BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÂN KHẤU - ĐIỆN ẢNH HÀ NỘI
TRẦN VĂN HẢI
NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN MÚA ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Sân khấu
Hà Nội - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÂN KHẤU - ĐIỆN ẢNH HÀ NỘI
TRẦN VĂN HẢI
NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN MÚA ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Sân khấu
Mã số: 9 21 02 21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
XHH
Múa đương đại
Múa hiện đại
Múa đương đại Việt Nam
Nghiên cứu sinh
Nghệ thuật biểu diễn
Nghệ thuật biểu diễn múa đương đại
Nghệ thuật đương đại
Nghệ thuật múa đương đại
Nghệ thuật trình diễn
Phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa
Thành phố Hồ Chí Minh
Văn học nghệ thuật
Văn học nghệ thuật Việt Nam
Xã hội hóa
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN..............................................................................................3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.........................................................................4
MỤC LỤC.........................................................................................................5
MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu.................................................................................2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................2
4. Đối tượng nghiên cứu................................................................................3
5. Phạm vi nghiên cứu...................................................................................4
6. Câu hỏi nghiên cứu....................................................................................4
7. Giả thuyết nghiên cứu...............................................................................5
2.5. Biến đổi về bản sắc dân tộc................................................................110
2.6. Kết quả đạt được của nghệ thuật biểu diễn MĐĐVN trong thời kỳ hội
nhập...........................................................................................................113
Tiểu kết Chương 2.........................................................................................122
Chương 3 LUẬN BÀN VỀ PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN MÚA
ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP........................127
3.1. Luận bàn về bản sắc nội sinh và nhân tố ngoại sinh..........................127
3.2. Tiếp thu tinh hoa nghệ thuật biểu diễn MĐĐ thế giới........................136
3.3. Áp dụng kỹ năng, kỹ thuật nghệ thuật múa ngẫu hứng trong xây dựng
tác phẩm, NTBD múa đương đại Việt Nam hiện nay................................142
3.4. Luận bàn về nghệ thuật biểu diễn MĐĐ Việt Nam............................146
3.5. Phát triển xu hướng sáng tác tác phẩm, thể loại múa đương đại........150
3.6. Một số giải pháp và kiến nghị để phát triển nghệ thuật biểu diễn
MĐĐVN trong thời kỳ hội nhập...............................................................161
Tiểu kết Chương 3.........................................................................................173
KẾT LUẬN...................................................................................................175
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................179
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghệ thuật biểu diễn múa hiện đại ra đời, phát triển vào thập niên đầu
của thế kỷ XX ở một số nước có nền nghệ thuật tiên tiến như Mỹ, Pháp, Anh,
Đức, Úc... đã xuất hiện nhiều trào lưu múa mới. Nhiều đề tài tác phẩm múa
phản ánh cảm xúc, tâm lý, tình cảm, tư duy, suy tưởng của con người trong xã
hội hiện đại.
thần con người mới trong nghệ thuật múa đương đại Việt Nam, đáp ứng nhu
cầu thẩm mỹ của nhân dân.
Với ý nghĩa trên, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: Nghệ thuật biểu diễn
múa đương đại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, làm đề tài luận án tiến sĩ
chuyên ngành lý luận và lịch sử sân khấu.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nghệ thuật biểu diễn múa đương đại Việt Nam từ năm 1986
đến 2016, đề tài đã nghiên cứu về sự phát triển của nghệ thuật biểu diễn múa
trong cơ chế nghệ thuật mới. Qua đó, hệ thống hóa cơ sở lý luận nghệ thuật
biểu diễn MĐĐVN, đề xuất các giải pháp phát triển nghệ thuật biểu diễn múa
trong thời kỳ hội nhập, để xây dựng nền nghệ thuật múa Việt Nam tiên tiến,
giàu bản sắc dân tộc và tính quốc tế.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án nghiên cứu thực tiễn phát triển nghệ thuật biểu diễn múa
đương đại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Từ nghệ thuật biểu diễn múa
đương đại để hệ thống hóa cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu, hiển thị các
thành phần sáng tạo trong nghệ thuật biểu diễn múa đương đại; hiện thân sức
biểu cảm và suy tưởng của mỗi thành phần sáng tạo nên tác phẩm ấy nơi
người diễn viên diễn xuất trên sân khấu múa đương đại Việt Nam.
