VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN ANH TÚ
THñ TôC GI¶I QUYÕT Vô VIÖC H¹N CHÕ
C¹NH TRANH ë VIÖT NAM HIÖN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN ANH TÚ
THñ TôC GI¶I QUYÕT Vô VIÖC H¹N CHÕ
C¹NH TRANH ë VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 9. 38 01 07
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NHƢ PHÁT
HÀ NỘI - 2019
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................................................................... 65
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ
VIỆC HẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY................................................................................................... 66
3.1. Thực trạng các quy định pháp luật về chủ thể tiến hành và tham gia thủ
tục giải quyết vụ việc hạn chế cạnh tranh và thực tiễn áp dụng..........................66
3.2. Thực trạng các quy định pháp luật trong giai đoạn tiếp nhận, đánh giá
các thông tin, khiếu nại làm cơ sở pháp lý cho việc điều tra vụ việc hạn chế
cạnh tranh và thực tiễn áp dụng.......................................................................... 81
3.3. Thực trạng các quy định pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ việc hạn
chế cạnh tranh và thực tiễn áp dụng.................................................................... 92
3.4. Thực trạng các quy định pháp luật trong giai đoạn xử lý vụ việc hạn
chế cạnh tranh và thực tiễn áp dụng.................................................................. 112
3.5. Thực trạng các quy định pháp luật trong giai đoạn giải quyết khiếu nại
quyết định xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, giải quyết vụ án hành chính về
quyết định giải quyết khiếu nại và thực tiễn áp dụng........................................121
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3.................................................................................126
Chƣơng 4: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC
HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY...................................127
4.1. Định hƣớng hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc hạn chế
cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay........................................................................127
4.2. Các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thủ
tục giải quyết vụ việc hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay........................132
KẾT LUẬN CHƢƠNG 4.................................................................................147
KẾT LUẬN CHUNG..........................................................................................149
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
PĐT
Phiên điều trần
QLCT
Quản lý cạnh tranh
TPP
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dƣơng
TTCT
Tố tụng cạnh tranh
UBCTQG
Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia
UNCTAD
Ủy ban Thƣơng mại và Phát triển Liên hợp quốc
VVCT
Vụ việc cạnh tranh
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 5
Số vụ việc HCCT đƣợc điều tra, xử lý tính đến năm 2016
7PL
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cạnh tranh là món quà quý giá mà Thƣợng đế ban cho con ngƣời để loài
ngƣời có đƣợc buổi văn minh nhƣ ngày nay [49, tr. 15-19], chính vì vậy, bất kỳ
quốc gia nào nếu đã yêu mến kinh tế thị trƣờng thì đều phải yêu mến và hết sức bảo
vệ cạnh tranh. Để hoạt động cạnh tranh diễn ra có trật tự, đúng chuẩn mực và phù
hợp với đạo đức của ngƣời kinh doanh, ngƣời ta ban hành các quy định pháp luật
chống cạnh tranh không lành mạnh. Để bảo vệ và duy trì hoạt động cạnh tranh trong
trạng thái có lợi nhất cho nền kinh tế, doanh nghiệp và ngƣời tiêu dùng, kiểm soát
và kiềm tỏa các hành vi có mục đích phá hủy, ngăn cản cạnh tranh, các quốc gia chú
trọng tới việc xây dựng chính sách và pháp luật chống HCCT. Chính vì vai trò quan
trọng trong điều hành kinh tế, pháp luật chống HCCT đƣợc coi là “Hiến pháp” của
nền kinh tế [46, tr. 796]. Đồng thời, để pháp luật cạnh tranh đƣợc thực thi một cách
có hiệu quả trên thực tế, kinh nghiệm thế giới cũng đã chỉ ra rằng mỗi quốc gia cần
xây dựng cho mình một hệ thống cơ quan QLCT đủ mạnh và một quy trình tố tụng
hợp lý để điều tra, xử lý các hành vi phản cạnh tranh.
Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của công cụ luật cạnh tranh trong việc tạo
lập môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh, loại bỏ các hành vi phản cạnh tranh, bảo vệ
thị trƣờng, ngày 03.12.2004, Quốc hội nƣớc CHXHCN Việt Nam đã chính thức
thông qua Luật Cạnh tranh (2004) và Đạo luật này (Đạo luật đầu tiên về cạnh tranh
ở Việt Nam) bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01.07.2005. Tuy nhiên, với những hạn chế
về kinh nghiệm và thực tiễn xây dựng pháp luật cạnh tranh, các nhà làm luật tại Việt
công trình nghiên cứu về TTCT nói chung và thủ tục giải quyết các vụ việc HCCT
nói riêng. Năm 2017, Bộ Công Thƣơng sau khi đƣợc giao là đơn vị chủ trì việc xây
dựng Dự thảo Luật Cạnh tranh sửa đổi đã có một số công trình nghiên cứu, báo cáo
tổng kết nhƣ: Báo cáo tổng kết 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh; Báo cáo kinh
nghiệm quốc tế: so sánh pháp luật cạnh tranh một số nƣớc trên thế giới - bài học
kinh nghiệm và đề xuất một số nội dung cơ bản quy định trong Dự thảo Luật Cạnh
tranh (sửa đổi) của Việt Nam; Báo cáo mô hình cơ quan QLCT - Kinh nghiệm quốc
tế và bài học cho Việt Nam… Các công trình này có đề cập tới thủ tục giải quyết vụ
việc HCCT nhƣng còn mang tính khái quát và chủ yếu là mô tả kinh nghiệm nƣớc
ngoài chứ chƣa đi vào đánh giá chi tiết về từng bƣớc, từng giai đoạn của thủ tục tố
tụng cũng nhƣ sự tham gia của các chủ thể có liên quan vào việc giải quyết vụ việc
HCCT để từ đó có những định hƣớng và giải pháp hợp lý cho việc hoàn thiện.
Xuất phát từ những phân tích kể trên, có thể thấy, trong bối cảnh ở Việt Nam
hiện nay, để hoàn thiện các quy định pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT,
nhất thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề có tính chất lý luận
của loại thủ tục này, đánh giá lại một cách khách quan những ƣu và nhƣợc điểm
của quy trình TTCT hiện có, đồng thời tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm của các nƣớc
có lịch sử lâu đời về xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật cạnh tranh trên thế
giới, trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp khả thi, tối ƣu và triệt để cho việc hoàn
thiện các quy định pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ việc HCCT theo lộ
2
trình lâu dài và kiến nghị những giải pháp trƣớc mắt cho việc xây dựng các văn bản
hƣớng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh (2018), đảm bảo nâng cao hiệu quả thực thi
pháp luật cạnh tranh.
Những nhiệm vụ đó của khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay cũng chính là
động lực và tâm huyết để tôi lựa chọn đề tài “Thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở
Việt Nam hiện nay” làm hƣớng nghiên cứu cho Luận án tiến sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3
thẩm quyền giải quyết vụ việc HCCT và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của họ
trong từng giai đoạn của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT; (IV) Các tổ chức, cá
nhân tham gia vào thủ tục giải quyết vụ việc HCCT và quyền, nghĩa vụ của họ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án chỉ nghiên cứu về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT
với tính chất là các bƣớc, các giai đoạn tố tụng đƣợc thiết lập theo trình tự với sự
tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo thẩm quyền đƣợc pháp luật cạnh
tranh quy định nhằm giải quyết vụ việc HCCT. Do đó, Luận án sẽ không nghiên cứu
về các vấn đề sau:
+ Thủ tục xin hƣởng miễn trừ trong trƣờng hợp thỏa thuận HCCT hoặc tập
trung kinh tế;
+ Thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh không lành mạnh;
+ Thủ tục kiểm soát hành vi tập trung kinh tế và xử lý hành vi vi phạm các
quy định về tập trung kinh tế;
+ Việc xử lý bằng pháp luật hình sự đối với hành vi HCCT.
- Về thời gian: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài trong giai đoạn từ
năm 2004 (khi Luật Cạnh tranh (2004) đƣợc ban hành) cho đến nay.
