Nghiên cứu khoa học " Điều tra đánh giá thực trạng canh tác nương rẫy các tỉnh tây nguyên (1998-1999) " doc - Pdf 14

Điều tra đánh giá thực trạng canh tác nương rẫy các tỉnh tây nguyên (1998-1999)
Đỗ Đình Sâm,
Phạm Đình Tam, Nguyễn Trọng Khôi
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

Tây Nguyên là vùng có diện tích rừng tự nhiên lớn nhất cả nước, chiếm khoảng
30% diện tích rừng toàn quốc, là đầu nguồn của nhiều con sông lớn chảy xuống
miền Trung, Đông Nam bộ và Mê Kông, là nhân tố quan trọng bảo đảm cân bằng
sinh thái để phát triển kinh tế xã hội trong vùng cũng như cả nước. Đây cũng là
vùng kinh tế giàu tiềm năng về phát triển cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc
và nghề rừng.
Nhưng từ sau ngày giải phóng đến nay, diện tích rừng tự nhiên của Tây Nguyên bị
giảm sút nhanh chóng. Bình quân hàng năm mất khoảng 25-27 nghìn ha, là vùng
có diện tích rừng bị mất lớn nhất so với các vùng khác trong cả nước. Một trong
những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là nạn phá rừng làm nương rẫy
của đồng bào dân tộc thiểu số.
Tây Nguyên có khoảng 1.081.088 người, 191.267 hộ là người dân tộc thiểu số bản
địa, chiếm khoảng 32,3% dân số toàn vùng, cộng thêm một bộ phận không nhỏ
dân di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc. Hầu hết trong số này đều sống trong rừng và
quanh rừng, cuộc sống của họ dựa vào chặt đốt rừng làm nương rẫy, vốn là tập
quán lâu đời của họ. Phương thức canh tác này đã không đem lại cho đồng bào
cuộc sống ấm no mà còn phá hủy nguồn tài nguyên rừng quý báu của Tây Nguyên.
Mặc dù từ sau năm 1975 đến nay đã có nhiều dự án vận động định canh định cư,
nhưng chưa đạt được kết quả mong muốn. Nạn du canh du cư vẫn tiếp diễn, rừng
tự nhiên hàng năm vẫn bị giảm sút cả về số lượng và chất lượng. Do vậy, việc tìm
kiếm các giải pháp để bảo vệ rừng tự nhiên ở Tây Nguyên là vấn đề hết sức cấp
thiết.
Từ thực tế đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phê duyệt dự án:"Điều
tra, đánh giá thực trạng ảnh hưởng của phương thức canh tác nương rẫy đến việc
bảo vệ rừng tự nhiên ở Tây Nguyên, nhằm đề xuất các giải pháp kinh tế kỹ thuật
hạn chế canh tác nương rẫy góp phần bảo vệ và phục hồi rừng ở Tây Nguyên".

+ Phân loại đối tượng hộ dựa vào tiêu chuẩn của Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội.
II. Kết quả thực hiện dự án
1. Đánh giá chung về đặc điểm KTXH vùng dự án
* Tiềm năng
- Tây Nguyên là một vùng kinh tế có thế mạnh về đất đai, bình quân diện tích đất
đai là 1,87ha/ người, cao hơn nhiều so với bình quân của cả nước (0,46 ha/ người).
Đất đai màu mỡ, cộng thêm khí hậu ôn hoà thuận lợi cho việc phát triển cây công
nghiệp, cây ăn quả và rau xanh.
- Tây Nguyên là vùng có diện tích rừng tự nhiên và trữ lượng gỗ lớn nhất cả nước.
Động thực vật rừng rất đa dạng và phong phú, nhiều loài quí hiếm được ghi trong
sách đỏ Việt Nam.
- Hệ thống giao thông ở Tây Nguyên rất thuận lợi, với 3 sân bay, các quốc lộ 14,
19, 20, 26, 27, 28 cùng với các tỉnh lộ, huyện lộ và các đường liên thôn, liên xã
dầy đặc đã nối liền Tây Nguyên với mọi miền của Tổ quốc.
* Hạn chế
- Tây Nguyên có đến 37 dân tộc ít người chiếm khoảng 1/ 3 dân số toàn vùng,
trình độ dân trí thấp. Có nhiều buôn, nhiều xã hầu như không có phụ nữ dân tộc
nào biết nói tiếng phổ thông, rất nhiều xã không có các trường trung học cơ sở.
Nhiều hủ tục, tập quán lạc hậu làm hạn chế đến việc tiếp thu các tiến bộ KHKT.
- Tỉ lệ tăng dân số được xếp vào loại lớn nhất của cả nước (3,5%/ năm), trong đó
tăng tự nhiên khoảng 2% còn lại là tăng cơ học. Việc tăng dân số quá nhanh gây
nên sức ép đến tài nguyên thiên nhiên, rừng bị tàn phá nghiêm trọng làm ảnh
hưởng xấu đến môi trường sinh thái.
2. Thực trạng canh tác nương rẫy
* Hiện trạng sử dụng đất vùng dự án
Dự án đã điều tra tổng quát tại 4 tỉnh, 8 huyện và tiến hành điều tra kỹ tại 16 xã
đại diện cho 8 dân tộc bản địa có dân số đông nhất của các tỉnh Tây Nguyên. Kết
quả được tổng hợp trong biểu 1 dưới đây:
Biểu 1. Hiện trạng sử dụng đất


