CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG CÁC LỰC
LƯỢNG XÃ HỘI THAM GIA CÔNG TÁC
GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN PHÚ YÊN
- Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Vấn đề huy động các lực lương xã hội tham gia công tác
giảm nghèo rất ít được quan tâm nghiên cứu ở các công trinh
trong và ngoài nước. Chỉ có thể kể đến một vài nghiên cứu:
Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế phát triển
“Chính sách xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Kon Tum”
của Nguyễn Minh Định (2011). Đề tài nêu khái quát tình hình
nghiên cứu chính sách XĐGN trên địa bàn tỉnh Kon Tum, đây
là địa phương có tỷ lệ người đồng bào dân tộc thiểu số tương
đối cao,qua nghiên cứu, đề tài đã phân tích kết quả thực hiện
các chính sách giảm nghèo ở tỉnh và nêu ra một số tồn tại hạn
chế và đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế ở
tỉnh Kon Tum.
Đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế “Giải pháp xóa đói giảm
nghèo trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam” của
Đỗ Thị Dung (2011): Đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận về
xóa đói giảm nghèo; cho thấy Nông Sơn là một huyện còn
nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao; qua nghiên cứu,
đề tài đã tìm ra những nguyên nhân cơ bản và đề xuất giải
pháp XĐGN phù hợp với địa phương.
Đề tài luận văn thạc sĩ “Biện pháp đẩy mạnh công tác xóa
đói giảm nghèo ở huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên trong giai đoạn
hiện nay” của tác giả Thiều Vũ Bảo đã nêu khái quát thực trạng
công tác xóa đói giảm nghèo của huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên;
trong cộng đồng có những niềm tin,nhu cầu, những đặc
trunwg và sự thống nhất chung giữa các thành viên trong cộng
đồng.
* Vai trò của cộng đồng:
- Chăm lo cuộc sống của cá nhân
- Đảm bảo cho mọi người có điều kiện phát triển
- Giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa cái chung và cái
riêng, giữa quyền lợi và nghĩa vụ.
- Cá nhân phát triển trong cộng đồng và tạo nên sức
mạnh cho cộng đồng.
* Phân loại: Cộng đồng được phân loại theo các khía
cạnh như sau:
- Đơn vị hành chính, lãnh thổ.
- Sự liên hệ lẫn nhau, chia sẻ nền tảng chung (văn hóa,
tôn giáo, chủng tộc, …)
- Chia sẻ mối quan tâm chung về những vấn đề cụ thể
(nghèo đói, tệ nạn xã hội, trẻ em lao động sớm, ô nhiễm môi
trường, khan hiếm nguồn nước, thất học, bệnh tật…)
- Nghĩa vụ và trách nhiệm.
- Xã với tư cách như là cộng đồng dân cư
Chính quyền xã
“Chính quyền xã là cấp chính quyền địa phương gồm có
Hội đồng nhân dân xã và Ủy ban nhân dân xã. Sự khác nhau
giữa HĐND và UBND xã ở cơ cấu tổ chức và chức năng,
nhiệm vụ”[26], như sau:
Đối với HĐND xã:
xã. Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án của xã
trong phạm vi được phân quyền; Giám sát việc tuân theo Hiến
pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của
Hội đồng nhân dân xã; giám sát hoạt động của Thường trực
Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp, Ban của Hội
đồng nhân dân cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp
luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp; Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ
phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân
dân xã bầu theo quy định; Bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân
dân xã và chấp nhận việc đại biểu Hội đồng nhân dân xã xin
thôi làm nhiệm vụ đại biểu; Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn
bản trái pháp luật của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân xã”[26].
Đối với UBND xã:
“Về cơ cấu tổ chức: Ủy ban nhân dân xã gồm Chủ tịch,
Phó Chủ tịch, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách
công an; Ủy ban nhân dân xã loại I có không quá hai Phó Chủ
tịch; xã loại II và loại III có một Phó Chủ tịch.
Về nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân xã: Xây
dựng, trình Hội đồng nhân dân xã quyết định các nội dung quy
định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 33 của Luật này và tổ chức
thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã; Tổ chức
thực hiện ngân sách địa phương; Thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền cho Ủy
ban nhân dân xã.
Xóa đói giảm nghèo là một trong những chủ trương lớn
+ “Thường trực Hội đồng nhân dân xã gồm Chủ tịch Hội
đồng nhân dân, một Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Phó
Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã là đại biểu Hội đồng nhân dân
hoạt động chuyên trách”.
