NGUYỄN ÁI QUỐC VỚI VIỆC CHUẨN BỊ LÝ LUẬN CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM QUA BA TÁC PHẨM - Pdf 27

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ
-------------------
BÁO CÁO KHOA HỌC SINH VIÊN
ĐỀ TÀI:
NGUYỄN ÁI QUỐC VỚI VIỆC CHUẨN BỊ LÝ LUẬN CHO
CÁCH MẠNG VIỆT NAM QUA BA TÁC PHẨM
1.BẢN ÁN CHẾ ĐỘ THỰC DÂN PHÁP ( 1925 )
2.TUẦN BÁO THANH NIÊN ( 1925 )
3. ĐƯỜNG KÁCH MỆNH ( 1927 )
1
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Ngày 3/2/1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời – chính đảng duy nhất của
giai cấp công nhân Việt Nam đã chấm dứt sự khủng hoảng kéo dài về đường lối
cách mạng và lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đảng ra đời là kết quả tất yếu cuả
cuộc đấu tránh dân tộc và đẫu tranh giai cấp ở Việt Nam thời đại mới. Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã từng nói : Đảng cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp
Chủ nghiac Mác- L êNin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt
Nam.
Đảng ra đời được vũ trang bởi hệ thống học thuyết chính trị tiến bộ nhất
của nhân loại là Chủ nghĩa Mác- L êNin . Nhờ đó mà Đảng đã lôi kéo , kêu gọi
được đông đảo quần chúng nhân dân lao khổ tập trung dưới ngọn cờ “ Độc lập
dân tộc và Chủ nghĩa xã hội”.
Đánh giá về vai trò của lý luận, sinh thời LêNin đã từng nói:
“Không có lý luận cách mệnh thì không có lý luận vận động....Chỉ có theo
lý luận cách mệnh tiên phong , Đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách
mệnh tiên phong”.
Có thể nói quá trình chuẩn bị về tư tưởng lý luận tiến tới thành lập
Đảng cộng sản gắn liền với những hoạt động yêu nước của Nguyễn ái Quốc,

ái Quốc với việc truyền bá Chủ nghĩa Mác- LeeNin vào Việt Nam (1921-1930)”
CHƯƠNG II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Sức sống mãnh liệt của các tác phẩm:
1. Bản án chế độ Thực dân Pháp
2. Tuần báo Thanh Niên
3. Đương kách mệnh
A. Những đóng góp của tác phẩm “ Bản án chế độ Thực dân Pháp”:
I. Gía trị của tác phẩm
I.I “ Bản án chế độ Thực dân Pháp” là bản cáo trạng đanh thép
I.II “ Bản án chế độ Thực dân Pháp” còn vạch rõ kẻ thù của quần chúng
lao động và các dân tộc bị áp bức.
3
I.III “ Bản án chế độ Thực dân Pháp” xác định nhiệm vụ cách mạng,lực
lượng cách mạng , chỉ ra mối quân hệ , sự gắn bó giữa sự nghiệp giảI phóng dân
tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc với phong trào vô sản ở chính quốc và
trên toàn thế giới .
I.IV “ Bản án chế độ Thực dân Pháp” đã mở ra một tương lai tươI sáng
trogn đêm tối của cuộc đời lầm than đau khổ.
II. Ý nghĩa
B. Những đóng góp của hai tác phẩm:
1. Tuần báo Thanh Niên
2. Đương kách mệnh
I - Đặt vấn đề
“Sự vĩ đại của tác phẩm nảy sinh ngay trong thời đại sản sinh ra nó”.
II – Giá trị của hai tác phẩm:
II.I Quan niệm về cách mạng
II.II Quan niệm về Đảng cách mạng, về Đảng cộng sản
III. ý nghĩa
ChươngIII
Kết luận