3
Từ đó, rút ra những nguyên lý cơ bản của sáng tạo diễn xuất diễn viên
trong sự kết hợp với các thành phần nghệ thuật và các nhân tố kỹ thuật công
nghệ cùng tham gia sáng tạo, xây dựng tác phẩm múa. Với bốn nhiệm vụ sau:
1. Nghiên cứu cơ sở lý luận nghệ thuật biểu diễn MĐĐVN
2. Khái quát sự phát triển múa đương đại Việt Nam
3. Đánh giá thực trạng nghệ thuật biểu diễn MĐĐVN hiện nay
4. Luận bàn về sự phát triển nghệ thuật biểu diễn MĐĐVN trong thời kỳ
hội nhập, toàn cầu hóa.
hứng trong tác phẩm múa đương đại.
Về thời gian, luận án nghiên cứu nghệ thuật múa từ năm 1986 đến năm
2016. Lý do NCS chọn mốc thời gian từ năm 1986 làm phạm vi nghiên cứu,
vì đây là thời gian đất nước đổi mới toàn diện từ cơ cấu kinh tế, chính trị, xã
hội đến văn hóa nghệ thuật. Thời gian từ 1986 đến 2016 là tính chất tiêu biểu
điển hình của sự hình thành, ra đời và phát triển nền nghệ thuật múa đương
đại Việt Nam theo phương pháp, phong cách nghệ thuật trong sáng tác, biểu
diễn mới, có nhiều điểm phải nghiên cứu, luận bàn về văn hóa nghệ thuật
trong thời kỳ đổi mới và hội nhập - đa dạng văn hóa.
6. Câu hỏi nghiên cứu
6.1. Những trào lưu múa ở các nước phát triển có nền nghệ thuật tiên
tiến đã ảnh hưởng vào múa đương đại Việt Nam như thế nào?
6.2. Tại sao múa đương đại Việt Nam thời kỳ đầu mới hội nhập lại phát
triển xa lạ với truyền thống múa hiện đại Việt Nam ?
6.3. Cần có những giải pháp nào để phát triển nghệ thuật biểu diễn
múa đương đại Việt Nam về múa ngẫu hứng mang tính dân tộc và quốc tế ?
5
7. Giả thuyết nghiên cứu
7.1. Giả thuyết thứ nhất
Do chính sách mở cửa của Nhà nước đã hội nhập văn hóa, nghệ thuật,
trong đó có nghệ thuật biểu diễn múa đương đại từ các nước phát triển trên
thế giới ảnh hưởng vảo nghệ thuật múa ở trong nước, đã tạo ra nền nghệ thuật
múa đương đại Việt Nam tiên tiến, giàu bản sắc dân tộc và quốc tế.
7.2. Giả thuyết thứ hai
Nghệ thuật múa ngẫu hứng - ứng tác, ứng diễn của diễn viên với các
thành phần tham gia sáng tạo, xây dựng tác phẩm nghệ thuật múa là cơ sở để
phát triển nghệ thuật biểu diễn múa đương đại Việt Nam. Thời gian đầu nhiều
tác phẩm biểu diễn múa đương đại còn xa lạ với lối xem múa hiện đại của
hợp văn bản học sách xuất bản, luận văn, luận án, chuyên luận viết nghiên cứu
về múa và nghệ thuật biểu diễn ở trong nước, gồm cả clip biểu diễn và xem
múa trên sân khấu biểu diễn.
