Nghiên cứu khoa học " Điều tra đánh giá thực trạng hệ thống vườn ươm và năng lực cung cấp cây con hiện nay làm cơ sở cho việc quản lý quy hoạch mạng lưới vườn ươm phục vụ dự án trồng mới 5 triệu ha rừng " - Pdf 14

Điều tra đánh giá thực trạng hệ thống vườn ươm và năng lực cung cấp cây con
hiện nay làm cơ sở cho việc quản lý quy hoạch mạng lưới vườn ươm phục vụ dự
án trồng mới 5 triệu ha rừng

Phạm Đình Tam, Lại Thanh Hải,
Phạm Đình Sâm, Đặng Quang Hưng
Trung tâmứng dụng KHKT Lâm nghiệp
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đã được Quốc hội nước ta thông qua tại kỳ họp
thứ 2 Quốc hội khóa X. Sau đó Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 661/QĐ-
TTg ngày 29/7/1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự
án. Theo quyết định này thì đến năm 2010 cả nước phải trồng được 5 triệu ha
rừng, trong đó có 1 triệu ha khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung còn lại 4
triệu ha là trồng mới. Với mật độ trồng bổ sung bình quân 1 ha từ 400 - 500 cây và
trồng mới hoàn toàn từ 1.200 - 1.600 cây thì số lượng cây con phục vụ cho dự án
vào khoảng 7.700 triệu cây. Bình quân 1 năm cần khoảng 640 triệu cây. Ngoài ra
còn có các chương trình, các dự án trồng rừng do các nguồn vốn khác và do các tổ
chức quốc tế tài trợ cũng cần hàng trăm triệu cây con các loại. Với lượng cây con
phục vụ trồng rừng này hàng năm cả nước phải tổ chức sản xuất trên quy mô hàng
trăm ha với hàng nghìn vườn ươm các loại mới đáp ứng được kế hoạch trồng rừng.
Đây là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng có ý nghĩa thiết thực đến
thành công hay thất bại của công tác trồng rừng của các địa phương.
Từ lâu nay việc cung ứng cây con phục vụ trồng rừng hàng năm của các địa phư-
ơng phần lớn do các tổ chức lâm nghiệp đảm nhận, ngoài ra các thành phần khác
như tư nhân, tập thể cũng tạo cây con theo đơn đặt hàng của các dự án trồng rừng.
Phương thức này đã đáp ứng kịp thời kế hoạch trồng rừng của địa phương, tạo đư-
ợc công ăn việc làm cho người lao động, góp phần hoàn thành khối lượng trồng
rừng. Tuy nhiên, về mặt chất lượng cây con, hiệu quả sản xuất của các vườn vẫn
còn nhiều tồn tại, việc quản lý đầu ra thiếu chặt chẽ, mạng lưới vườn ươm chưa
được quy hoạch dẫn đến không chủ động được cung cầu,v.v Vì vậy, để đánh giá
một cách đầy đủ thực trạng hệ thống vườn ươm hiện có và đề xuất quy hoạch

liệu đã có
Kế thừa kinh nghiệm
của các chuyên gia
Xây dựng kế hoạch và
đề cương thu thập số liệu
Thu thập thông tin
tại tỉnh
Điều tra, khảo
sát thực địa
- Tổng hợp phân tích số liệu
- Viết tổng kết dự án

· Phương pháp cụ thể :
- Sử dụng các tài liệu của các dự án trồng rừng từ Trung ương đến địa phương để
tổng hợp theo yêu cầu, mục tiêu của dự án.
- áp dụng phương pháp điều tra đánh giá nhanh nông thôn (RRA) để thu thập các
thông tin cần thiết. Đối tượng điều tra phỏng vấn gồm các Ban quản lý dự án địa
phương, các Sở Nông nghiệp và PTNT và các Chi cục phát triển Lâm nghiệp. Nội
dung điều tra được xây dựng theo phiếu in sẵn.
- Sử dụng phương pháp chuyên gia để đánh giá thực trạng vườn ươm hiện có bao
gồm các lĩnh vực : Lâm sinh, kinh tế, cơ giới trồng rừng, giống. Tiêu chuẩn đánh
giá được áp dụng theo các quy trình, quy phạm của Bộ đã ban hành .
- Về phân loại hệ thống vườn ươm áp dụng theo “ Tiêu chuẩn vườn ươm “ được
Vụ KHCN và CLSP thông qua năm 2000 .
- ứng dụng phương pháp Mapinfor để xây dựng bản đồ hiện trạng và quy hoạch
vườn ươm .
- ứng dụng phương pháp vi tính thông dụng để xử lý, tính toán và lập trình quản trị
dữ liệu .
· Quy mô điều tra: chọn 45 tỉnh để điều tra và chia làm 2 mức độ.
+ Điều tra tổng quát : 30 tỉnh