- Về không gian: Ngoài Việt Nam, Luận án còn tìm hiểu, so sánh pháp luật
về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT của một số quốc gia có kinh nghiệm trong xây
dựng và thực thi pháp luật cạnh tranh hoặc một số quốc gia có điều kiện tƣơng đồng
nhƣ Việt Nam khi chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang kinh tế thị
trƣờng nhƣ: Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Nga...
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Luận án nghiên cứu trên cơ sở lí luận là quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc
trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và phƣơng pháp luận duy
vật biện chứng, phƣơng pháp duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng
loại vụ việc này ở Việt Nam; đánh giá mức độ phù hợp hay không phù hợp, tính khả
thi của các quy định có liên quan.
5. Đóng góp mới về khoa học của Luận án
Thủ tục giải quyết vụ việc HCCT là vấn đề phức tạp cả về lý luận và thực
tiễn. Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về thủ tục
giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam hiện nay, Luận án đóng góp một số nhận thức
mới nhƣ sau:
- Hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận riêng về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT
bên cạnh hệ thống cơ sở lý luận chung về TTCT, bao gồm: Các khái niệm vụ việc
HCCT, thủ tục giải quyết vụ việc HCCT; các đặc trƣng pháp lý và các nguyên tắc
cơ bản của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT; cơ sở pháp lý làm phát sinh vụ việc
HCCT; thiết chế có thẩm quyền giải quyết vụ việc HCCT; nội dung của thủ tục giải
quyết vụ việc HCCT;
- Đƣa ra những nhận xét, đánh giá về thực trạng các quy định pháp luật liên
quan tới từng giai đoạn cụ thể của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT bao gồm: Giai
đoạn điều tra vụ việc HCCT; giai đoạn xử lý vụ việc HCCT; giai đoạn giải quyết
5
khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc HCCT và vụ kiện hành chính về quyết định
giải quyết khiếu nại theo Luật Cạnh tranh (2004) và Luật Cạnh tranh (2018);
- Đề xuất định hƣớng và các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu
quả áp dụng pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án
Kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật về thủ tục
giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của Luận án
cũng có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu cho các nhà lập pháp và thực thi pháp
luật cạnh tranh, là tài liệu tham khảo cho các cơ sở nghiên cứu và giảng dạy về
chính sách, pháp luật cạnh tranh.
7. Kết cấu của Luận án
Mỹ Loan, Nxb Chính trị Quốc gia, 2005; “Giáo trình Luật Cạnh tranh” của tác giả
Tăng Văn Nghĩa, NXB Giáo dục, 2009; Chuyên khảo “Pháp luật cạnh tranh tại
Việt Nam” của các tác giả Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc và Nguyễn Ngọc Sơn,
NXB Tƣ pháp, 2006…Về cơ bản, các công trình này đều thống nhất cho rằng:
VVCT là vụ việc có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật Cạnh tranh bị cơ quan Nhà
nƣớc có thẩm quyền điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. TS. Đinh Thị Mỹ
Loan trong Bình luận khoa học Luật Cạnh tranh thì cho rằng: TTCT là hoạt động
của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo trình tự, thủ tục giải quyết, xử lý VVCT theo quy
định của Luật Cạnh tranh. Đặc biệt, các tác giả Nguyễn Nhƣ Phát và Lê Anh Tuấn
trong bài viết “Một số quy định về TTCT theo Luật Cạnh tranh Việt Nam” còn chỉ ra
các đặc trƣng pháp lý cơ bản của TTCT: Nếu xét về thẩm quyền vụ việc, TTCT là
tố tụng liên quan đến VVCT; xét về chủ thể tham gia tố tụng, TTCT là hoạt động
của cơ quan hành chính – tƣ pháp, là một trình tự, thủ tục hành chính đặc thù.