những khẩu hiệu về kinh tế…nên chưa có vai trò đáng kể cho cách mạng nước
ta trong thời kì này.
5
Chính do những hạn chế mang tính thời đại mà các phong trào yêu nước
cũng như phong trào công nhân thời kì này đều đi đến những thất bại. Hạn chế
đó nằm ở những người cầm đầu các phong trào chư phân biệt được Địch- Ta,
Bạn-Thù, chưa nhận thức đươc rằng Đế quốc Pháp xâm lựoc việt Nam không
phải là hiện tượng riêng lẻ mà là vấn đề thời đại gắn liền với cả giai đoạn lịch sử
của Chủ nghĩa tư bản thống trị thế giới;họ chưa nhận thấy rõ nhiệm vụ của cách
mạng việt Nam lúc này là phải đánh đổ đế quốc Pháp giành độc lập, tự do, đánh
đổ phong kiến địa chủ giành quyền dân chủ cho nhân dân , giành ruộng đất cho
nông dân - điều mà sau này ngay khi Đảng ta mới thành lập đã giương cao ngọn
cờ “ Độc lập dân tộc” và “ Ruộng đất dân cày”; họ càng không thấy được lực
lượng cách mạng chủ yếu là Công- Nông trong đó giai cấp công nhân là lực
lượng lãnh đạo. Đồng thời những thất bại đó đã thể hiện sự bất lực của hệ tư
tưởng phong kiến cũng như hệ tư tưởng dân chủ tư sản đã lỗi thời không còn đủ
sức mạnh để phá vỡ thế lực kìm kẹp nó, đòi hỏi phong trào cách mạng càn được
trang bị bởi một hệ tư tưởng khác, tiến bộ hơn, đáp ứng nhu cầu của thời đại.
Do những hạn chế đó , lại bị những đòn roi tấn công rất ác liệt , man rợ
của kẻ thù nên các phong trào dần bị thất bại. ách áp bức của kẻ thù càng thêm
nặng nề, nỗi thống khổ của quần chúng càng thêmchồng chất, tiền đồ của dân
tộc ngày càng mù mịt.
Nhưng tất yếu là, càng bị đàn áp , càng thất bại , càng thống khổ thì quần
chúng càng thêm nung nấu lòng căm thù và ý chí chiến đấu, càng khát khao tìm
cách thoát khỏi kiếp sống trâu ngựa.Trong hoàn cảnh đó, yêu cầu mà lịch sử đặt
ra là phải có những con người ưu tú nhất , tiến bộ nhất trong đội ngũ những
người Việt nam yêu nước có khả năng vượt lên trên những hạn chế của lịch sử
để tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.
Rõ ràng, đúng như Lê-Nin lúc sinh thời đã từng nói:
“ Nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ mà nó có

Nếu những chuyến đi của Tôn Thất Thuyết hay của những nhân vật lãnh
đạo phong trào Đông Du hay phong trào Duy Tân chủ yếu là tìm ngoại viện thì
chuyến đi của Nguyễn Tất Thành lại hoàn toàn khác. Người ra đi là “ xem nước
Pháp và những nước khác. Sau khi tôixem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về
giúp đồng bào ta”
4.
Sau này Người cũng đã kể lại:
7
“Nhân dân Việt Nam trong đó có cụ thân sinh tôi lúc này thường tự hỏi
nhau rằng: ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người
này thì nghĩ là Nhật, người khác nghĩ là Anh, có người khác nữâ nghĩ là Mỹ. Tôi
thì thấy phải đi ra nước ngoài để xem cho rõ”
5
.
Như vậy hơn hẳn những bậc tiền bối đi trước, Nguyễn Tất Thành đã xác
định được một cách rõ ràng:
“Cái mà dân tộc cần trước tiên chưa phải là súng đạn, của cải, mà là cách
đuổi giặc cứu nước, là làm cách mạng hay nói cách khác là lý luận cách mạng và
phương pháp cách mạng”
6
.
Và Người đã tìm được hướng đi cho riêng mình , đó là đi về phương
Tây.Về phương Tây không phải vì Người bị thu hút và khuất phục bởi nước sơn
hào nhoáng cảu nền văn minh Tư bản chủ nghĩa. Nền văn minh đó đã tấn công ,
làm rung chuyển và buộc phải nhuợng bộ cho nó cái vương quốc phongkiến lâu
đời và hùng mạnh nhất châu á- Trung Quốc. Sự kiện này đã tác động và làm
lung lạc đến tư tưởng, ý thức của những nhân vật tiêu biểu cho giới thượng lưu
trí thức Trung Quốc dưới triều Mãn Thanh như Khang Hữu Vi, Lương Khải
Siêu… Chính nước sơn hào nhoáng của nền văn minh ấy cũng đã làm cho nhiều
sĩ phu yêu nước ở Việt Nam đầu thế kỉ XX đã đi chệch đường trong việc tìm