khoảng 524.507.600 cây. Trong đó trồng rừng tập trung là 446.985.100 cây, chiếm
85,22%, cây phân tán là 77.522.500 cây chiếm 14,78 % Các tỉnh có nhu cầu lớn là
các tỉnh Sơn La, Đăc Lắc, Tuyên Quang, Thanh Hóa,Quảng Nam, Lai Châu, Lạng
Sơn, Nghệ An, Hà Giang ít nhất là các tỉnh : Bắc Ninh, Thành phố Hồ Chí
Minh, Hải Dương, Bình Dương, Vĩnh Phúc, Bà Rịa-Vũng Tàu, Ninh Bình, Hà
Tây, Tây Ninh
Số liệu cũng cho thấy trong số 45 tỉnh điều tra thì 6 tỉnh có nhu cầu cây con hàng
năm trên 20 triệu cây (13,3%), 17 tỉnh có nhu cầu từ 10 đến 20 triệu cây (37,7%)
và 22 tỉnh có nhu cầu dưới 10 triệu cây (49%). (Xem biểu đồ số 1)
2.2. Kết quả điều tra thực trạng hệ thống vườn ươm hiện nay.
Để có được một cách nhìn nhận chính xác và khách quan làm cơ sở cho việc đề
xuất các giải pháp tiêu chuẩn, quản lý và xây dựng mạng lưới vườn ươm hợp lý
phục vụ trồng rừng, dự án đã tiến hành điều tra thực trạng hệ thống vườn ươm
hiện nay tại 45 tỉnh trong cả nước, chủ yếu tập trung vào các tỉnh có diện tích đất
lâm nghiệp lớn và có khối lượng trồng rừng nhiều. Nội dung điều tra được tập
trung vào các vấn đề sau :
- Hình thức tổ chức sản xuất cây con
- Hệ thống vườn ươm đang sử dụng
- Tình hình đầu tư hệ thống vườn ươm
- Trình độ KHCN và kỹ thuật
- Cơ chế chính sách
2.2.1 Tình hình tổ chức sản xuất.:
· Các hình thức sản xuất cây con hiện nay:
Qua điều tra thực tế tại 45 tỉnh cho thấy có 20% số tỉnh tổ chức cả 3 hình thức sản
xuất, 95,5% số tỉnh có hình thức quốc doanh, 62,2% số tỉnh có hình thức tư nhân
và 17,7% số tỉnh có hình thức tập thể (xem sơ đồ 2).
Sơ đồ 2 : Loại hình tổ chức sản xuất cây con
BQL 661 tỉnh
Đơn vị quốc doanh
Tư nhân

ơng đối lớn. Kết quả đã thống kê được 550 vườn ươm quốc doanh với tổng diện
tích là 306,64 ha, trong đó vườn ươm công nghệ cao 87 (diện tích 94,24 ha), vườn
ươm bán cơ giới 22 (diện tích 13,25 ha) và vườn ươm thủ công 454. Các tỉnh có tổ
chức hệ thống vườn ươm quốc doanh lớn nhất là Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ninh.
Các tỉnh có vườm ươm hộ ít nhất là Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Kiên Giang,
Phú Thọ. Điều này cho thấy hầu hết các tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa có điều
kiện khó khăn thì việc đầu tư cho hệ thống vườn ươm cũng còn chưa cao, việc tổ
chức quản lý chưa được chú ý và đây cũng là 1 trong những nguyên nhân ảnh h-
ưởng đến chất lượng rừng trồng sau này. Những tỉnh có điều kiện hơn cả về cơ sở
vật chất đến cán bộ thực hiện thì tổ chức hệ thống vườn ươm tương đối bảo đảm,
hiệu suất sản xuất và chất lượng cây con tương đối đảm bảo. Điều này cũng thể
hiện rõ qua đánh giá về hiệu suất sản xuất ở 1 số vườn ươm tại 15 tỉnh (số liệu này
chủ yếu là đánh giá tại các vườn ươm tập trung) .
· Phân loại vườn ươm
Căn cứ vào tiêu chuẩn vườn ươm cây lâm nghiệp năm 2001, và kết quả điều tra
thực địa tại 45 tỉnh trong cả nước, dự án đã phân loại các vườn ươm hiện có theo 3
tiêu chí: Theo quy mô (ký hiệu q), theo hình thức sản xuất (ký hiệu h), theo tính
chất của vườn (ký hiệu t). Cụ thể được thể hiện trong bảng dưới đây:
Biểu 1: Phân loại vườn ươm
T.T Tiêu chí phân loại Phân loại Đặc trưng chính Ký hiệu
1 Quy mô

