CƠ sở lý LUẬN về QUẢN lý dạy học THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực học SINH ở TRƯỜNG TIỂU học - Pdf 55

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG
TIỂU HỌC


Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Các nghiên cứu về dạy học và quản lý dạy học theo
định hướng phát triển năng lực người học
Nhà trường là sơ sở giáo dục, nơi tổ chức quá trình dạy
học và giáo dục; trong đó dạy học được xem là hoạt động
trung tâm trong các trường học. Rất nhiều cuốn giáo dục học
của các tác giả ở nước ngoài đều có một chương (hoặc một
phần) nêu lên lý luận dạy học trong nhà trường.
Theo tài liệu “Bài giảng Lý luận dạy học” của Nguyễn
Văn Tuấn thuộc Trường Đại học Sư phạm Kỹ Thuật thành
phố Hồ Chí Minh năm 2009 [49]: Komensky (1592-1670) là
nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc đã đặt nền móng cho lý
luận dạy học với hai cuốn sách "Phương pháp dạy học hiện
đại " và "Dạy học bằng tranh ảnh" đều được xuất bản năm
1657 đã thể hiện một số quan điểm dạy học phải trải qua các
giai đoạn tri giác, cảm giác, trí nhớ, tư duy, sáng tạo nhằm
hình thành các phẩm chất và phát triển các năng lực để hoàn
thiện nhân cách cho người học Tiếp đó, các cuốn “Giáo dục
học” (tập 1 và tập 2) của Savin N.V. do Nxb Giáo dục của
Việt Nam dịch và xuất bản năm 1983 [46] và các cuốn “Giáo


dục học” (tập 1, 2 và 3) của Ilina T.A do Nxb Giáo dục Việt
Nam dịch và xuất bản năm 1979 [32] cũng bàn về lý luận dạy

lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”
[19]; “Năng lực là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có
ở cá nhân hay có thể học được ... để giải quyết các vấn đề
trong cuộc sống. Năng lực cũng hàm chứa trong nó sẵn tính
hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử
dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp…
trong những tình huống thay đổi” [25; tr. 45]; “Năng lực là


một thuộc tính tích hợp nhân cách, tổ hợp các đặc tính tâm lý
của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động
xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt đẹp”[1;
tr.1].
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (International Labour
Organization – ILO): “Năng lực là sự vận dụng các kiến thức,
kỹ năng, kỹ xảo và thái độ để thực hiện các nhiệm vụ theo tiêu
chuẩn dưới các điều kiện hiện hành” [54].
Từ các dẫn chứng trên, có thể hiểu:
Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức,
kĩ năng và thuộc tính tâm lý cá nhân khác như hứng thú, niềm
tin, ý chí của bản thân để thực hiện thành công một công việc
trong một bối cảnh nhất định.
b) Năng lực học sinh
Theo Tài liệu Tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá
theo theo định hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ
GD&ĐT phát hành năm 2014, “Năng lực là sự kết hợp một
cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ,
tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả



mình; tự định hướng nghề nghiệp; tự học, tự hoàn thiện:
+ Năng lực giao tiếp và hợp tác được nhìn nhận ở các
biểu hiện hoặc hành vi: xác định mục đích, nội dung, phương
tiện và thái độ giao tiếp; xác định mục đích và phương thức
hợp tác; xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân; xác
định nhu cầu và khả năng của người hợp tác; đánh giá hoạt
động hợp tác; hội nhập quốc tế.
+ Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo được nhìn
nhận ở các biểu hiện hoặc hành vi: Nhận ra ý tưởng mới; Phát
hiện và làm rõ vấn đề; Hình thành và triển khai ý tưởng mới;
Đề xuất, lựa chọn giải pháp; Thực hiện và đánh giá giải pháp
giải quyết vấn đề; Tư duy độc lập.


- Năng lực chuyên môn (năng lực đặc thù môn học)
được hình thành, phát triển chủ yếu trong quá trình học tập
một số môn học và quá trình tham gia các hoạt động hoạt
động giáo dục nhất định; trong đó có:
+ Năng lực ngôn ngữ được nhìn nhận ở các biểu hiện
hoặc hành vi: sử dụng tiếng Việt; sử dụng ngoại ngữ.
+ Năng lực tính toán được nhìn nhận ở các biểu hiện hoặc
hành vi: hiểu biết kiến thức toán học phổ thông cơ bản; biết
cách vận dụng các thao tác tư duy, suy luận; tính toán, ước
lượng, sử dụng các công cụ tính toán và dụng cụ đo,…; đọc
hiểu, diễn giải, phân tích, đánh giá tình huống có ý nghĩa toán
học:
+ Năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội được nhìn nhận ở
các biểu hiện hoặc hành vi: tìm tòi và khám phá thế giới tự
nhiên; hiểu biết kiến thức khoa học; vận dụng kiến thức vào
thực tiễn, ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển

cuộc sống; nhận biết và tham gia hoạt động TDTT; đánh giá
hoạt động vận động.
d) Các năng lực của học sinh tiểu học
Đối với giáo dục tiểu học, chương trình giáo dục tiểu
học nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển các năng lực
cốt lõi như trên; trong tài liệu của BGD&ĐT công bố chương
trình giáo dục phổ thông tổng thể vào tháng 7 năm 2017 đã
chỉ rõ: “Chương trình giáo dục tiểu học giúp học sinh hình
thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho
sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và
năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân,
gia đình, cộng đồng và những thói quen, nề nếp cần thiết
trong học tập và sinh hoạt” [5]. Trước đó, theo quy định tại
điểm 2 thuộc Điều 5 Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT, ngày
22/9/2016 của Bộ GD&ĐT về Sửa đổi, bổ sung một số điều
của Quy định đánh giá học sinh tiểu học (ban hành kèm theo
Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT, ngày 28/8/2014 của Bộ