Về bản chất pháp lý của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT, trong số các công
trình nghiên cứu về TTCT, một số nghiên cứu đã đƣa ra nhận định ở những mức độ
khác nhau về bản chất pháp lý của TTCT. PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa trong “Chuyên
7
khảo Luật kinh tế” cho rằng TTCT là loại thủ tục tố tụng đặc biệt có tính tranh tụng
cao, có sự pha trộn giữa thủ tục tố tụng dân sự với thủ tục tố tụng hành chính và tố
tụng hình sự. Quan điểm này còn có thể tìm thấy trong một số công trình nghiên
cứu khác nhƣ “Giáo trình Luật Cạnh tranh” của tác giả Tăng Văn Nghĩa NXB
Giáo dục, 2009; Sách tham khảo “Bình luận khoa học Luật Cạnh tranh” của TS.
Đinh Thị Mỹ Loan, Nxb Chính trị Quốc gia, 2005; Bài viết “Những vấn đề lý luận
cơ bản của Luật Cạnh tranh” của các tác giả Dƣơng Đăng Huệ, Nguyễn Hữu
Huyên trên Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật số 9/2004. Tuy nhiên, những nghiên cứu
này mới chỉ có tính chất gợi mở cho những nghiên cứu tiếp theo vì chƣa có đƣợc
một sự đánh giá toàn diện về bản chất pháp lý, các đặc trƣng pháp lý của thủ tục
biệt là ở các quốc gia chuyển đổi nhƣ Trung Quốc hay Việt Nam.
- Tình hình nghiên cứu lý luận về các chủ thể thực hiện và tham gia vào
thủ tục giải quyết vụ việc HCCT
Hiện tại, không có công trình nghiên cứu trong nƣớc nào nghiên cứu chuyên sâu về
các chủ thể thực hiện và tham gia thủ tục giải quyết vụ việc HCCT, tuy nhiên có khá nhiều
công trình nghiên cứu đề cập tới các chủ thể tiến hành và tham gia TTCT hoặc các chủ thể
tham gia giải quyết VVCT. Về nội dung này, tác giả Đinh Thị Mỹ Loan trong cuốn “Bình
luận khoa học Luật Cạnh tranh” và tác giả Tăng Văn Nghĩa trong
“Giáo trình Luật Cạnh tranh” đều thống nhất cho rằng, ở Việt Nam hiện nay, cơ quan
tiến hành TTCT gồm có: Cục QLCT và HĐCT, ngƣời tiến hành TTCT gồm có: Thành
viên HĐCT; Thủ trƣởng cơ quan QLCT; Điều tra viên và Thƣ ký PĐT, ngƣời tham gia
TTCT gồm có: Bên khiếu nại; bên bị điều tra; luật sƣ; ngƣời làm chứng; ngƣời giám
định; ngƣời phiên dịch; ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Trong số các chủ thể thực hiện và tham gia vào thủ tục giải quyết vụ việc
cạnh tranh, có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc dành sự quan
tâm đặc biệt tới loại chủ thể là cơ quan tiến hành TTCT. Các công trình nghiên cứu
này chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá về bản chất pháp lý của cơ quan QLCT,
cách thức tổ chức và thẩm quyền hoạt động của loại cơ quan này. Có thể liệt kê ra
rất nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề này nhƣ: Bài viết “Về pháp luật cạnh
tranh và kiểm soát độc quyền” của tác giả Phạm Duy Nghĩa đăng trên Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 5/2001; “Chuyên khảo Luật kinh tế” của tác giả Phạm Duy
Nghĩa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004; Bài viết “Những thách thức pháp lý
đặt ra đối với việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan QLCT ở nước ta hiện
nay” của tác giả Bùi Nguyên Khánh đăng trên Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật, số 9,
năm 2004; Bài viết “HĐCT trong pháp luật Cộng hoà Pháp và đề xuất một mô hình
thích hợp cho Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hữu Huyên trên Tạp chí Thông tin
Khoa học Pháp lý, Viện KHPL - Bộ Tƣ pháp số tháng 5/2004; Bài viết “Các cơ
quan có thẩm quyền áp dụng Luật Cạnh tranh” của các tác giả Dƣơng Đăng Huệ,
án chuyên biệt. Thủ tục xét xử mang tính tranh tụng với sự tham gia của các đƣơng
sự, luật sƣ và cơ quan công tố. Một số ý kiến khác lại cho rằng cơ quan cạnh tranh
là một thiết chế có chức năng quản lý, điều tiết hoạt động cạnh tranh, vì vậy, nhất
thiết phải là cơ quan hành chính đƣợc tổ chức dƣới hình thức một Cục thuộc Bộ
hay một Tổng cục trực thuộc Chính phủ. Tuy nhiên, thực tiễn tổ chức và hoạt động
của phần lớn các cơ quan cạnh tranh trên thế giới hiện nay lại cho thấy: Loại cơ
quan này mang bản chất pháp lý là một thiết chế “lƣỡng tính”, nửa hành chính –
nửa tƣ pháp. Cơ quan cạnh tranh tuy đƣợc đặt trong bộ máy hành chính nhƣng việc
đƣa ra phán quyết lại hoàn toàn độc lập.
