VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
DƯỚI GÓC ĐỘ HÀNH VI, ỨNG XỬ, GIAO TIẾP
Trần Duy Phương
Đại học Sư phạm TP.HCM
Tóm tắt
Ngày nay, văn hóa nhà trường càng khẳng định vai trò quan trọng, ít nhiều đã có những
biến đổi nhất định để phù hợp với sự thay đổi của xã hội. Trong bài viết này, tác giả
chọn hướng quan sát văn hóa nhà trường dưới góc độ hành vi, ứng xử, giao tiếp; từ đó
tiến hành làm sáng tỏ các khái niệm quan trọng của văn hóa nhà trường và các phạm trù
nêu trên, biểu hiện và một vài biện pháp xây dựng nó trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
Từ khóa: văn hóa nhà trường, hành vi, ứng xử, giao tiếp, đổi mới giáo dục
SCHOOL CULTURE IN CONTEXT OF INNOVATING EDUCATION
FOLLOW THE ANGLE OF BEHAVIOR, BEHAVE AND COMMUNICATION.
Abstract: Today, school culture is more important, with more or less certain changes
that are consistent with the change of society. In this article, the author chooses to
observe the school culture follow the angle of behavior, behave, communication; It then
sheds light on important concepts of school culture and the categories mentioned above,
expressions and some measures to build it in the context of educational innovation.
Key words: School culture, context of innovating education, behavior, behave,
communication.
I. Đặt vấn đề
Nhà trường là một trong những tổ chức đặc biệt của xã hội, là nơi giao thoa những
kinh nghiệm sống, tri thức khoa học và nhân cách giữa các thế hệ với nhau, giữa những
người thực hiện sứ mạng giáo dục và những người được giáo dục. Sản phẩm của nhà
trường tạo ra phải là tinh hoa của thời đại, có thể đáp ứng được những đòi hỏi của xã
hội trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. Nhà trường là một tổ chức hành chính – sư phạm,
có cấu trúc xã hội chặt chẽ, có hệ thống trong các khâu tổ chức, từ quản lý điều hành
đến dạy và học. Nó được xem là kết quả của sự kế thừa và sáng tạo trong cách thức giáo
dục con người một cách có hệ thống, phản ánh bước tiến vượt bậc trong nền văn minh
nhân loại. Tổ chức đặc thù này là sản phẩm của sự lao động và hiển nhiên nó tự mang
trở nên khác biệt và mang tính người hơn. Quá trình xã hội hóa diễn ra liên tục gắn liền
với quá trình phát triển của lịch sử loài người. Như Karl Marx đã từng nhận xét: “Trong
tính hiện thực của nó, con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” [2].
Những thành tựu mà con người đạt được trong quá trình lao động cả về vật chất lẫn
tinh thần được nhiều người nhìn nhận là biểu hiện của văn hóa. “Văn hóa là bao gồm tất
cả những sản phẩm của con người, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía
cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất
như nhà cửa, quần áo, các phương tiện, v.v... Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản
phẩm và đó là một phần của văn hóa.” [3]. Văn hóa là một phạm trù thuộc kiến trúc
thượng tầng, lẽ dĩ nhiên, nó bị chi phối bởi các lĩnh vực khác như chính trị, được quy
định và ràng buộc với hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế. Văn hóa không mang tính cố định
nhưng văn hóa mang bản chất của giai cấp thống trị.
Mặc khác, trong những năm gần đây, người ta thường lấy quan niệm của UNESCO
đưa ra vào năm 1994 để định nghĩa cho văn hóa. Văn hóa cần được đánh giá theo hai
nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp
các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản
sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa
không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của
con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”[4]; còn hiểu theo
nghĩa hẹp thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách
ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”[4]…Cùng
2
với đó, Hồ Chí Minh cũng đã từng xem xét văn hóa là tập hợp những thành tựu mà con
người đạt được trong quá trình tồn tại và phát triển, từ tri thức, tôn giáo, đạo đức, ngôn
ngữ,… đến âm nhạc, pháp luật…Có thể thấy các cách định nghĩa văn hóa của các tác
giả như trên đã có những phần tương đồng. Hầu hết đều nhấn mạnh đến sự tồn tại hai
phương diện vật chất và tinh thần là thành quả thiêng liêng vượt trội mà con người tạo
lập được và chỉ có xã hội loài người mới có. Ở một góc nhìn nào đó, văn hóa có sự đối
tham gia như nhà quản lý, giảng viên, sinh viên, học viên và đội ngũ đào tạo. Quá trình
tương tác này vừa mang tính phổ quát, vừa mang tính đặc thù thể hiện qua các hoạt động
dạy và học, các hoạt động tổ chức, giáo dục và đào tạo” [6]. Văn hóa của nhà trường
phản ánh kết quả của sức lao động miệt mài cả về vật chất lẫn tinh thần và sự phát triển
từng ngày, kết tinh thành truyền thống học đường bền vững.
