A. MỞ ĐẦU
Bạn biết gì về Quản Lý Chuỗi Cung Ứng?
Quản lý chuỗi cung ứng(SCM) là sự phối kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật và khoa
học nhằm cải thiện cách thức các công ty tìm kiếm những nguồn nguyên liệu thô cấu
thành sản phẩm/dịch vụ, sau đó sản xuất ra sản phẩm/dịch vụ đó và phân phối tới các
khách hàng. Điều quan trọng đối với bất kỳ giải pháp SCM nào, dù sản xuất hàng hoá
hay dịch vụ, chính là việc làm thế nào để hiểu được sức mạnh của các nguồn tài nguyên
và mối tương quan giữa chúng trong toàn bộ dây chuyền cung ứng sản xuất.
Về cơ bản, SCM sẽ cung cấp giải pháp cho toàn bộ các hoạt động đầu vào của doanh
nghiệp, từ việc đặt mua hàng của nhà cung cấp, cho đến các giải pháp tồn kho an toàn
của công ty. Trong hoạt động quản trị nguồn cung ứng, SCM cung cấp những giải pháp
mà theo đó, các nhà cung cấp và công ty sản xuất sẽ làm việc trong môi trường cộng
tác, giúp cho các bên nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và phân phối sản
phẩm/dịch vụ tới khách hàng. SCM tích hợp hệ thống cung ứng mở rộng và phát triển
một môi trường sản xuất kinh doanh thực sự, cho phép công ty của bạn giao dịch trực
tiếp với khách hàng và nhà cung cấp ở cả hai phương diện mua bán và chia sẻ thông tin.
Vài nét về SCM
Một khi bạn đã nhận thức ra chuỗi cung ứng là một nồi lẩu của mọi thứ bạn, khách
hàng và nhà cung cấp của bạn làm, thì bước tiếp theo là cẩn hiểu nó phải có một quy
trình để có thể quản lý.
Bởi vì trừ phi bạn đang quản lý cái mà bạn muốn từ -và đóng góp vào chuỗi cung ứng,
bạn không chỉ thất bại, mà bạn còn có nguy cơ mất luôn cả cái doanh nghiệp của mình
đã tốn công gầy dựng.
Hãy đến Hà Lan một chút. Từ việc hoa Tulip đến hồ tiêu, người nông dân ở đây đã
nhận thức lâu rồi rằng chỉ có một cách giúp họ trở thành gã khổng lồ là tạo ra quy mô
và hiệu năng lớn để họ có thể cung cấp cái thị trường cần với giá cạnh tranh và phù hợp
với người bán lẻ người cuối cùng sẽ bán sản phẩm cho mình.
Không phải là vấn đề cái họ đang bán mà cách họ sản xuất theo quy mô nhỏ phân tán
khắp cả nước. Điều quan tâm ấy chính là việc họ đã thiết kế ra một cỗ máy-chính là
một cỗ máy –để tạo ra một thực thể duy nhất được nhìn nhận bởi khách hàng bán lẻ của
mình. Cũng giống như Tesco hay Sainsbury cũng chỉ làm việc với một nhà cung cấp
- Phân phối,
- Bảo quản hàng hóa,
- Quản lý kho bãi,
- Bao bì, nhãn mác, đóng gói.
Giai đoạn 2: Hệ thống logistics
Giai đoạn này có sự phối kết hợp công tác quản lý của cả 2 mặt trên vào cùng một hệ
thống có tên là: Cung ứng vật tư và Phân phối sản phẩm.
Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyền cung ứng (SCM)
Theo ESCAP thì đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi quan hệ từ
nhà cung cấp nguyên liệu – đơn vị sản xuất - đến người tiêu dùng. Khái niệm SCM chú
trọng việc phát triển các mối quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất với
nhà cung cấp, người tiêu dùng và các bên liên quan như các công ty vận tải, kho bãi,
giao nhận và các công ty công nghệ thông tin.
Vai trò của SCM đối với hoạt động kinh doanh
Đối với các công ty, SCM có vai trò rất to lớn, bởi SCM giải quyết cả đầu ra lẫn đầu
vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ có thể thay đổi các nguồn nguyên vật
liệu đầu vào hoặc tối ưu hoá quá trình luân chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ
mà SCM có thể giúp tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Có không ít công ty đã gặt hái thành công lớn nhờ biết soạn thảo chiến lược và giải
pháp SCM thích hợp, ngược lại, có nhiều công ty gặp khó khăn, thất bại do đưa ra các
quyết định sai lầm như chọn sai nguồn cung cấp nguyên vật liệu, chọn sai vị trí kho bãi,
tính toán lượng dự trữ không phù hợp, tổ chức vận chuyển rắc rối, chồng chéo...
Ngoài ra, SCM còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tiếp thị, đặc biệt là tiếp thị hỗn hợp
(4P: Product, Price, Promotion, Place). Chính SCM đóng vai trò then chốt trong việc
đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến và vào đúng thời điểm thích hợp. Mục tiêu lớn nhất
của SCM là cung cấp sản phẩm/dịch vụ cho khách hàng với tổng chi phí nhỏ nhất.
