THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP GIÁO DỤC DINH
DƯỠNG CHO TRẺ 3 - 5 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM
NON QUÁN TOAN, HỒNG BÀNG, HẢI PHÒNG
- Giới thiệu về quá trình khảo sát thực trạng
- Mục đích điều tra
Tìm hiểu thực trạng tổ chức GDDD cho trẻ mầm non tại
trường MN Quán Toan, Hồng Bàng, Hải Phòng thông qua các
hoạt động giáo dục.
- Vài nét về đối tượng điều tra
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chứng tôi tiến
hành điều tra 40 giáo viên đang giảng dạy tại hai cơ sở của
trường mầm non Quán Toan, Hồng Bàng, Hải Phòng. Giáo viên
được khảo sát đều có trình độ từ trung cấp trở lên, cụ thể:
Trình độ đại học: có 8/40 giáo viên (chiếm 20.0%)
Trình độ cao đẳng: có 24/40 giáo viên (chiếm 60.0%)
Trình độ trung cấp: có 8/40 giáo viên (chiếm 20.0% )
Các giáo viên có ít nhất 3 năm công tác trong ngành nên
có trình độ chuyên môn, giàu kinh nghiệm, yêu nghề, mến trẻ.
Những giáo viên này đang trực tiếp tham gia giảng dạy ở các
lớp mẫu giáo thực hiện chương trình đổi mới giáo dục MN tại
địa chỉ nghiên cứu.
- Nội dung điều tra
Nội dung điều tra thực trạng việc tổ chức GDDD cho trẻ
mẫu MN thông qua chương trình giáo dục được lồng ghép trong
mỗi giờ học bao gồm:
Nhận thức của giáo viên về ý nghĩa của GDDD đối với sự
phát triển của trẻ MN.
Phòng. Chúng tôi lựa chọn biện pháp quan sát và phỏng vấn
trực tiếp cũng như phỏng vấn gián tiếp bằng phiếu hỏi. Kết quả
được trình bày cụ thể như sau:
- Thực trạng nhận thức về tầm quan
trọng của giáo dục dinh dưỡng cho trẻ MN tại
trường MN Quán Toan, Hồng Bàng, Hải Phòng
Thông qua kết quả phỏng vấn các Cô giáo trực tiếp tham
gia giảng dạy tại 2 cơ sở tại trường mầm non Quán Toan, Hồng
Bàng, Hải Phòng chúng tôi nhận thấy:
Hầu hết (100%) giáo viên MN tham gia điều tra đều nhận
thức được ý nghĩa của việc GDDD đối với sự phát triển toàn
diện của trẻ mẫu giáo nói chung và sự phát triển thể chất của trẻ
mẫu giáo 3- 5 tuổi nói riêng. Trong quá trình chăm sóc và giáo
dục trẻ 3- 5 tuổi, giáo viên thường xuyên thực hiện việc GDDD
cho trẻ. Qua trao đổi, trò chuyện, chúng tôi nhận thấy hầu hết
giáo viên đã đánh giá cao tầm quan trọng của việc GDDD cho
trẻ.
Qua điều tra nhận thức của giáo viên trong việc thực hiện
các nội dung GDDD chúng tôi thu được kết quả ở bảng
-. Kết quả giáo viên tiến hành thực hiện các nội dung GDDD
cho trẻ mẫu giáo 3 - 5 tuổi (n = 40)
Ý kiến
TT
Nội dung
Lợi ích của thực phẩm đối với sức khỏe
2
việc ăn uống đầy đủ, hợp lí và sạch sẽ
mang lại kết quả.
3
Cho trẻ tập làm một số công việc đơn
giản.
4
Ăn uống sạch sẽ để phòng tránh bệnh tật,
một số bệnh liên quan tới ăn uống.