hữu áilà thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”
9
Từ đó ở Người sự đồng cảm với đồng bào mình đã được nâng lên thành
sự đồng
cảm với nhân dân lao động quốc tế anh em.Đồng thời Người cũng nhận
biết sâu sắc hơn, toàn diện hơn về diện mạo kẻ thù của dân tộc ta không chỉ là
Thực dân Pháp và bè lũ tay sai mà còn là Chủ nghĩa đế quốc nói chung.
Sự bùng nổ của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã bộc lộ đầy đủ
bản chất bóc lột tàn ác , dã man đồng thời củng thể hiện sự suy yếu của Chủ
nghĩa đế quốc. Mặt khác, cuộc chiến tranh chính là cơ hội để Chủ nghĩa đế quốc
tăng cường bóc lột giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức, đẩy người lao độg
vào cảnh bần cùng.
Chính sự kiện đó đã tác động sâu sắc và làm bừng sáng lên trong nhận
thức của người thanh niên yêu nước rằng : Chủ nghĩa đế quốc, Chủ nghĩa thực
dân là cội nguồn của mọi sự khổ đau của quần chúng và ở đâu quần chúng lao
khổ cũng là người chung số phận, chung chiến tuyến với dân mình. Những nhận
biết căn bản , đúng đắn đó càng giục giã Người quyết tâm tìm con đường giải
phóng mà Người đã từng nung nấu, ấp ủ từ ngày rời Tổ Quốc.
9
Chính trong quá trình đó, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công
năm1917 – một nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới mà ở đó nhân dân lao
động được làm chủ đất nước, mọi gia cấp xã hội được giải phóng. Sự ra đời của
nhà nước Xô viết đầu tiên đitheo Chủ nghĩa xã hội giữa vòng vây của bọn đế
quốc chủ nghĩa đã ảnh hưởng mang tính chất quyết định đến nhận thức của
Người về lựa chọn con đường cách mạng.
Tháng 7/1920, báo L
/
Humahité số ra hai ngày 16 và 17 tháng 7 năm 1920
đã đăng toàn bộ văn bản “ Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và
vấn đề thuộc địa” cảu V.I.LêNin. Luận cương ngay lập tức đã thu hút được sự

các tác phẩm của Người thời kì này cần phảI kể đến những đóng góp hết sức to
lớn có giá trị đặt nền tảng tư tưởng chiến lược và sách lược chỉ đạo cách mạng
Việt Nam của ba tác phẩm:
Bản án chế độ Thực dân Pháp ( 1925 – ở Pháp)
Tuần báo Thanh Niên ( 1925 – ở Trung Quốc)
Đường Kách Mệnh ( 1927 - ở Trung Quốc)
Mặc dù ra đời ở các thời kì hoạt động khác nhau của Nguyễn ái Quốc, ở
các thời điểm lịch sử khác nhau nhưng cả ba tác phẩm đều thể hiện bước chuẩn
bị, hoàn thiện và phát triển cao độ nhận thức về Chủ nghĩa Mác- LêNincủa
Nguyễn ái Quốc. Quá trình đó được thể hiện ở sự kế thừa, bổ sung và ngày càng
hoàn bị những tư tưởng chỉ đạo mạng tính chất chiến lược cho cách mạng Việt
Nam như mục tiêu đấu tranh, lực lượng cách mạng, phương pháp cách
mạng...trong các tác phẩm. Sự ra đời của các tác phẩm có ý nghĩa vô cùng lớn
lao, nhờ đó mà cách mạng Việt Nam đã tìm được con đường cách mạng đúng
đắn để giảiphóng dân tộc, cách mạng Việt Nam lúc này đã thoát ra khỏi cuộc
khủng hoảng về đường lối cũng như về tổ chức và từng bứơc có những đóng
góp lớn lao cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và cho sự nghiệp đấu tranh chung
của loài người tiến bộ trên thế giới.
11
CHƯƠNG II
Sức sống mãnh liệt của các tác phẩm
1. Bản án chế độ Thực dân Pháp
2. Tuần báo Thanh Niên
3. Đương Kách Mệnh
A. Những đóng góp của tác phẩm “Bản án chế độ Thực dân Pháp”
Thời kì Nguyễn ái Quốc hoạt động ở PaRi (Pháp), Người hoạt động ở
Đảng Cộng Sản Pháp, ở các tổ chức cách mạng và trong “Hội liên hiệp thuộc
địa” do Người sáng lập cùng những người bị áp bức dưới chế độ thực dân Pháp
và đang hoạt động cách mạng ở Pháp. Thời kì này Người đã viết nhiều sách báo
tấn công vào Chủ nghĩa đế quốc, kêu gọi , thức tỉnh quần chúng lao khổ đấu