+ “Hội đồng nhân dân xã thành lập Ban pháp chế, Ban
kinh tế - xã hội. Ban của Hội đồng nhân dân xã gồm có
Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Số lượng
Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân xã do Hội đồng
nhân dân xã quyết định. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các
Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân xã hoạt động
kiêm nhiệm”.
- “Đối với Ủy ban nhân dân xã gồm Chủ tịch, Phó Chủ
tịch, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an”.
“Ủy ban nhân dân xã loại I có không quá hai Phó Chủ
tịch; xã loại II và loại III có một Phó Chủ tịch”.[26]
b. Các lực lượng xã hội trong cộng đồng xã
* Gia đình
Gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở
hôn nhân và quan hệ huyết thống. Qua đó, những thành viên
trong gia đình gắn kết, ràng buộc với nhau về quyền lợi nghĩa
vụ và trách nhiệm, được cơ quan nhà nước thừa nhận.
Đặc trưng của gia đình theo nhà tâm lý học Ngô Công
Hoàn, gia đình có 6 đặc trưng cơ bản: có từ 2 người trở lên;
có nam và nữ, có quan hệ ruột thịt huyết thống, có sự gắn bó
nhau về đặc điểm tâm sinh lý; có ngân sách chung và sống
chung một nhà.
* Đoàn thanh niên
“Hội Nông dân là tổ chức của giai cấp nông dân do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và là thành viên của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
* Hội cựu chiến binh
“Hội Cựu chiến binh là tổ chức đoàn thể thành viên của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là cơ sở chính trị của chính quyền
nhân dân, một tổ chức trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo, hoạt động theo đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và
Điều lệ của Hội”.
- Hoạt động giảm nghèo trên địa bàn xã
- Khái niệm
“Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội, vừa là
vấn đề của lịch sử để lại, và đây cũng là vấn đề mà trong quá
trình phát triển các quốc gia đều gặp phải. Đói, nghèo liên
quan trực tiếp đến cuộc sống con người từ góc độ cá nhân, gia
đình, cộng đồng trong đó cơ bản và chủ yếu là điều kiện sống
về mặt vật chất và tinh thần, quan hệ đến điều kiện lao động
và mức thu nhập, tiêu dùng của người dân. Mỗi quốc gia, địa
phương ở góc độ khác nhau đều phải quan tâm giải quyết vấn
đề nghèo, đói để vượt lên trên những trở ngại để phát triển
kinh tế và từng bước đạt tới công bằng về xã hội”.
Hội nghị chống nghèo đói khu vực châu Á – Thái Bình
Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Kok, Thái Lan (tháng
9/1993) nêu ra định nghĩa như sau: “nghèo là tình trạng một
bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu
cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội
+ “Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu
chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000
đồng trở xuống;
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000
đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường
mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
- Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí
sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000
đồng trở xuống;
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000
đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường
mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở
lên”[28]
- Mục tiêu của hoạt động giảm nghèo trên địa bàn xã
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo:
+ Giảm hộ nghèo nhanh và bền vững, tỷ lệ giảm bình
quân 2%/năm và giảm bình quân 4%/năm đối với các huyện
nghèo, các xã đặc biệt khó khăn.
Đảm bảo công trình hạ tầng thiết yếu cho người nghèo,
cộng đồng nghèo và xã nghèo.
Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ:
“Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chính sách giảm nghèo
để cải thiện điều kiện sống của người nghèo, trước hết là về y
tế, giáo dục, văn hoá, nước sinh hoạt, nhà ở; người nghèo tiếp
cận ngày càng thuận lợi hơn với các dịch vụ xã hội cơ bản.
Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện, xã nghèo,
trẻ em 5 tuổi vào năm 2015; đến năm 2020, có ít nhất 30% trẻ
em trong độ tuổi nhà trẻ và 80% trong độ tuổi mẫu giáo được
chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non; tỷ lệ trẻ
em suy dinh dưỡng trong các cơ sở giáo dục mầm non giảm
xuống dưới 10%.
+ Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao, đặc biệt
chất lượng giáo dục văn hóa, đạo đức, kỹ năng sống, pháp
luật, ngoại ngữ, tin học.
+ Đến năm 2020, tỷ lệ đi học đúng tuổi ở tiểu học là
99%, trung học cơ sở là 95% và 80% thanh niên trong độ tuổi
đạt trình độ học vấn trung học phổ thông và tương đương; có
70% trẻ em khuyết tật được đi học.
+ Hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục nghề nghiệp và
đại học; điều chỉnh cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo,
nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nhân lực, nâng
cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát
triển kinh tế - xã hội; đào tạo ra những con người có năng lực
sáng tạo, tư duy độc lập, trách nhiệm công dân, đạo đức và kỹ
năng nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ, kỷ luật lao động, tác
phong công nghiệp, năng lực tự tạo việc làm và khả năng
thích ứng với những biến động của thị trường lao động và một
phần có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới.
+ Đến năm 2020, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đủ
khả năng tiếp nhận 30% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ
sở; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề nghiệp và đại học đạt
khoảng 70%; tỷ lệ sinh viên tất cả các hệ đào tạo trên một vạn
dân vào khoảng 350 – 400”[31]
- Giảm tỷ lệ sinh, tỷ lệ tử vong và suy dinh dưỡng của
cơ bản và dịch vụ sản xuất như y tế, văn hóa thể dục thể thao,
…
* Đẩy mạnh cải cách hành chính, cung cấp kiến thức
về pháp lý cho người nghèo
Thực hiện có hiệu quả chương trình cải cách hành chính
theo hướng tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả, rút ngắn thời gian
giải quyết TTHC, cắt giảm, tiến tới xóa bỏ những thủ tục
rườm rà, gây khó khăn cho tổ chức, cá nhân.
Nghiên cứu, vận dụng phù hợp các chính sách đối với
người nghèo, đặc biệt là người nghèo yếu thế; phân bổ
nguồn lực hợp lý để người nghèo tiếp cận thuận lợi.
Xây dựng chỉnh phủ điện tử, minh bạch, có tinh thần và
trách nhiệm cao trong công việc, tạo điều kiện để người nghèo
tiếp cận thông tin, hệ thống tư pháp và thực hiện công tác hỗ
trợ pháp lý cho người nghèo.
- Nội dung của hoạt động giảm nghèo trên địa bàn xã
- Tăng thu nhập cho người nghèo, vùng nghèo
Mỗi quốc gia đều có cách đánh giá về đói nghèo khác
nhau. Nhưng nhìn chung chỉ tiêu chính vẫn là thu nhập
đầu người để đánh giá. Do vậy, tăng thu nhập cho đối
tượng nghèo là nội dung cần được quan tâm nhất đối với
công tác XĐGN.
Đa số người nghèo thường bán sức lao động của bản
thân để mưu sinh. Người nghèo chỉ phát huy được sức lao
động và mang lại thu nhập khi họ có việc làm. Có được Việc
làm tốt và ổn định là cơ sở để người nghèo có thu nhập ổn
định cuộc sống và nâng cao thu nhập đảm bảo cuộc sống và
vươn lên thoát nghèo. Trong điều kiện phát triển của nền
XĐGN liên quan mật thiết đến cải thiện môi trường sản xuất
kinh doanh.
+ Đa số người nghèo ít được học hành nên trình độ nhận
thức khá hạn chế, nhiều người không biết chữ. Do điều kiện
kinh tế khó khăn mà người nghèo không có điều kiện đầu tư
cho con được học hành để nâng cao trình độ. Trình độ thấp thì
khả năng để tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật để áp dụng vào
sản xuất rất hạn chế; không có điều kiện và khả năng tiếp cận
với những tiến bộ, văn minh của nhân loại nên dẫn đến nghèo
về mọi mặt (kinh tế và tinh thần, chính trị). Vì vậy, để giảm
nghèo trước hết phải thực hiện phổ cập kiến thức, giúp cho
người nghèo biết chữ, từ đó, người nghèo có điều kiện vận
dụng kiến thức cơ bản để tìm hiểu kiến thức chuyên môn, góp
phần nâng cao hiệu quả sản xuất cho gia đình.
+ Để XĐGN mang lại hiệu quả thì cơ quan nhà nước
phải nghiên cứu, xây dựng những chính sách phù hợp, tạo
điều kiện tối đa để người nghèo dễ tiếp cận với các dịch vụ y
tế, dịch vụ tài chính, tín dụng và tiến bộ của khoa học, kỹ
thuật, công nghệ, vv... quan tâm đến công tác y tế ở cơ sở để
người nghèo có điều kiện chăm sóc về y tế tốt hơn, đảm bảo
sức khoẻ để lao động sản xuất.
Hoạt động XĐGN phải hỗ trợ cho người nghèo phải dựa
vào thực tế nhu cầu của người nghèo như về vốn sản xuất,