Nguồn thứ hai, tư liệu viết về sự hình thành, ra đời múa đương đại, sự
ảnh hưởng tiếp nhận múa đương đại thế giới, phát triển vào nghệ thuật múa
Việt Nam. Đó là các luận văn, luận án, công trình nghiên cứu của nhiều tác giả
trong nước, tiểu luận chuyên đề về múa đương đại Việt Nam, cả những chuyên
luận, luận án về giáo dục đào tạo nguồn lực cho đất nước có liên quan đến đề
tài trong thời kỳ hội nhập, quốc tế hóa.
Nguồn tư liệu thứ ba, những cuốn sách công bố về nghệ thuật biểu diễn
sân khấu: kịch nói, tuồng, chèo, kịch dân ca... và một số chuyên luận đề cập
đến biểu diễn múa dân gian, múa đương đại.
8.2.2. Tư liệu nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu văn bản học những bài nghiên cứu, sách dịch từ các công trình
nghiên cứu của nhiều tác giả người nước ngoài đã nghiên cứu về: múa hiện đại,
7
múa đương đại, múa hậu hiện đại. Thông qua những cuốn sách giới thiệu, nghiên
cứu múa đương đại thế giới phát triển các trào lưu, khuynh hướng sáng tác của tác
giả, nội dung, đề tài tác phẩm múa đương đại của nước ngoài họ đã giải quyết các
vấn đề: Khuynh hướng sáng tác, trường phái múa đương đại về nội dung phản
ánh, khai thác đề tài cuộc sống, kỹ thuật múa đương đại... Trước xu thế quốc tế
hóa, Mỹ và nhiều quốc gia phát triển thực hiện chính sách “xuất khẩu” văn hóa
nghệ thuật đại chúng”. Các trào lưu múa đương đại Mỹ có sức ảnh hưởng, lan tỏa
ở các nước phát triển châu Âu và trên toàn cầu, đây là cơ hội khi Nhà nước mở
cửa, hội nhập, múa đương đại Mỹ và châu Âu đã tràn vào Việt Nam để tạo ra nền
nghệ thuật múa mới.
Về lý thuyết “xuất khẩu” (đây là đề tài công bố của Thomas L. Friedman
do Đại sứ quán Hoa Kỳ công bố năm 2006) về “nhập khẩu” văn hóa nghệ thuật
Nam; đề cập đến những đoàn múa hoạt động biểu diễn nổi bật, phát triển
nhiều tác phẩm múa trước công chúng trong cơ chế kinh tế, nghệ thuật thị
trường. Qua đó, tổng hợp, đánh giá những thành công, hạn chế múa đương đại
hiện nay, để phát triển nghệ thuật biểu diễn múa vì công chúng.
8.2.5. Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Đề tài nghiên cứu nghệ thuật biểu diễn múa đương đại bao gồm nhiều
vấn đề liên quan, đòi hỏi tiếp cận liên ngành khoa học. Nghiên cứu ngôn ngữ
nghệ thuật học, lịch sử, mỹ học, sân khấu biểu diễn... để nhận định, đề xuất
các giải pháp phát triển nghệ thuật biểu diễn đảm bảo tính khách quan, khoa
học vì sự phát triển nghệ thuật múa trong cơ chế nghệ thuật thị trường thời kỳ
hội nhập, toàn cầu hóa.
8.2.6. Phương pháp nghiên cứu so sánh
Nghiên cứu đánh giá, so sánh qua các văn bản từ luận án, luận văn đến
các chuyên luận khoa học về nghệ thuật biểu diễn múa đương đại Việt Nam. So
sánh làm rõ cơ sở lý luận nghệ thuật biểu diễn múa đương đại, làm rõ các thành
tố cơ bản của nghệ thuật biểu diễn và tính hiệu quả của nó trước công chúng.