Điểm đáng lưu ý là các chuyên gia kinh tế đã nhìn nhận rằng hệ thống SCM hứa hẹn
từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất của công ty và tạo điều kiện cho chiến
lược thương mại điện tử phát triển. Đây chính là chìa khoá thành công cho B2B. Tuy
nhiên, như không ít các nhà phân tích kinh doanh đã cảnh báo, chiếc chìa khoá này chỉ
lý về chuỗi cung ứng. Tất cả những bộ phận khác của một tổ chức cũng cần hiểu về
SCM bởi họ cũng trực tiếp ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của chuỗi cung
ứng. Để xây dựng được chuỗi cung ứng hiệu quả, tất cả các thành viên trong tổ chức
đều phải thông hiểu và hỗ trợ chứ không chỉ là những người tham gia trực tiếp vào hoạt
động của chuỗi cung ứng.
2. Điều kiện cần
2.1 Sự thông hiểu
Có quá nhiều quan điểm và định nghĩa về thuật ngữ chuỗi cung ứng, điều đó làm
cho việc thông hiểu gặp nhiều khó khăn. Ví dụ: Các nhà quản trị tại một công ty hàng
tiêu dùng có trụ sở ở khu vực bờ đông nước Mỹ gần đây kết luận rằng nhóm làm việc
mà họ thiết lập để theo đuổi việc cải thiện chuỗi cung ứng đã thất bại. Theo đánh giá
độc lập từ bên ngoài, các thành viên trong nhóm làm việc này đã không hoàn toàn hiểu
được khái niệm cũng như những mục tiêu của quản lý chuỗi cung ứng. Họ không thể
nắm bắt được điều mà công ty họ đang nỗ lực vươn tới trong việc xây dựng quan điểm
tích hợp của công ty hay điều mà một chuyển biến từ tổ chức theo chiều dọc (theo chức
năng) sang tổ chức theo chiều ngang (chức năng chéo) đem lại. Nhiều thành viên thừa
nhận rằng họ gặp nhiều khó khăn trong việc nhìn nhận những vấn đề nằm ngoài quan
điểm giới hạn về chức năng của mình. Khi mà nhóm theo đuổi những nỗ lực cải tiến
vượt qua ranh giới phòng ban hay ranh giới về chức năng, họ thường gặp phải sự phản
đối từ những nhà quản lý thuộc các phòng ban.
Ví dụ này cho thấy rằng cần phải hiểu chuỗi cung ứng qua nhiều ranh giới của tổ chức.
Các nhà quản lý và thành viên trong nhóm trong các phòng ban khác nhau cần phải hiểu
quan niệm này bởi vì họ thường đóng vai trò kết nối trong việc hỗ trợ các hoạt động
hay quy trình chuỗi cung ứng.
Một sự hiểu biết rộng hơn về quản lý chuỗi cung ứng có thể đem lại nhiều lợi ích và kết
quả quan trọng. Thứ nhất, điều đó sẽ giúp cho nhà quản lý nhận ra những sáng kiến
trong chuỗi cung ứng không chỉ là những dự án đơn lẻ mà là tập hợp những yếu tố cốt
lỗi của mục tiêu kinh doanh của công ty. Đây là một điểm quan trọng cho hầu hết các
công ty khi truyền đạt cho thành viên của mình. Thứ hai, những sáng kiến trong quản lý
chuỗi cung ứng sẽ nhận được nhiều sự hỗ trợ cần thiết hơn khi mà mọi thành viên trong
nhà cung ứng. Hơn nữa, có một quy trình hệ thống hóa làm mọi thứ dễ dàng hơn để kết
hợp chặt chẽ giữa hiểu biết và hành động, từ đó có những cải tiến cần thiết cho chuỗi
cung ứng. Cuối cùng, việc nhìn nhận các hoạt động của chuỗi cung ứng trong bối cảnh
chung của các quá trình trên toàn cầu giúp việc ứng dụng đồng nhất các quy trình cho
các công ty con trong cùng một hệ thống trên khắp thế giới.
Ví dụ, hình này cho thấy cách mà quản lý chuỗi cung ứng chứa đựng cả phân phối hàng
hóa và quản lý cung ứng. Các hoạt động quản lý cung ứng và nguyên liệu tập trung vào
phần ngược của chuỗi cung ứng và chủ yếu liên quan đến nhà cung cấp và logistics đầu
vào. Các hoạt động phân phối liên quan đến một phần của chuỗi cung ứng nơi mà quy
trình sản xuất hình thành thành phẩm và được chuyển đến khách hàng. Hiểu được mối
quan hệ giữa các thuật ngữ này là rất quan trọng trong việc có thể khái niệm hoá một
chuỗi cung ứng.
Ngoài ra, các nhà quản lý không trực tiếp cũng thường đặt câu hỏi về sự khác biệt giữa
chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng. Sự nhầm lẫn xoay quanh thuật ngữ này không gây ngạc
nhiên khi một số nguồn đã sử dụng hai thuật ngữ này tương đương nhau. Theo Michael
Porter, người đầu tiên phát triển khái niệm này vào thập niên 80, thì chuỗi giá trị bao
gồm các hoạt động chủ chốt và hỗ trợ như đã thể hiện trong hình 2. Trong khi đó, theo
định nghĩa của chúng ta thì chuỗi cung ứng chỉ bao gồm các hoạt động chủ chốt hoặc
những mảng vận hành của chuỗi giá trị.
3. Quan niệm mới về quản lý chuỗi cung ứng