GD&ĐT) [13] đã chỉ rõ các năng lực cần được đánh giá đối
với học sinh tiểu học là năng lực tự phục vụ, tự quản; năng
lực hợp tác; năng lực tự học và giải quyết vấn đề.
Như vậy, các năng lực của học sinh tiểu học gồm:
năng lực tự phục vụ, tự quản; năng lực hợp tác; năng lực
tự học và giải quyết vấn đề; trong đó các năng lực hợp tác,
năng lực tự học và giải quyết vấn trong học tập là nền tảng
cho hình thành và phát triển năng lực tự phục vụ, tự quản.
Các biểu hiện hoặc hành vi để chứng tỏ học sinh tiểu học có
các năng lực đó được cụ thể hóa mà có thể quan sát thấy ở
học sinh như sau:(theo tài liệu tập huấn hướng dẫn đánh

Phát triển, phát triển năng lực học sinh


a) Phát triển
Theo Triết học Mác - Lê nin, mọi sự vật, hiện tượng
luôn có mối liên hệ phổ biến là vận động biến đổi không
ngừng theo xu hướng phát triển [6; tr. 41]; trong đó, vận động
và phát triển sẽ làm xuất hiện cái mới và cái cái tiến bộ thay
thế cho cái cũ, cái lạc hậu. Như vậy, phát triển là phạm trù
triết học khái quát quá trình vận động tiến lên của sự vật, hiện
tượng nào đó để có sự biến đổi từ ít đến nhiều, từ thấp đến
cao, từ hẹp đến rộng, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn
thiện đến hoàn thiện hơn; trong đó thể hiện sự vận động của
sự vật, hiện tượng theo hướng thay đổi về lượng để hoàn thiện
hơn về chất.
b) Phát triển năng lực học sinh
Từ các khái niệm năng lực học sinh tiểu học và khái niệm
phát triển, có thể hiểu: Phát triển năng lực học sinh tiểu học là
việc tổ chức các hoạt động dạy học và giáo dục nhằm làm cho
học sinh hình thành và phát triển các năng lực tự phục vụ và
tự quản, hợp tác, tự học và giải quyết vấn đề đáp ứng được
các yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu
học.


Dạy học, dạy học theo định hướng phát triển năng lực
trong trường tiểu học
a) Dạy học
Theo một số nhà khoa học, “Dạy học - một bộ phận của
quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn - là quá trình

+ Hoạt động soạn kế hoạch dạy học (thiết kế bài dạy –
giáo án);
+ Hoạt động giảng dạy trên lớp (triển khai kế hoạch dạy
học);


+ Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học
sinh.
Các hoạt động cụ thể của giáo viên (nêu trên) được sự
hỗ trợ của TBDH, chịu sự tác động của môi trường và phụ
thuộc vào năng lực của các lực lượng giáo dục (chủ yếu là
đội ngũ giáo viên).
- Hoạt động học tập của học sinh, trong đó có các hoạt
động cụ thể:
+ Hoạt động học tập tại trường;
+ Hoạt động tự học;
+ Tham gia các hoạt động bổ trợ cho học tập.
+ Hoạt động tự đánh giá kết quả học tập của bản thân.
Các hoạt động cụ thể của học sinh (nêu trên) cũng được
sự hỗ trợ của TBDH, chịu sự tác động của môi trường, phụ
thuộc vào năng lực của bản thân học sinh và năng lực của
các lực lượng giáo dục.
b) Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học
sinh ở trường tiểu học


Theo các khái niệm phát triển năng lực học sinh và khái
niệm dạy học (nêu trên), có thể hiểu:
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở
trường tiểu học là nhằm vào mục tiêu dạy học giúp học sinh

tr 13].
Từ các dẫn chứng trên, cho thấy quản lý có các thành tố
chủ yếu: tổ chức, chủ thể quản lý, khách thể quản lý, phương
thức, nội dung, quy trình tác động của chủ thể quản lý và môi
trường hoạt động của tổ chức.
Như vậy, có thể hiểu quản lý một tổ chức là sự tác động
có ý thức, có chủ đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý của tổ
chức đến khách thể quản lý trong huy động và điều phối mọi


nguồn lực vào các hoạt động của tổ chức nhằm đạt tới mục
tiêu đã định trong một môi trường luôn luôn thay đổi.
Quản lý được triển khai bằng các chức năng cơ bản của
quản lý theo một chu trình xác lập kế hoạch và tổ chức thực
hiện kế hoạch, đồng thời chỉ đạo quá trình thực hiện kế hoạch,
kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch.
b) Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường có thể hiểu ở hai cấp độ:
- Quản lý nhà trường ở cấp độ vĩ mô là hoạt động quản
lý của các cơ quan quản lý giáo dục đối với mọi hoạt động các
nhà trường;
- Quản lý nhà trường ở cấp vi mô là hoạt động quản lý
của người đứng đầu nhà trường (hiệu trưởng) đối với các hoạt
động dạy học, giáo dục trong nhà trường đó.
Trong luận văn này, khái niệm quản lý nhà trường được
hiểu theo quản lý nhà trường ở cấp vi mô. Cụ thể:
Quản lý nhà trường là những tác động có ý thức, có mục
đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu
trưởng) đến khách thể quản lý trong huy động và điều phối





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status