9
9. Tính mới của Luận án
Những đóng góp mới mà Luận án đưa ra có tính khoa học, thực tiễn,
khả thi cao, nó được áp dụng vào sự phát triển nghệ thuật biểu diễn múa
đương đại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, toàn cầu hóa. Đó là thực tiễn
khoa học:
Thứ nhất, mới về đề tài nghiên cứu nghệ thuật biểu diễn múa đương đại
trong thời kỳ hội nhập, bước đầu hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghệ thuật
biểu diễn MĐĐVN với năm thành phần cơ bản sáng tạo của sân khấu nghệ
thuật múa.
Thứ hai, xây dựng cơ sở lý luận múa ngẫu hứng mang tính khoa học và
thực tiễn để hoàn thiện tác phẩm múa đương đại có giá trị khoa học, nghệ thuật
- Xây dựng nền nghệ thuật biểu diễn múa Việt Nam tiên tiến, giàu bản
sắc dân tộc và tính quốc tế.
- Luận án sẽ làm tài liệu tham khảo cho những nhà nghiên cứu, các
trường đại học, cao đẳng, các cơ sở đào tạo nghiên cứu nghệ thuật múa nói
chung và múa đương đại Việt Nam nói riêng trong thời kỳ hội nhập, toàn cầu
hóa.
11
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN MÚA ĐƯƠNG ĐẠI
1. Những nghiên cứu chung về nghệ thuật biểu diễn
Nghệ thuật biểu diễn trong thời kỳ hội nhập đã đổi mới phương pháp
nghệ thuật biểu diễn sân khấu, ngôn ngữ diễn viên trong mối quan hệ hành
động biểu cảm đồng diễn, đồng sáng tạo với nhiều loại hình nghệ thuật mới,
điều mà trước đổi mới năm 1986 chưa từng xuất hiện trên sân khấu biểu diễn
nghệ thuật múa hiện đại.
Sau đổi mới, hội nhập, nghệ thuật biểu diễn phát triển mạnh các hình
thức, thể loại: Từ đổi mới tác phẩm, nghệ thuật biểu diễn đã có cơ hội thể hiện
theo phương thức nghệ thuật mới trên sân khấu trước công chúng trong thời
kỳ hội nhập, toàn cầu hóa.
2. Nghệ thuật biểu diễn múa đương đại Việt Nam thời kỳ hội nhập
Nghệ thuật biểu diễn múa đương đại Việt Nam đã đổi mới kỹ thuật,
kiến trúc sân khấu, nghệ thuật kỹ thuật diễn viên và biên đạo múa. Về kỹ
thuật múa thay đổi từ bắt chước, mô phỏng, tái tạo hiện thực, mô tả, tự sự trữ
tình, phản ánh hiện thực... của múa hiện đại đã trở thành một phương pháp
nghệ thuật của riêng múa hiện đại, múa đương đại bắt đầu bằng những thủ
pháp kỹ thuật, ngôn ngữ, nhịp điệu múa mới:
Thứ nhất, về ngôn ngữ, nhịp điệu, luật động, tuyến múa: Ngôn ngữ
hành động múa ngẫu hứng, vận động theo lực đàn hồi con lắc (nghĩa là lực
tiên của múa hậu hiện đại). Nơi xb: New York: Limelight Editions, năm
1986. Conton, Writings on Dance (Vũ đạo của Conton). Nơi xb: Luân Đôn,
năm 1975. Flitch, J.E. Crawford, Modern Dancing and Dancers (Múa và vũ
công hiện đại của Flitch, J.E. Crawford)- Nơi xb: Luân Đôn năm 1912.
Vigman, Mary, The Language of Dance (Ngôn ngữ của điệu nhảy của
Vigman, Mary) - Nơi xb: Đại học Báo chí Wesleyan, năm 1966. Live, And,
13
Contemporary dance (Múa đương đại) - Nơi xb: New York, năm 1978.