3
Văn hóa nhà trường biểu hiện cụ thể trong từng cấp học, từ giáo dục mần non đến giáo
dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung cấp nghề, cao đẳng,
đại học… Trong mỗi cơ quan nhà trường khác nhau cũng sẽ có những sự khác biệt tương
đối trong việc thể hiện tính chất văn hóa nhà trường. Tuy nhiên, ở cấp bậc nào của hệ
thống giáo dục, văn hóa nhà trường vẫn có thể được xem xét ở ba phương diện: cách
thức quản lý, hoạt động dạy và hoạt động học.
1.3. Khái niệm “hành vi, ứng xử, giao tiếp trong văn hóa nhà trường”
Đây là các khái niệm được dùng một cách phổ biến trong cuộc sống, được lặp đi lặp
lại đến mức người ta có thể cảm nhận rõ các sắc thái nghĩa của nó để từ đó có sự vận
dụng chuẩn sát trong các loại phong cách chức năng ngôn ngữ nhằm đem lại hiệu quả
cao trong giao tiếp. Những khái niệm này dùng để chỉ những động thái cơ bản trong sự
tồn tại của con người. Hành vi là một chuỗi các hành động lặp đi lặp lại. Hành động là
toàn thể những hoạt động (phản ứng, cách ứng xử) của cơ thể, có mục đích cụ thể nhằm
đáp ứng lại kích thích ngoại giới.
Cùng với hành vi là ứng xử. Ứng xử được hiểu là một biểu hiện của giao tiếp, là sự
phản ứng của con người trước sự tác động của người khác với mình trong một tình
huống nhất định được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người
nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con người với nhau. Xét trên bình diện
nhân cách thì bản chất của ứng xử chính là những đặc điểm tính cách của cá nhân được
thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ và cách nói năng của cá nhân với những người xung
quanh.
riêng và đều muốn người khác thừa nhận. Ngược lại, không ai muốn bản thân bị coi
thường, xúc phạm. Tôn trọng nhân cách là điều kiện cần để tạo được thiện cảm với đối
phương.
Bốn là, quan tâm đến đối tượng giao tiếp, chú ý lắng nghe thông tin mà đối phương
muốn truyền đạt cho mình và những diễn biến tâm lý của họ để có thể thay đổi thái độ
phù hợp. Tuy nhiên, sự quan tâm quá mức có thể gây ra hiệu ứng ngược, làm khó chịu
cho người khác và mất thời gian của mình.
Năm là, đồng cảm trong giao tiếp, biết cách đặt mình vào vị trí của người khác để cảm
nhận họ đang nghĩ gì, làm gì và tại sao lại làm như vậy, để từ đó cùng chia sẻ tâm tư
tình cảm với họ.
Sáu là, giữ chữ tín trong giao tiếp, thận trọng khi đưa ra các lời hứa và lời nói phải
đảm bảo tính trung thực, chính xác. Tạo được sự tín nhiệm sẽ đảm bảo tính bền vững
cho mối quan hệ. Ngược lại, một lần mất tín sẽ vạn lần mất tin.