chiến đấu quyết định vận mệnh của cả dân tộc.
Thứ hai, tác phẩm đã đề cạp đến những người thật , việc thật, những
chuyện xảy ra hàng ngày ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, những việc mắt
thấy tai nghe ở những hoàn cảnh cụ thể nhưng có quan hệ thiết thân đến vặn
mệnhcủa hàng chục triệu con người trong cái địa ngục trần gian gọi là xứ thuộc
địa và lí giải một cách khoa học theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác- quan điểm
tiến bộ nhất của thời đại.
Thứ ba, tác phẩm có sức hấp dẫn như vậy bởi đây là lần đầu tiên những
người cách mạng và nhân dân ta biết đến Chủ nghĩa cộng sản một cách rõ ràng
và đúng đắn. Trước đó người ta cũng nghe nói, biết và bàn tán về Chủ nghĩa
cộng sản như một học thuyết cách mạng nhất . Đối với những người bị áp bức
thì không mong muốn gì hơn là tìm được một lối thoát cho cuộc đời tối tăm tủi
nhục của mình, học thuyết ấy tất nhiên đã nhen nhói lên một niềm hi vọng.Song
vì một phần do chế độ kiểm duyệt ngặt nghèo, một phần vì báo chí phản động
tuyên truyền chống cộng ráo riết, phần nữa vì trong đầu óc của nhiều người xuất
thân từ tầng lớp Tiểu tư sản còn nhiều tàn dư của hệ ý thức cũ nên trong quan
niệm về Chủ nghĩa cộng sản còn nhiêù điểm mơ hồ, lộn xộn.
Chính vì vậy mà Bản án chế độ Thực dân Pháp có vai trò rất lớn
trong quá trình giác ngộ, chuẩn bị về tư tưởng, lý luận cho những người
13
cách mạng và cho quần chúng nhân dân lao động đặc biệt là tầng lớp thanh
niên ở nước ta.
Đánh giá vai trò của tác phẩm đối với nhân dân Việt Nam nói chung và
đối với thanh niên Việt Nam nói riêng, đồng chí Phạm Hùng kể lại rằng:
“Hồi ấy quyển “Bản án chế độ Thực dân Pháp” có một tác dụng rất lớn
đối với thanh niên, học sinh.
Hầu hết các trường trung học đều có tủ sách riêng cho học sinh tự tổ chức
hàng nghìn cuốn sách và tủ sách nào cũng có quyển “Bản án chế độ thực dân
Pháp”. Phong trào thanh niên, học sinh lúc bấy giờ lan rộng và khá mạnh mẽ.
Lập trường giai cấp tuy chưa rõ rệt lắm nhưng ý thức chống đế quốc rất cao, rất

đồi nòi giống và trí tuệ dân tộc ta để dễ bề cai trị:
“ Cứ 1000 làng thì có đến 1500 đại lý bán lẻ rượu và thuốc phiện. Nhưng
cũng trong số 1000 làng ấy chỉ có vẻn ven 10 trường học...Hàng năm người ta
đã tọng từ 23 đến 24 triệu lít rượu cho 12 triệu người bản xứ, kể cả đàn bà và trẻ
con”
14
.
Đó là việc giáng vào người bản xứ những sưu thuế, những phu phen, tạp
dịch...nặng nề, vô lý..
“Bản án chế độ thực dân Pháp” còn chỉ mặt gọi tên những kẻ đại diện
cho “nước mẹ”, cho “tự do, công lý”, cho “ sự nghiệp khai hoá”...đang ra tay
hoành hành khắp các thuộc địa. Người Việt Nam phải è cổ ra mà chịu công ơn
bảo hộ của nước Pháp. Để che đậy cho bản chất xấu xa của bọn bóc lột “ Chủ
nghĩa tư bản luôn luôn trang điểm cho cái huy chương mục nát của nó bằng
những châm ngôn lý tưởng : Bác ái, bình đẳng....”
15
.
Và cái công lý , bình đẳng mà bọn Thực dân Pháp nghêu ngao đã bị
Nguyễn ái Quốc vạch trần bằng giọng điệu châm biếm:
“Công lý được tượng trưng bằng một bà đầm, một tay cầm cân , một tay
cầm kiếm. Vì đường từ Pháp đến Đông Dương xa quá, xa đến nỗi sang được tới
đó, đĩa cân đã chảy lỏng ra và biến thành những tẩu thuốc phiện hoặc những
chai rượu ty, nên bà đầm công lý tội nghiệp chỉ còn lại độc cái kiếm để chém
giết. Bà chém giết cả người vô tội và nhất là người vô tội”
16
.
Sức tố cáo của tác phẩm càng thêm mạnh mẽ khi mô tả nỗi thống khổ của
những người phụ nữ bản xứ....
Tóm lại dưới nanh vuốt của bọn thực dân , mọi tầng lớp người bản
xứ đều bị coi là đám người nô lệ. Từ những nỗi thống khổ mà người bản xứ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status