- Tình hình nghiên cứu lý luận về trình tự và các giai đoạn của thủ tục
giải quyết vụ việc HCCT
Nghiên cứu về trình tự và các giai đoạn của thủ tục giải quyết VVCT tại Việt
Nam (trong đó bao gồm cả vụ việc HCCT) có một số công trình nghiên cứu nhƣ:
Bài viết “Một số quy định về TTCT theo Luật Cạnh tranh Việt Nam” của các tác giả
10
Nguyễn Nhƣ Phát, Lê Anh Tuấn trên Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật, số 213,
1/2006; “Giáo trình Luật Cạnh tranh”, Chủ biên PGS.TS. Tăng Văn Nghĩa, NXB
Giáo dục, 2009; Sách chuyên khảo “Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam” của các tác
giả Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc và Nguyễn Ngọc Sơn, NXB Tƣ pháp, 2006.
Về cơ bản, các công trình này đều thống nhất cho rằng thủ tục giải quyết vụ việc
HCCT hiện nay ở Việt Nam bao gồm các giai đoạn: Tiếp nhận thông tin hoặc đơn
khiếu nại về vụ việc; điều tra vụ việc; mở PĐT để giải quyết vụ việc; giải quyết
khiếu nại đối với Quyết định xử lý vụ việc HCCT (nếu có); giải quyết vụ kiện hành
chính đối với Quyết định giải quyết khiếu nại của HĐCT (nếu có).
Các công trình nghiên cứu về trình tự và các giai đoạn của thủ tục giải quyết
VVCT tại các nƣớc trên thế giới có thể kể tới: “Luật Cạnh tranh của Cộng hòa Pháp
và EU”, của tác giả Nguyễn Hữu Huyên, NXB Tƣ pháp năm 2004; “Chính sách và
thực tiễn pháp luật cạnh tranh của Cộng Hòa Pháp”, Tập 1 của tác giả Dominique
1.1.2. Các nghiên cứu thực trạng pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc
hạn chế cạnh tranh và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam hiện nay
- Tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật về thủ tục giải quyết vụ
việc HCCT ở Việt Nam hiện nay
Nghiên cứu về địa vị pháp lý và thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ
thống cơ quan cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay gồm có các công trình tiêu biểu
như: Cục QLCT - Bộ Công Thƣơng, Kỷ yếu tọa đàm “Bản chất pháp lý và các yêu
cầu cơ bản đối với cơ quan QLCT - Bài học cho Việt Nam”, tháng 5.2009; Cục
QLCT và Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), “Báo cáo rà soát Luật Cạnh
tranh Việt Nam”, trong khuôn khổ của Dự án “Nâng cao năng lực thực thi Luật và
chính sách cạnh tranh” giữa Cục QLCT và Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản; Dƣơng
Đăng Huệ, Nguyễn Hữu Huyên, “Mô hình cơ quan QLCT của Việt Nam”, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp số 1/2004; Dƣơng Đăng Huệ, Nguyễn Hữu Huyên, “Các cơ quan
có thẩm quyền áp dụng Luật Cạnh tranh”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 9/2006;
Trƣơng Hồng Quang, “Cơ quan QLCT ở Việt Nam – Những bất cập và phương hướng
hoàn thiện”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 6, 3/2011 và đặc biệt là một tập hợp các
công trình nghiên cứu của Bộ Công Thƣơng trong quá trình soạn thảo Luật Cạnh tranh
(2018) với vai trò là cơ quan chủ trì soạn thảo, bao gồm: Báo cáo tổng kết 12 năm thi
hành Luật Cạnh tranh, 2017; Báo cáo kinh nghiệm quốc tế: So sánh pháp luật cạnh
tranh một số nước trên thế giới - bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nội dung cơ
bản quy định trong Dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi) của Việt Nam, 2017; Báo cáo
mô hình cơ quan QLCT - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam, 2017; Báo cáo
đánh giá tác động của Dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi), 2017; Tờ trình Chính phủ về
Dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi), 2017.