Trong nhà trường, giao tiếp thường được diễn ra dựa trên các mối quan hệ phổ biến
như quan hệ giữa hiệu trưởng với giáo viên; quan hệ giữa giáo viên với nhau; quan hệ
giữa các học sinh; quan hệ giữa giáo viên và học sinh; quan hệ giữa nhà trường, giáo
viên và phụ huynh. Ngoài ra, còn có các mối quan hệ thứ yếu khác như quan hệ giữa
nhà trường với các tổ công tác bảo vệ; nhà trường với các cơ quan, chức năng…
Văn hóa nhà trường đứng về góc độ hành vi, ứng xử, giao tiếp trong bối cảnh đổi mới
giáo dục hiện nay đã có nhiều biến động cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực. Sự biến động
đó có thể phân tích dựa trên một vài mối quan hệ nêu trên, vấn đề này sẽ được thể hiện
ở phần sau.
2. Vấn đề đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Nhắc đến đổi mới giáo dục là nhắc đến phương châm: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Đó là mục tiêu chiến lược
của Nghị quyết 29 được Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng kí ban hành vào ngày 04 tháng
11 năm 2013. Nghị quyết đã đánh giá lại những mặt đạt được cũng như hạn chế của giáo
dục trong giai đoạn trước đó, nhận thấy một số vấn đề không còn phù hợp với sự phát
triển của xã hội và nhấn mạnh giáo dục cần đổi mới một cách toàn diện.
của các lứa tuổi và các tầng lớp nhân dân với tinh thần xây dựng xã hội học tập. Chất
lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, các chỉ tiêu về phổ cập giáo dục đạt chuẩn
theo hướng bền vững. Chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được
nâng cao. Công tác quản lý giáo dục từng bước đổi mới, công bằng, dân chủ trong giáo
dục dần được cải thiện, nề nếp kỷ cương trong trường học được duy trì.” [8]
3. Hành vi, ứng xử, giao tiếp thể hiện văn hóa nhà trường trong bối cảnh đổi mới
giáo dục căn bản, toàn diện
3.1. Đổi mới hành vi, ứng xử, giao tiếp của người quản lý giáo dục
Công tác quản lý là một trong số những nhân tố quan trọng trong các điều kiện đội
ngũ, cơ sở vật chất, chuẩn đầu vào. Cơ sở vật chất, đầu vào như nhau nhưng nơi đâu
quản lý tốt thì nơi đó có chất lượng tốt. Vì vậy, hành vi, ứng xử và cách thức làm việc
của người quản lý (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) đóng vai trò tiên quyết. Đổi mới hành
vi quản lý, một mặt đòi hỏi hiệu trưởng phải có kế hoạch tổ chức thực hiện chương trình,
mặt khác chỉ đạo tổ chức thực hiện tất cả các hoạt động giáo dục trong nhà trường, điều
kiện cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin, công tác đào tạo, bồi dưỡng… tức là
triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Những
6
điều này chỉ được thực hiện tốt trong mối quan hệ điều phối giữa cấp trên và cấp dưới,
cách thức phân quyền trong khâu quản lý, cách thức ứng xử, giao tiếp tốt giữa hiệu
trưởng và tổ trưởng tổ bộ môn, với giáo viên trực tiếp đứng lớp. Nói cách khác, người
quản lý cần thực hiện các quy tắc sau:
Một là, hiệu trưởng không nên nắm mọi quyền hành trong tay mà cần chia sẻ quyền
lực để viên chức trong nhà trường tham gia vào quá trình đưa ra các quyết định liên quan
đến nhà trường, tham gia điều hành các hoạt động trong nhà trường. Theo thời gian,
hiệu trưởng sẽ giảm dần vai trò hướng dẫn và mang lại cơ hội cho các thành viên khác
phát huy tinh thần trách nhiệm và năng lực của mình. Như vậy, đổi mới quản lý giáo
dục không chỉ đổi mới cách làm việc của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng mà còn đổi mới
từ giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn đến tổ trưởng chuyên môn. Sự phân cấp rất
7
học cao. Tạm nêu ra đây một vài yêu cầu trong bộ quy tắc ứng xử đòi hỏi ở giáo viên
đáp ứng thời kỳ đổi mới giáo dục:
Một là, phẩm chất chính trị
Chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
nhà nước; thực hiện nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật. Không ngừng học tập,
rèn luyện nâng cao lý luận chính trị để vận dụng vào hoạt động giảng dạy, giáo dục và
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Có ý thức tổ chức kỷ luật, nghiêm túc chấp hành sự phân công của cấp trên; có ý thức
vì tập thể sư phạm, tập thể học sinh của nhà trường, luôn phấn đấu vì sự nghiệp chung,
bảo vệ danh dự nhà trường và của ngành, gìn giữ, phát huy truyền thống “dạy tốt-học
tốt”.
Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, tích cực tham gia các hoạt động chính trị,
xã hội.
Hai là, đạo đức nghề nghiệp
Tâm huyết với nghề nghiệp, yêu thích nghề dạy học; có ý thức giữ gìn danh dự, uy tín,
lương tâm nhà giáo; có tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc
sống và trong công tác; có lòng nhân ái, yêu thương, bao dung, độ lượng, đối xử hoà
nhã với học sinh, đồng nghiệp; sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính
đáng của học sinh, đồng nghiệp và cộng đồng.
Tận tụy với công việc được giao; thực hiện đúng điều lệ, quy chế, nội quy của nhà
trường, của ngành.
Công bằng trong giảng dạy và giáo dục, đánh giá khách quan, đúng thực chất năng lực
của người học; thực hành tiết kiệm, chống bệnh thành tích, chống tham nhũng, lãng phí.
Có thiện chí, sẵn sàng tiếp thu các ý kiến đóng góp, đồng thời luôn chân tình đóng góp
ý kiến cho đồng nghiệp, cho lãnh đạo; thường xuyên tự học, tự rèn luyện nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao,
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục.
học tập, tạo cơ hội công bằng đối với tất cả học sinh.
3.3. Đổi mới hành vi, ứng xử, giao tiếp của học sinh
Một bộ phận học sinh, sinh viên ngày nay có những dấu hiệu lệch chuẩn trong hành
vi, ứng xử và giao tiếp với thầy, cô giáo và giữa học sinh với học sinh. Đơn cử như vụ
việc một nam sinh lớp 5 ở Bình Dương nghi bị bạn ép nuốt 9 viên bi, suýt tử vong diễn
ra vào ngày 24 tháng 09 năm 2018 gần đây hay một vài hiện tượng khác như học sinh
cầm gậy đánh thầy ngay trên bục giảng, tình trạng học sinh đánh nhau diễn ra ngày cành
nhiều, đặc biệt là giữa các học sinh nữ với nhau…đã cho thấy cách thức giáo dục nhân
cách, đạo đức của học sinh trong nhà trường cần phải có sự thay đổi nhiều hơn.
Để khắc phục tốt những hiện trạng đó, bên cạnh những quy tắc ứng xử bất thành văn
của học sinh đối với giáo viên, cán bộ công nhân viên, với cha mẹ, người lớn, với bạn
bè… đã được quy định cụ thể trong từng cấp học, tương ứng với từng lứa tuổi, bậc học
khác nhau thì mỗi học sinh, sinh viên cần tăng cường tham gia các hoạt động sinh hoạt
hội trại, liên hoan, các hoạt động tình nguyện vì xã hội, vì cộng đồng nhằm nâng cao
tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái; tích cực trong học tập, tìm kiếm phương pháp
học mới để đạt được hiệu quả cao, tăng cường các kỹ năng về công nghệ thông tin, ngoại
ngữ; rèn luyện phẩm chất từng ngày, nâng cao tinh thần hợp tác quốc tế, chủ động tìm
tòi kiến thức để đáp ứng trước những thay đổi liên tục trong thi cử và đòi hỏi của xã hội;
giữ gìn ngôn ngữ trong sáng trong giao tiếp, không nói tục, chửi bậy, không lố lăng như
mặc quần rách gối khi đến trường,… đối học sinh và cả một bộ phận sinh viên. Mục
đích chính là hoàn thiện nhân cách của bản thân một cách toàn diện, mọi mặt.
9
III. Kết luận
Tiếp cận dưới góc độ hành vi, ứng xử, giao tiếp đã phản ánh được một vài biểu hiện
sơ lược về văn hóa nhà trường. Từ đó có thể thấy văn hóa nhà trường đã có sự phát triển
không ngừng, phần nào bắt kịp được với đổi thay của thời kỳ đổi mới căn bản, toàn diện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, hành vi,
ứng xử, giao tiếp trong văn hóa nhà trường vẫn còn những bất cập hạn chế, mỗi thành