơ đầu tiên. Tác phẩm đầu tiên in thành sách
là một tập thơ: Thành phố tháng tư (in chung với Lê Thị Kim, 1984, Nhà xuất bản
Tác phẩm mới). Ông còn có bài thơ được phổ nhạc Thành phố tình yêu và nỗi nhớ
rất nổi tiếng. Các tập thơ khác: Đầu xuân ra sông giặt áo (1986), Tứ tuyệt cho nàng
(1994), Lễ hội của đêm đen (1994). Thơ của ông vừa nhẹ nhàng, tươi vui nhưng có
nhiều bài thơ tình yêu chân thành, giàu xúc cảm.
1.2.2.2. Truyện dài
Truyện dài đầu tiên của ông là tác phẩm Trước vòng chung kết (1985, NXB
Măng Non). Hai mươi năm trở lại đây, ông tập trung viết văn xuôi, chuyên sáng tác
18
Thành công của ông không chỉ dừng lại ở việc làm thơ, viết văn, viết báo mà
những tác phẩm của ông cũng đã được các đạo diễn phim yêu thích. Một số tác
phẩm của Nguyễn Nhật Ánh đã được chuyển thể vào điện ảnh: Áo trắng sân trường
(phim 1990) dựa trên truyện dài Nữ sinh (1989); Thằng quỷ nhỏ (phim 1997) dựa
19
trên truyện dài cùng tên; Chú bé rắc rối (phim 1998) dựa trên Chú bé rắc rối; Bong
bóng lên trời (phim) - chuyển thể cùng tên năm 1997, phim do Hãng phim truyện
Việt Nam (VFC) sản xuất cũng là bộ phim miền Bắc duy nhất; Nữ sinh (phim 2008
dài 10 tập) dựa trên truyện dài Nữ sinh, Bồ câu không đưa thư và Buổi chiều
Windows; Kính vạn hoa (phim 2004); Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (phim 2015);
Cô gái đến từ hôm qua (phim 2017); Ngồi khóc trên cây, Thiên thần nhỏ của tôi
(phim sẽ bấm máy vào tháng 09/2018 và phát sóng vào dịp hè 2019). Bởi những tác
phẩm này đều dễ chạm đến lòng trắc ẩn, những vui tươi, tinh nghịch, hồn nhiên
đáng nhớ tuổi học trò hay những “lần đầu rung động nỗi thương yêu”…
Năm 1990, truyện dài Chú bé rắc rối được Trung ương Đoàn Thanh niên
Cộng Sản Hồ Chí Minh trao giải thưởng Văn học Trẻ hạng A. Năm 1995, ông được
bầu chọn là nhà văn được yêu thích nhất trong 20 năm (1975-1995) qua cuộc trưng
cầu ý kiến bạn đọc về các gương mặt trẻ tiêu biểu trên mọi lĩnh vực của Thành
Đoàn thành phố Hồ Chí Minh và báo Tuổi trẻ, đồng thời được Hội nhà văn thành
phố Hồ Chí Minh chọn là một trong 20 nhà văn trẻ tiêu biểu trong 20 năm (19751995) và 30 năm (1975-2005). Năm 1998, ông được Nhà xuất bản Kim Đồng trao
giải cho nhà văn có sách bán chạy nhất. Năm 2003, bộ truyện nhiều tập Kính vạn
hoa được Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trao huy chương “Vì
thế hệ trẻ” và được Hội nhà văn Việt Nam trao tặng thưởng. Năm 2009, ông nhận
giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam. Năm 2010, Nguyễn Nhật Ánh nhận giải
thưởng văn học ASEAN cho cuốn Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, giải thưởng
FAHASA năm 2012. Đến nay, ông đã xuất bản gần 100 tác phẩm và từ lâu đã trở
thành nhà văn thân thiết của các bạn đọc nhỏ tuổi ở Việt Nam. Nhà báo Nguyễn
Hoàng Sơn đã coi Nguyễn Nhật Ánh là “một hiện tượng” và cất công đi tìm bí
truyện dài, tự truyện, thơ. Lực lượng sáng tác có sự gia tăng mạnh mẽ, mỗi người
lại có một phong cách riêng tạo nên sự đa sắc, đa thanh. Họ đã sáng tác nhiều hơn
để kịp thời giáo dục trẻ, kịp thời giải trí tránh khỏi những trò chơi vô bổ mà thế giới
công nghệ mang lại. Những nỗi đau bi kịch cuộc đời được nhìn qua mắt trẻ thơ
cũng nhẹ nhàng hơn, đậm chất nhân văn hơn. Cách viết, cách tiếp cận cũng có nhiều
đổi mới. Tuy nhiên, nhà văn gắn bó sâu nặng nhất với văn học thiếu nhi là Nguyễn
Nhật Ánh. Với số lượng tác phẩm ra mắt hàng năm trước sự ngóng chờ của độc giả
đã cho thấy sức hút trong văn phong và nội dung đề tài mà ông thể hiện. Một loạt
các tác phẩm vừa ra mắt đã gây tiếng vang lớn, vừa in xong lại tái bản luôn như: Cô
gái đến từ hôm qua, Mắt biếc, Hạ đỏ, Còn chút gì để nhớ, Cho tôi xin một vé đi tuổi
thơ, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, Tôi là Bê tô, Con chó nhỏ mang giỏ hoa
hồng… Văn học thiếu nhi thực hiện chức năng giáo dục trẻ nhỏ của mình nên
những tác phẩm viết cho thiếu nhi đều thể hiện thế giới trẻ thơ ngộ nghĩnh, đáng
yêu, những cảm xúc rung động… Tô Hoài khẳng định: “Nội dung một tác phẩm
văn học viết cho thiếu nhi bao giờ cũng quán triệt vấn đề xây dựng đức tính con
21