Về địa vị pháp lý của cơ quan cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay, các nghiên
cứu kể trên đã chỉ ra một số nghi ngại về tính độc lập của Cục QLCT và HĐCT khi
tiến hành giải quyết các vụ việc HCCT. Trong điều kiện nƣớc ta hiện nay, các
doanh nghiệp Nhà nƣớc đang giữ hầu hết các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, do
đó, đối tƣợng điều tra của Cơ quan QLCT có thể sẽ là các Tổng công ty Nhà nƣớc,
các Tập đoàn kinh tế lớn của Nhà nƣớc. Nếu không có một vị thế đủ mạnh thì Cơ
chứng cứ về hành vi vi phạm và phải chịu trách nhiệm về tính trung thực của chứng
cứ đã cung cấp. Hồ sơ khiếu nại của tổ chức, cá nhân gửi đến cơ quan cạnh tranh
đƣợc yêu cầu và liệt kê cụ thể tại Điều 45 Nghị định 116/NĐ-CP. Quy định về thủ
tục khiếu nại với những đòi hỏi về chứng cứ chứng minh nhƣ trên nhằm nhằm ngăn
chặn các khiếu nại vô căn cứ, giảm sức ép về công việc cho cơ quan cạnh tranh. Tuy
nhiên, chính những yêu cầu và trách nhiệm này lại gây ra những khó khăn và gánh
nặng cho bên khiếu nại khi hành vi có dấu hiệu vi phạm Luật Cạnh tranh là có thật,
nhƣng không thể thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh cho hành vi vi phạm.
13
Những trở ngại này dẫn đến việc bên khiếu nại dễ dàng bỏ qua hành vi vi phạm do
những rƣờm rà trong thủ tục khiếu nại.
Nghiên cứu các quy định pháp luật về quy trình điều tra, xử lý vụ việc
HCCT, trong “Báo cáo rà soát Luật Cạnh tranh Việt Nam” của Cục QLCT và Cơ
quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản, “Báo cáo tổng kết 12 năm thi hành Luật Cạnh
tranh” và “Tờ trình Chính phủ về Dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi)” của Bộ Công
Thƣơng đã cho rằng:
+ Về thời hạn điều tra, những VVCT thƣờng mang tính chất phức tạp, đặc biệt
vụ việc HCCT, không chỉ đòi hỏi những phân tích về quy định của pháp luật, mà còn
dựa trên các phân tích kinh tế. Bằng chứng, thông tin trong một vụ việc không chỉ thu
thập tại một thời điểm mà còn cả một quá trình, từ trƣớc và sau khi diễn ra hành vi vi
phạm của doanh nghiệp. Ngoài 30 ngày điều tra sơ bộ, 150 ngày (kể cả thời gian gia
hạn) đối với vụ việc cạnh tranh không lành mạnh và 300 ngày (kể cả 2 lần gia hạn) đối
với vụ việc HCCT là khoảng thời gian quá ngắn để cơ quan cạnh tranh có thể thu thập
tất cả các thông tin cần thiết, và đƣa ra kết luận chính xác.
+ Về thời hạn ra quyết định xử lý vụ việc HCCT, trong vòng 30 ngày kể từ
ngày nhận đƣợc hồ sơ VVCT, Hội đồng xử lý vụ việc phải ra một trong các quyết
định mở PĐT, hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, hoặc đình chỉ giải quyết VVCT.