Xã Dak
Roong
8.710 34.09 39,14 666 7,65 4.635 53,21
02

Xã Dak
Môn
6.810 2.151 31,59 725 10,64 3.934 57,77
03

Xã Dak

9.178 8.644 94,18 351 3,82 183 1,99
04

Xã Ngọc
Tụ
17.107 8.896 52,0 555 3,24 7656 44,7
II Gia Lai 1.597.000

850.508 53,26 267.985

16,78 438.507 27,4
05

Xã IA Phí
6.200 140 2,26 1.703 27,47 4.357 70,27
06


5.600 0 0 3.920 70,0 1.680 30,0
11

X· §¨k Ha

24,009 20.639 85,96 582 2,42 2.789 11,6
12

X· Qu¶ng
S¬n
52.633 45.465 86,38 566 1,07 6.602 12,54
IV

L©m
®ång
996.220 664.400 66,69 145.517

14,61 186.303 18,7
13

X· §¹ Sar 24.820 22815 91,92 715 2,88 1.290 5,20
14

X· §¹
T«ng
14,560 12.233 84,02 972 6,67 1.356 9,31
15

X· Phi
Liªng

N
ơng rẫy (ha)
Cây CN lâu
năm (ha)
Cây khác (ha)
TT

Địa ph-
ơng
Tổng
số
(ha)
Diện
tích
% so
với
tổng
số
Diện
tích
% so

với
TS
Diện
tích
% so

với TS
Diện

1055 61,94

0 0
4 M'Nong

1174 447 38,07

454,00

38,67

273 23,25

0 0
5 Ngäc Tô

554,50

87,50 15,78

377 67,99

90 16,23

0 0
6 §¾c Hµ

351 11,60 3,30 319,40

91 20 5,70 0 0

0 0
9 §¾c
M®roh
4815,50
1005,50
20,88

23
87,50
49,58

832,80

17,29

589,70

12,25
10

§¾c Tul

3920,00
5,50 0,14 56,50 1,44
2750,50
70,17

1107,50
28,25
11


23,10

173,60

24,94

42,80 6,15

14

§¹ T«ng

971,50

306,80

31,58

23,80 2,45 372,70

38,36

268,20

27,61
15

Phi liªng



9,60 Nhận xét:
Tây Nguyên có 4 loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu: canh tác lúa nước và
hoa màu, canh tác nương rẫy, trồng cây công nghiệp dài ngày. Ngoài ra, ở một số
xã gần đường, gần đô thị, người dân có trình độ dân trí cao thì có thêm diện tích
đất vườn để trồng cây ăn quả, rau xanh vv Đặc trưng của các loại hình sử dụng
đất của các xã có thể tóm tắt như sau:
+ Về lúa nước và màu:
Hầu hết diện tích này phân bố ở những nơi bằng phẳng, nơi có độ dốc dưới 5
0
, đất
tốt và có điều kiện giữ nước (ít nhất là trong mùa mưa). Nhìn chung số diện tích
này chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số đất nông nghiệp. Tỷ lệ diện tích lúa nước và
màu biến động từ 0,14 % - 45,82 %, bình quân chung là 16,19% so với đất nông
nghiệp. Tuy diện tích lúa nước không lớn nhưng loại hình sản xuất này vẫn mang
tính bền vững cao, là nguồn cung cấp lương thực cần thiết tại chỗ cho người dân.
+ Về canh tác nương rẫy:
Đây là kiểu sử dụng đất chủ yếu của đồng bào dân tộc thiểu số. Theo biểu 2 thì tỷ
lệ đất đang làm nương rẫy so với diện tích đất nông nghiệp bình quân chiếm
41,64%, gấp 2,5 lần đất ruộng lúa và màu. Trong đó bình quân của các xã thuộc