Qua bảng đề tài nhận thấy, về cơ bản giáo viên đã thực hiện
các nội dung GDDD cho trẻ. Có 85,0% giáo viên dạy trẻ nhận biết,
làm quen với các nhóm thực phẩm và một số thao tác chế biến
món ăn đơn giản; Có 100% giáo viên dạy trẻ lợi ích của thực phẩm
đối với sức khỏe và sự cần thiết của việc ăn uống đầy đủ, hợp lí và
sạch sẽ; Có 75,0% giáo viên tập cho trẻ làm một số công việc đơn
giản tự phục vụ. Tuy nhiên, chỉ có 27 (67,5 %) giáo viên thực hiện
việc dạy ăn uống sạch sẽ để phòng tránh bệnh tật, tìm hiểu về một
số bệnh liên quan tới ăn uống. Như vậy, có sự chênh lệch giữa
phiếu điều tra và công tác thực hiện GDDD. Mặc dù 100% giáo
viên thực hiện nội dung GDDD nhưng trong quá trình chăm sóc,
95,0
2
Vui chơi
35
87,5
3
Lao động
21
52,5
4
Chế độ sinh hoạt hàng ngày
31
77,5
5
Dạo chơi tham quan
ngày lễ có 10/40 (chiếm 25,0%) giáo viên lựa chọn. Khi được
hỏi, có sử dụng hoạt động nào khác ngoài các hoạt động trên
không thì có 8/40 (chiếm 20,0%) cho rằng họ đã GDDD cho trẻ
mọi lúc, mọi nơi.
- Biện pháp giáo dục dinh dưỡng cho trẻ
mầm non tại trường Mầm non Quán Toan,
Hồng Bàng, Hải Phòng
Để tìm hiểu rõ nguyên nhân còn tồn tại một số nguyên
nhân tồn tại làm ảnh hưởng đến chất lượng công tác GDDD cho
trẻ tại nhà trường, Chúng tôi tiến hành phỏng vấn các giáo viên
về biện pháp GDDD thường được sử dụng nhằm đánh giá được
ưu điểm, nhược điểm và hiệu quả của từng biện pháp. Từ đó
làm cơ sở ứng dụng trong công tác GDDD cho trẻ đạt hiệu quả
cao nhất, kết quả được trình bày cụ thể tại bảng
- Kết quả phỏng vấn các biện pháp giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mầm non
thường được sử dụng (n = 40)
Ý kiến
TT
Hoạt động
Tỷ lệ
lựa
chọn
%
70,0
Kết quả điều tra tại bảng về thực trạng sử dụng các biện
pháp để GDDD cho trẻ mầm non cho thấy. Có 38/40 giáo viên
cho rằng thường sử dụng qua trò chơi đóng vai có chủ đề
(chiếm 95,0%).
Có 31/40 ý kiến giáo viên (chiếm 77,5%) sử dụng thông
qua bữa ăn trưa cho trẻ mầm non.
Có 27/40 ý kiến giáo viên (chiếm 67,5%) GDDD thông
qua trò chơi học tập cho trẻ mầm non.
Có 28/40 ý kiến giáo viên (chiếm 70,0%) sử dụng biện
pháp GDDD thông qua hoạt động tạo hình để GDDD cho trẻ
mầm non.
Như vậy, trong các biện pháp thường được sử dụng và sử
dụng có hiệu quả hiện nay nhằm giáo dục dinh dưỡng cho trẻ
mầm non thì việc giáo dục dinh dưỡng cho trẻ thông qua trò
chơi đóng vai có chủ đề (TC ĐVCCĐ) và thông qua bữa ăn trưa
là phương tiện chủ đạo được giáo viên lựa chọn để GDDD cho
trẻ. Mặc dù vậy không thể không phủ nhận hiệu quả của 2 biện
pháp còn lại. Tuy nhiên tần xuất sử dụng chúng ít được các giáo
viên sử dụng và theo đánh giá của giáo viên thì việc sử dụng
biện pháp đó đạt hiệu quả không cao và khó khăn trong quá
trình triển khai.
- Chủ thể giáo dục dinh dưỡng cho trẻ
mầm non tại trường MN Quán Toan, Hồng
Bàng, Hải Phòng
Sau thời gian điều tra, chúng tôi thu được kết quả thực
97,5
3
Động viên, khích lệ trẻ
27
67,5
28
70,0
40
100
0
0
4
5
6
Thường xuyên theo dõi trẻ, nhắc nhở
trẻ
Đưa yếu tố thi đua vào quá trình thực
dinh dưỡng cho trẻ mầm non (n = 40)
Ý kiến
TT
Hoạt động
Tỷ lệ
lựa
chọn
%
1
Trẻ không có hứng thú
30
75,0
2
Thời gian không đảm bảo
21
52,5
trẻ chưa đầy đủ dẫn đến những khó khăn trong công tác GDDD
cho trẻ thông qua giờ ăn trưa.