Trên thực tế, vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trƣờng, vị trí độc quyền là những
Đây là nội dung có ít các công trình nghiên cứu đề cập tới, hoặc nếu có đề
cập tới thì chỉ mang tính riêng lẻ cho một số khía cạnh cụ thể nào đó của thủ tục
giải quyết vụ việc HCCT. Qua nghiên cứu các công trình có tính tiêu biểu, tác giả
Luận án tập hợp đƣợc một số kiến nghị chủ yếu sau:
Về yêu cầu phải tách biệt giữa thủ tục giải quyết VVCT không lành mạnh
và thủ tục giải quyết vụ việc HCCT, PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa qua “Chuyên khảo
Luật kinh tế” cho rằng để xây dựng đƣợc một quy trình tố tụng hiệu quả trong giải
quyết vụ việc HCCT, về phƣơng diện lý luận, nhất thiết chúng ta phải làm rõ đƣợc
các đặc trƣng pháp lý cơ bản của loại vụ việc này. Pháp luật điều chỉnh hành vi
cạnh tranh không lành mạnh (hay còn đƣợc gọi là hành vi thƣơng mại không lành
mạnh) là mảng pháp luật thiên về khía cạnh luật tƣ, do đó, thủ tục giải quyết loại vụ
việc này phải đƣợc thiết lập theo nguyên tắc của luật tƣ, có nghĩa là: chỉ có sự tham
gia của Tòa án khi có đơn yêu cầu của bên bị thiệt hại, đồng thời, nghĩa vụ chứng
minh thuộc về ngƣời đƣa ra tố quyền (theo nguyên tắc của tố tụng dân sự: Ngƣời
nào đƣa ra yêu cầu, ngƣời đó có nghĩa vụ chứng minh), còn đối với mảng pháp luật
chống HCCT, do đặc thù của loại hành vi HCCT không xâm hại một cách trực tiếp
đến một đối tƣợng cụ thể nào mà thƣờng gây tổn hại cho nền kinh tế nói chung và
cho ngƣời tiêu dùng nên thủ tục tố tụng để xử lý loại vụ việc này về cơ bản là thủ
tục của luật công. Vụ việc HCCT có thể đƣợc khởi xƣớng bởi tố quyền của bất kì
chủ thể nào hoặc sự chủ động nhập cuộc của cơ quan QLCT với vai trò nhƣ “Cơ
quan công tố”. Nghĩa vụ thu thập và xác minh chứng cứ thuộc về cơ quan điều tra.
Ngay trong số các hành vi HCCT cũng bao hàm những nhóm hành vi có tính chất
không giống nhau và việc thiết kế thủ tục giải quyết vụ việc HCCT cũng cần lƣu ý
đặc biệt đến những sự khác biệt này. Luật Cạnh tranh (2004) chƣa phân tách rõ
nghĩa vụ chứng minh trong các loại tranh tụng khác nhau trƣớc cơ quan cạnh tranh,
mà chỉ quy định chung về quyền điều tra của cơ quan này [46, tr. 830].
15
Liên quan đến quy định về quyền khiếu nại vụ việc HCCT, “Báo cáo rà soát
pháp luật cạnh tranh một số nước trên thế giới - bài học kinh nghiệm và đề xuất
một số nội dung cơ bản quy định trong Dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi) của Việt
Nam” của Bộ Công Thƣơng cho rằng: Theo quy định của Luật Cạnh tranh (2004)
hiện nay, nếu tổ chức, cá nhân nộp đơn khởi kiện ra Tòa án cấp Tỉnh nào (nơi cƣ
trú, nơi làm việc hoặc trụ sở của bên khởi kiện) thì HĐCT phải theo kiện tại Tỉnh
16
đó. Quy định nhƣ vậy gây khó khăn rất lớn cho cơ quan cạnh tranh trong bối cảnh
nguồn lực có hạn mà thời gian tố tụng lại dài. Chính vì vậy, việc giải quyết vụ kiện
hành chính về Quyết định giải quyết khiếu nại của HĐCT cần có quy định tập trung tại
các đầu mối, các trung tâm đầu não về kinh tế, chính trị đặt tại các địa phƣơng một
cách hợp lý, vừa phục vụ việc thụ lý vụ án phù hợp với nguyện vọng của các bên
đƣơng sự, vừa tạo điều kiện cho cơ quan quản lý nhà nƣớc về cạnh tranh thuận lợi
trong việc theo kiện cũng nhƣ làm giảm tình trạng khiếu kiện tràn lan có thể xảy ra.