Jordan, New contemporary and dance (Bước tiến mới của múa đương đại) Nơi xb: Luân Đôn: Dance Books, tháng 12-1980. Deborah Jowitt, Dance
Resize the drama review (Phê bình những vở kịch múa - Nơi xb: Luân Đôn:
Dance Books, năm 1980. Contemporary imitation choreography (Tác giả, tác
phẩm múa đương đại) [106]; Portrait of the United States (Chân dung nước
Mỹ) [104]; Xã hội và các giá trị của Mỹ (Society and values American) [64]....
Đây là những sách chuyên khảo về múa, các tác giả đã giới thiệu nét khái
quát tiêu biểu về hoàn cảnh ra đời của múa hiện đại từ bà Isadora Duncan, xuất
hiện vào năm 1913, đến các tác giả Merce Cuningham, Graham, Limon, Release
(Giải phóng cơ thể) của Emile Jacques... Các diễn viên, biên đạo đã từng bước
phát triển múa hiện đại tiến lên múa đương đại.
Sau đó, vào năm 1970 [68], ở New York nổi lên khuynh hướng mới,
gọi là “sự nổi loạn” của múa diễn ra dưới sự bảo trợ của Nhà hát Judson
Dance, do các tác giả biên đạo múa “thông minh, và bất kính”, họ muốn biểu
cảm ngôn ngữ múa bằng nghệ thuật hậu hiện đại. Đó là các tác giả: Yvonne
Rainer, Trisha Brown, Steve Paxton, David Gordon, Lucinda Childs, Elaine
Summers, Robert Rauschenberg, Alex Hay, Deborah, Simone Forti...
Nhóm tác giả biên đạo này đã tạo thành những làn sóng nghệ thuật múa
hậu hiện đại đầu tiên trên đất nước Hoa Kỳ và làm đổi mới nền nghệ thuật
múa đương đại, sang đến những năm đầu thế kỷ XXI được coi là chuẩn mực
của thời đại công nghệ, công nghiệp văn hóa trong nghệ thuật biểu cảm thông
triển múa hậu hiện đại trải qua nhiều biến cố của dư luận trong giới phê bình
nghệ thuật, sau đó mới được công nhận là một bước tiến mới của nghệ thuật
múa đương đại, múa hậu hiện đại đã mở ra trào lưu và nền nghệ thuật múa
hậu hiện đại - Nó là nghệ thuật của thế kỷ XXI.
Qua đó, các nhà lý luận đã chỉ ra một tầm nhìn tổng quan các xu thế múa
đương đại, múa hậu hiện đại tại các nước: Anh, Mỹ, Nhật Bản, Australia..., có
15
tác phẩm thành công, có trào lưu tác phẩm chưa đạt, bởi nó chỉ mang tính hình
thức sáo rỗng... không được công nhận trong giới nghiên cứu và công chúng ở
các nước phát triển.
Dù lượng thông tin thu được chưa bám sát thực tiễn múa mấy năm gần
đây, nhưng qua những công trình trên, NCS đã đánh giá được cụ thể các
khuynh hướng múa hiện đại, múa đương đại, múa hậu hiện đại đang phát triển
ở Mỹ cùng các nước phương Tây và châu Âu... Những cuốn sách chuyên luận
đó đã giúp cho NCS có cái nhìn tổng quan về nghệ thuật múa của thế giới
đang thịnh hành ở nhiều nước và mang tầm ảnh hưởng trên toàn cầu với các
trường phái nghệ thuật múa đương đại, múa hậu hiện đại, phát triển ấn tượng
và sôi động trên thế giới...