q
- Loại vườn ươm lớn 1 Công suất>1 triệu cây/năm q
1

- Loại vườn ươm vừa 2 Công suất từ 50 vạn đến 1
triệu cây/năm
q
2

2.2.3. Năng lực sản xuất cây con:
· Về khả năng cung cấp cây con
Hầu hết các tỉnh điều tra đều có kế hoạch sản xuất cây con hàng năm để phục vụ
cho trồng rừng của địa phương. Số liệu điều tra cho thấy bình quân mỗi năm các
tỉnh đã sản xuất được 528.266.200 cây con các loại, trong đó các đơn vị quốc
doanh sản xuất được 362.270.200 cây chiếm, 68,58%, khu vực tư nhân sản xuất đ-
ược 154.804.000 cây, chiếm 29,3%, khu vực tập thể sản xuất được 11.192.000
cây, chiếm 2,12%. Các tỉnh sản xuất nhiều là : Kon Tum, An Giang, Lạng Sơn,
Đồng Nai, Kiên Giang, Quảng Ninh (từ 20 triệu cây - 38 triệu cây/năm). Tuy
nhiên, số liệu điều tra trên chỉ mới phản ánh được lượng cây con thực tế đã sản
xuất của từng tỉnh để phục vụ theo kế hoạch mà chưa tính đến năng lực sản xuất vì
nhiều vườn ươm được đầu tư tương đối bài bản nhưng chưa sản xuất hết công
suất.
 Về cân đối giữa nhu cầu và khả năng cung ứng cây con:
Trong 45 tỉnh điều tra có 3 tỉnh có khả năng sản xuất đủ nhu cầu, chiếm 6,7 %; 20
tỉnh có khả năng sản xuất dư thừa theo nhu cầu, chiếm 44% và số tỉnh không có
khả năng cung cấp đủ cây con theo nhu cầu là 22 tỉnh, chiếm 49,3%.
· Hiệu suất của các vườn ươm:
Hầu hết các tỉnh sản xuất chỉ đạt dưới 65% công suất thiết kế, đặc biệt có những
tỉnh chỉ đạt 26% đến 36% như Ninh Thuận, Vũng Tàu, Hà Giang. Điều này do
mấy nguyên nhân chính như sau:
- Chưa có quy hoạch mạng lưới vườn ươm nên thiếu sự điều tiết về kế hoạch sản
xuất, đầu ra cây con không ổn định do đó thiếu sự cân đối giữa cung và cầu.
- Kinh phí dành cho vườn ươm rất hạn chế, nhưng lại đầu tư không đồng bộ nên
không đủ điều kiện để mở rộng sản xuất.
- Giá cây con trồng rừng quá thấp, hiệu quả sản xuất kém nên không thu hút được
người lao động.
Về phân loại hiệu suất sử dụng của các vườn ươm theo các cấp khác nhau cho
thấy: có 37,7% số tỉnh có hiệu suất sử dụng trên 70%, có 11,1% số tỉnh có hiệu
suất sử dụng dưới 50% và có 51,2% số tỉnh có công suất sử dụng từ 50-70

Đã có

Xây
mới
I
Vùng Tây
bắc

1 Sơn La 104.500,00

29 29 - 13260 4 2 2
2 Lai Châu 108.000,00

18 18 - 9.822 3 1 2
3 Hoà Bình 53.814,29

45 45 - 25170 6 3 3
II

Vùng Đông
bắc

1 Hà Giang 73.157,14

10 10 3.896 2 1 1
2 Tuyên Quang

131.285,71

105

68 68 10875 4 4 0
10

Quảng Ninh 87.942,86

49 49 16485 5 5 0
11

Phú Thọ 44.655,71

57 57 21367 4 3 1
12

Vĩnh Phúc 24.428,57

16 16 14008 3 3 0
13

Bắc Ninh 11.000,00

2 2
III

Đ.Bằng sông
Hồng

1 Ninh Bình 21.785,71

10 10
2 Hà Tây 25.285,71


35 35 5983 4 4 0
V

Duyên hải
Trung bộ

1 Quảng Nam 130.500,00

21 21 34125 8 9 -1
2 Quảng Ngãi 32.571,40

27 27 19458 5 2 3
3 Bình Định 286.700,00

14 14 11108 4 4 0
4 Phú Yên 87.857,14

34 34 55948 3 2 1
5 Khánh Hoà 24.300,00

46 46 11948 3 3 0
VI

Vùng Tây
nguyên*

1 Đắc Lắc 29.500,00

7 7


6
Bà Rịa-Vũng
Tàu 43.514,29

6 6
7
TP Hồ Chí
Minh 10.000,00

2 2
8 Tây Ninh 21.428,57

7 7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status