Do vậy, việc giáo dục ý thức tự giác cũng như nhận thức
của trẻ một cách thường xuyên về tầm quan trọng của DD đối
với cơ thể là một trong những yếu tố làm tăng hiệu quả GDDD
cho trẻ thông qua giờ ăn trưa.
- Đánh giá chung về thực trạng
- Kết quả đạt được
Được sự chỉ đạo sâu sát của Phòng Giáo dục quận, cũng
như sự quan tâm của các cấp, các ngành lãnh đạo của địa
phương và sự ủng hộ nhiệt tình của các bậc phụ huynh đối với
việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ. Cùng với đó, Nhà trường có đội
ngũ cán bộ, giáo viên nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, có tinh thần
trách nhiệm cao trong công việc được phân công. 100% cán bộ
giáo viên trong nhà trường đã đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn.
Đội ngũ cô nuôi trẻ khỏe, tâm huyết với nghề.
Ban giám hiệu luôn hỗ trợ, giúp đỡ nhau trọng mọi công
việc, nhất là công tác chăm sóc nuôi dưỡng và bảo vệ sức khỏe
cho trẻ được nhà trường đặt lên hàng đầu.
Ban giám hiệu có biệp pháp cụ thể để nâng cao chất lượng
bữa ăn, xây dựng thực đơn theo tuần, tháng, theo mùa.
Các giáo viên đã thường xuyên sử dụng biện pháp giáo
dục trẻ, chăm sóc trẻ đúng cách. Từ đó chất lượng trẻ khỏe,
giảm suy dinh dưỡng cũng như việc nhận thức của trẻ về dinh
dưỡng đối với sức khỏe phần nào được nâng cao, đa số trẻ đã có
thái độ đúng đắn về giờ học, bữa ăn thông qua việc ăn hết xuất
ăn của mình cũng như có hứng thú trong mỗi giờ học, giờ chơi,
giờ ăn.
tác bán trú của nhà trường tôi hiểu rõ về việc chăm sóc dinh
dưỡng cho trẻ nhất là cho trẻ trong độ tuổi mầm non là rất quan
trọng. Do vậy vấn đề giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mầm non tại
mỗi nhà trường luôn được đặt lên hàng đầu.
- Đánh giá về hiệu quả GDDD cho trẻ mầm non tại
trường MN Quán Toan, Hồng Bàng, Hải Phòng
- Mục đích điều tra
Tìm hiểu hiệu quả GDDD cho trẻ mầm non 3- 5 tuổi thông
qua công tác giảng dạy và chăm sóc trẻ tại trường MN Quán
Toan, Hồng Bàng, Hải Phòng.
- Vài nét về đối tượng điều tra
Tiến hành điều tra trên 60 trẻ mẫu giáo 3 - 5 tuổi tại trường
MN Quán Toan, Hồng Bàng, Hải Phòng. Tất cả các trẻ đều phát
triển bình thường về thể chất, tâm lí và trí tuệ, được chăm sóc và
giáo dục theo nội dung chương trình chăm sóc giáo dục trẻ.
- Nội dung điều tra
Chúng tôi điều tra hiệu quả GDDD cho trẻ mẫu giáo 3 - 5
tuổi thông qua các mặt: Hiểu biết, kỹ năng, thái độ về dinh
dưỡng của trẻ trong công tác GDDD cho trẻ ở trường MN.
- Cách tiến hành điều tra
Quan sát 4 lớp mẫu giáo (2 lớp 3 tuổi, 2 lớp 5 tuổi) về việc
sự hiểu biết của trẻ cũng như thái độ của trẻ về dinh dưỡng
trong mỗi giờ học và mỗi bữa ăn.
Trò chuyện và ghi chép, phân tích biểu hiện của trẻ trước,
trong và sau mỗi giờ học và sau mỗi giờ ăn.
Sau khi thu được kết quả, chúng tôi sử dụng phương pháp
thống kê toán học để xử lý và phân tích kết quả.
- Tiêu chí và cách đánh giá
Tự giác ăn hết khẩu phần.