Phần kỷ yếu hội thảo ở Mỹ và nhiều nước chưa thể khai thác được, vì
họ rất hiếm khi hội thảo nghệ thuật, thường tổ chức trao đổi các chuyên đề
hẹp, nên khó thấy các tư liệu hội thảo. Theo tư liệu mà NCS hiện có thì duy
nhất một lần các biên đạo múa tổ chức hội thảo lần đầu tiên tại Mỹ, do biên
đạo múa Anna Halprin và Doris Humphrey tổ chức với tiêu đề: Mobile
Scotland Ballet (Di động của Scotland Ballet), cuộc hội thảo diễn ra vào ngày
16-9-1974, họ không in kỷ yếu như ở nước ta [106, tr.87], còn lại thường tổ
chức trao đổi hội thảo, không in thành sách tư liệu. Các nước phát triển
thường tổ chức các seminar về nghiên cứu, họ cho đây là một báo cáo chuyên
đề tuyệt vời để trao đổi, hội thảo, mọi người trao đổi sâu sắc về một chuyên
Rosemary Butcher, Lesly-Anne Sayers: After the last sky (Sau bầu trời cuối
cùng), năm 1996 của Lesly-Anne Sayers, Judith Jamison Cry, năm 1988,
(Tiếng kêu), Revention (Sách khải huyền), năm 1989 của Judith Jamison. Biên
đạo, diễn viên múa nổi tiếng Mỹ: Robert Moses: Union Fraternal, năm 2008,
Speech, năm 2016 (Lời nói) ...
Những vở kịch múa nêu trên của Mỹ, Australia, Pháp, Ý, Nhật... đã
phản ánh hiện thực phong phú, cảm xúc về con người trong xã hội đương đại,
17
bằng nhiều phương pháp nghệ thuật khác nhau để biểu hiện cái đẹp của ngôn
ngữ hình tượng múa đương đại và múa hậu hiện đại. Múa đương đại của các
nước phát triển biểu cảm phong phú nội dung, hình thức nghệ thuật, về nội
dung từ hoài niệm đến tâm trạng bất an của con người trong xã hội đương đại.
Phần độc đáo của những điệu múa Ấn Độ: Điệu Kathak (Một câu
chuyện), Kathakali Mohiniattam, Ossi, Bhangra, Garba (tứ tấu), Lamani (ngũ
tấu), Bollywood (múa bụng), Kịch múa Bharatanatyam...
Đặc trưng của những tác phẩm múa Ấn Độ mang đến vẻ đẹp cơ thể con
người bằng những động tác mềm dẻo như múa tự sự, kể chuyện bằng ngôn
ngữ tạo hình trên hai bàn tay, hay múa bụng, múa uốn dẻo.... Ngôn ngữ và các
chuyển động động tác múa tinh xảo, điêu luyện của vũ công Ấn Độ đã tạo ra
vẻ đẹp của nghệ thuật múa dân gian, hoặc múa đương đại điêu luyện và
chuyên nghiệp.
Các vở múa trên đã thể hiện nhiều khuynh hướng sáng tác, biểu diễn
múa đương đại ở Anh, Pháp, Mỹ, Australia, Ấn Độ... đang phát triển đại
chúng hóa, pha trộn ngôn ngữ múa chuyên nghiệp với ngôn ngữ, nhịp điệu
các điệu nhảy bình dân với múa ngôn ngữ kịch hình thể mang nội dung tinh
thần thời đại như các vở múa: Thời gian, Đổ bộ, Rùng rợn, Bến đỗ... Múa
đương đại những năm cuối thế kỷ XX đã mở đường cho một thời kỳ mới về
biểu cảm nội dung, hình thức thể loại và nghệ thuật biểu diễn múa.
thực tiễn thời gian làm việc ở các đơn vị múa tại Việt Nam. Nhận định của bà
căn cứ vào những buổi dựng múa sáng tạo, biểu diễn với các diễn viên múa
Việt Nam ở Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam, Nhà hát Tuổi Trẻ, Trường Cao
đẳng Múa Việt Nam (nay là Học viện Múa Việt Nam), bằng con đường hợp
tác văn hóa để giao lưu, hội nhập nghệ thuật, thông qua các dự án văn hóa
nghệ thuật tại nhà hát và một số đơn vị nghệ thuật ở Hà Nội.