1.1.4. Đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề mà Luận án kế thừa
Trên cơ sở khảo sát các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về thủ tục giải quyết
vụ việc HCCT, Luận án rút ra những đánh giá chính yếu sau đây:
- Một là: Tại Việt Nam hiện nay, ngoài một số nghiên cứu, đánh giá riêng rẽ
có tính chất gợi mở cho những nghiên cứu tiếp theo liên quan đến từng nội dung cụ
thể của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT, chƣa có một công trình nào nghiên cứu
một cách toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT.
Sự mới mẻ trong nhận thức về TTCT nói chung cũng nhƣ thủ tục giải quyết vụ việc
HCCT nói riêng cộng với thực tiễn và kinh nghiệm ít ỏi trong việc xử lý các vụ việc
HCCT trong 12 năm thực thi Luật Cạnh tranh (2004) ở Việt Nam đã khiến cho các
nghiên cứu về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT chƣa thật sự sôi nổi nhƣ nhiều lĩnh
vực nghiên cứu truyền thống khác.
- Hai là: Trên bình diện thế giới, mặc dù đã có rất nhiều các công trình nghiên
cứu về mô hình TTCT nói chung cũng nhƣ thủ tục giải quyết vụ việc HCCT nói riêng
các mô hình thuộc Nghị viện, Chính phủ hay một Bộ nào đó, song, đều có tính chất
“lƣỡng tính”, có sự pha trộn giữa cơ quan hành chính và cơ quan tƣ pháp, đều phải
đƣợc tổ chức một cách độc lập với thẩm quyền đủ mạnh để thực thi các chính sách
và pháp luật cạnh tranh một cách hiệu quả.
+ Về cơ bản, các nghiên cứu đều chỉ ra rằng thủ tục giải quyết vụ việc HCCT
thƣờng bao gồm các giai đoạn chính nhƣ: Tiếp nhận khiếu nại và thông tin về vụ
việc; điều tra; xử lý; và xem xét lại các quyết định xử lý. Hầu hết các quốc gia trên
thế giới đều trao thẩm quyền điều tra và xử lí vụ việc HCCT cho một cơ quan để
đảm bảo tính thống nhất, liên tục của thủ tục tố tụng còn chức năng xem xét lại
quyết định xử lý vụ việc thƣờng đƣợc trao cho Tòa án cấp cao.
1.1.5. Những vấn đề mà Luận án tiếp tục triển khai nghiên cứu
- Về hệ thống khái niệm liên quan đến thủ tục giải quyết vụ việc HCCT, mặc dù có
một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc có đƣa ra một số khái niệm nhƣng
thƣờng có tính chất bao quát về TTCT nói chung nhƣ: Khái niệm VVCT; khái niệm
TTCT; cơ quan tiến hành TTCT; ngƣời tiến hành TTCT; ngƣời tham gia TTCT… chứ
chƣa có công trình nào đƣa ra một hệ thống các khái niệm riêng cho thủ tục giải quyết vụ
việc HCCT nhƣ: Khái niệm vụ việc HCCT; khái niệm thủ tục giải quyết vụ việc HCCT;
khái niệm cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng, ngƣời tham gia tố tụng đối
với vụ việc HCCT... Luận án sẽ tiếp tục làm rõ các khái niệm này.
- Kế thừa các kết quả nghiên cứu lý luận về TTCT, Luận án sẽ tập trung làm
rõ bản chất pháp lý và các đặc trƣng cơ bản của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT,
các nội dung của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT.
18