Vui lòng chấp nhận và thử các thức ăn mới, không kén
chọn thức ăn.
Tự giác thực hiện hành vi văn minh trong ăn uống, có ý
thức phục vụ và tự phục vụ.
- Cách đánh giá
Mỗi một tiêu chí được đánh giá theo 4 mức độ:
+ Mức độ 1: Tốt (4 điểm)
+ Mức độ 2: Khá (3 điểm)
+ Mức độ 3: TB (2 điểm)
+ Mức độ 4: Yếu (1 điểm)
Cụ thể với từng mức độ như sau:
* Tiêu chí 1: Hiểu biết về dinh dưỡng
Mức độ 1: Gọi được tên của 10 -12 loại thực phẩm quen
thuộc; nêu được đặc điểm, nguồn gốc và nói được giá trị dinh
dưỡng của 4 loại thực phẩm; phân biệt chính xác 4 nhóm thực
phẩm theo giá trị dinh dưỡng và nguồn gốc của chúng; kể được
cách ăn, cách chế biến, nêu được lợi ích của 4 loại thực phẩm đổi
với sức khỏe của con người; nói được 4 cách chọn lựa và bảo
quản thực phẩm một cách đơn giản; phân biệt đúng các bữa ăn
trong ngày; phân biệt đúng các món ăn trong các bữa ăn chính và
phụ, nói được cách chế biến 4 món đơn giản.
Mức độ 2: Gọi được tên của 7-9 loại thực phẩm quen thuộc;
nêu được đặc điểm, nguồn gốc và nói được giá trị dinh dưỡng của
3 loại thực phẩm; phân biệt chính xác 3 nhóm thực phẩm theo giá
trị dinh dưỡng và nguồn gốc của chúng; kể được cách ăn, cách
chế biến, nêu được lợi ích của 3 loại thực phẩm đối với sức khỏe
của con người; nói được 3 cách chọn lựa và bảo quản thực phẩm
năng vệ sinh - văn minh và thói quen văn hóa trong ăn uống, chế
biến được 4 món ăn, thức uống đơn giản bằng cách phối hợp các
loại thực phẩm thông thường; phối hợp các món ăn cho 2 bữa
chính và 1 bữa phụ; sử dụng tốt một số đồ dùng để chế biến một
số món ăn đơn giản.
Mức độ 2: Chưa biết phối hợp đầy đủ các món ăn thuộc 4
nhóm thực phẩm trong một bữa ăn; sử dụng được các dùng
trong ăn uống: Thìa, bát, ca, cốc, chén; thực hiện tốt các kỹ
năng vệ sinh - văn minh và thói quen văn hóa trong ăn uống,
chế biến được 3 món ăn, thức uống đơn giản bằng cách phối
hợp các loại thực phẩm thông thường; phối hợp các món ăn cho
1 bữa chính và 1 bữa phụ; sử dụng được một số ít đồ dùng để
chế biến một số món ăn đơn giản.
Mức độ 3: Thường xuyên chỉ ăn 2 món ăn thuộc 4 nhóm
thực phẩm trong một bữa ăn; sử dụng các đồ dùng trong ăn
uống: Thìa, bát, cốc, khăn lau tay, đồ dùng chế biến món ăn, có
ý thức thực hiện kỹ năng vệ sinh - văn minh và thói quen văn
hóa trong ăn uống, chế biến được 2 món ăn, thức uống đơn giản
bằng cách phối hợp các loại thực phẩm thông thường; phối hợp
các món ăn cho 1 bữa chính hoặc 1 bữa phụ; sử dụng chưa tốt
các đồ dùng để chế biến một số món ăn đơn giản.
Mức độ 4: Thường xuyên chỉ ăn 1 món ăn thuộc 4 nhóm
thực phẩm trong một bữa ăn; chỉ sử dụng được các đồ dùng
trong ăn uống: Thìa, bát; chưa thực hiện được vệ sinh - văn
minh và thói quen văn hóa trong ăn uống, chế biến được một
món ăn, thức uống đơn giản bằng cách phối hợp các loại thực
phẩm thông thường; không biết phối hợp các món ăn cho bữa
chính và bữa phụ; không biết sử dụng đồ dùng để chế biến một