tỉnh Kon Tum là 67,5%, các xã thuộc tỉnh Gia Lai là 48,43%, các xã thuộc tỉnh
Đắk Lắk là 40,97% và thấp nhất là tỉnh Lâm Đồng 9,71%. Kết quả điều tra cũng
cho thấy tỷ lệ đất nương rẫy ở các xã thuộc 2 tỉnh Bắc Tây Nguyên cao hơn 2 tỉnh
Nam Tây Nguyên, chênh lệch giữa 2 vùng là 2,3 lần. Hầu hết các xã có diện tích
nương rẫy nhiều đều là những xã có quỹ đất lớn đặc biệt là đất lâm nghiệp, các xã
vùng sâu vùng xa, trình độ canh tác của người dân còn lạc hậu và việc chuyển đổi
cơ cấu cây trồng còn yếu.

trong khoảng 10 năm trở lại đây. Theo thống kê của Viện Điều tra Quy hoạch
rừng, Tổng Cục địa chính và Chi cục Kiểm lâm các tỉnh thì ở Gia Lai năm 1993 có
23.398 ha đất nương rẫy, năm 1997 có 69.213 ha, tăng 45.815 ha, trung bình mỗi
năm tăng 11.400 ha. Tỉnh Kon Tum 1993 có 8.000 ha nương rẫy nhưng đến năm
1997 tăng lên 15.117 ha, bình quân mỗi năm tăng 1.779 ha. Tỉnh Đắk Lắk năm
1993 có 47.785 đến năm 1997 có 84.033 ha, mỗi năm tăng 9.074 ha. Nhưng mấy
năm gần đây, điều tra thực tế tại một số huyện và xã điển hình cho thấy diện tích
nương rẫy có chiều hướng không tăng hoặc tăng không đáng kể.

Biểu 3. Diễn biến nương rẫy ở một số huyện, xã điều tra
Diện tích nơng rẫy qua các năm (ha) TT

Địa phơng
1995 1996 1997 1998
Tăng giảm
(ha)
so với 95
1 H.K.Bang(Gia
Lai)
7.371,2 7.771,2 9.158,14 7.348,21 - 22,99
2 H.Đắkglei (Kon
Tum)
2.653,4 2.631,5 2.605,1 2.081,62 - 571,78
3 H.CMgar (Đắk
Lắk)
7.625 7.071 6.375 6.350 - 1.275
1 Xã K.roong 1.001, 1.210,3 1.028,4 1.028,4 + 27,4
2 X.Tơ Tung 1.050 821, 797 761,3 - 288,7
3 X.Đắk Kroong 235,5 228,0 215,5 211, - 24,5
4 X,Đắk Môn 185,0 197,5 203 203,0 + 18,0

Các nguồn thu nhập của người dân chủ yếu là từ làm ruộng; nương rẫy; trồng cây
công nghiệp; chăn nuôi; lương, phụ cấp xã hội và các khoản khác như dịch vụ, làm
rừng vv
- Bình quân thu nhập được phân bổ cho các nguồn: canh tác lúa nước chiếm
14,66%, canh tác nương rẫy 26,58%, trồng cây công nghiệp 33,37%, chăn nuôi
6,02% và các khoản thu còn lại chiếm 19,37%. Như vậy, nguồn thu nhập từ cây
công nghiệp và nương rẫy đang chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu của các
xã (xấp xỉ 60%).
- Hai tiểu vùng Bắc và Nam Tây Nguyên có cơ cấu thu nhập khác nhau: các tỉnh
Bắc Tây Nguyên thu nhập chủ yếu từ hai nguồn canh tác nương rẫy và lúa nước
(chiếm 67,68%), trong đó thu nhập từ nương rẫy chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
tổng nguồn thu (45,23%).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status