Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo luật xử lý vi phạm hành chính 2012 từ thực tiễn tỉnh bình dương - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THỊ TRÂM ANH

BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC
THEO LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH 2012
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Hà Nội, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THỊ TRÂM ANH

BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC
THEO LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH 2012
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. VŨ VĂN NHIÊM

Hà Nội, năm 2019


2.2. Khái quát chung về tình hình người nghiện ma túy và việc đưa người
nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại tỉnh Bình Dương ....................... 43
2.3. Thực tiễn thực hiện biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc từ năm 2015 đến nay ........................................................ 45
2.4. Đánh giá chung về thực hiện biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc ..................................................................................... 54
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP VỀ VIỆC THỰC HIỆN
BIỆN PHÁP VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC ........................ 64
3.1. Quan điểm về việc thực hiện biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở


cai nghiện bắt buộc ..................................................................................... 64
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về biện pháp xử lý
hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ........................................... 66
KẾT LUẬN ................................................................................................ 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TAND

: Tòa án nhân dân

UBND

: Ủy ban nhân dân

XLHC


Bình Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí địa lý
thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 29
khu công nghiệp, 12 cụm công nghiệp, thu hút 33.355 doanh nghiệp trong
nước đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký 264.725 tỷ đồng; 3.406
1


doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký trên 31,08 tỷ
đô la Mỹ. Với điều kiện đó, đã thu hút số lượng lớn dân nhập cư đến sinh
sống và làm việc. Đây là nguồn nhân lực quan trọng để phát triển kinh tế, xã
hội của tỉnh đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, gây áp lực lớn cho
công tác đảm bảo an ninh trật tự nói chung và công tác phòng, chống tội
phạm nói riêng. Đã xuất hiện nhiều băng, nhóm tội phạm hoạt động liên tỉnh,
tập trung ở các khu vực giáp ranh để sau khi gây án hoặc bị phát hiện, truy
đuổi sẽ chạy sang ẩn nấp ở các địa bàn khác, gây khó khăn cho quá trình truy
bắt, điều tra tội phạm. Các loại tội phạm về hình sự, ma túy, người nghiện ma
túy đã di chuyển đến và chọn các địa bàn trọng điểm, phức tạp, khu vực giáp
ranh, các địa bàn tập trung nhiều dân nhập cư như: Dĩ An, Thuận An, Thủ
Dầu Một, Bến Cát, Tân Uyên của tỉnh Bình Dương làm nơi ẩn náu và hoạt
động phạm tội [22, tr.1].
Để giải quyết tốt công tác cai nghiện trên địa bàn tỉnh, nhất là việc đưa
người nghiện đi cai nghiện bắt buộc, tỉnh Bình Dương đã thực hiện nhiều giải
pháp như: Mở các cơ sở điều trị bằng Methadone (tại thành phố Thủ Dầu Một
và thị xã Dĩ An) để hướng dẫn, tạo điều kiện cho người nghiện tiếp cận với
các dịch vụ điều trị thích hợp tại cộng đồng; đẩy mạnh việc hỗ trợ vốn, cho
vay vốn tạo việc làm, dạy nghề và tái hòa nhập cộng đồng đối với người
nghiện ma túy; tăng cường tuyên tuyền, vận động để người nghiện đi cai
nghiện tự nguyện tại Trung tâm…. Tuy nhiên, công tác cai nghiện tại gia
đình, cộng đồng hiện vẫn còn nhiều hạn chế, chưa hiệu quả; việc đưa đi cai
nghiện bắt buộc còn nhiều vướng mắc do các quy định của pháp luật chưa cụ

Thành phố Đà Nẵng.
Luận văn thạc sĩ “Từ biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa
bệnh đến biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” (năm 2014) của Phạm
Tiến Thành - Đại học quốc gia Hà Nội. Luận văn này đã chỉ ra được những
3


biện pháp XLHC dựa trên quy định của pháp luật. Tuy nhiên, phần lý luận còn
mang tính pháp lý, chưa nêu được điểm nổi trội và áp dụng vào thực tiễn.
Luận văn thạc sĩ “Đảm bảo quyền con người trong cơ sở cai nghiện bắt
buộc qua thực tiễn thành phố Hải Phòng” (năm 2016) của Nguyễn Quốc Hiệu
- Đại học quốc gia Hà Nội. Đây là đề tài nêu cao tinh thần bảo vệ quyền con
người khi bị áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà
trước đó chưa có một công trình nghiện cứu nào đề cập đến.
Các công trình nghiên cứu trên đây, đã đưa ra một số vấn đề lý luận
cũng như thực tiễn của việc áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc.
Ngoài ra, trực tiếp đề cập nội dung về các biện pháp XLHC khác có thể
kể đến một số bài viết, chuyên đề và công trình nghiên cứu của một số tác giả
như:
Bài viết “Biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh trong dự thảo luật xử lý
vi phạm hành chính” của tác giả Đào Thị Thu An trong Tạp chí nghiên cứu
lập pháp số 20/2011.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Bộ Tư pháp “Các biện pháp
XLHC khác và việc bảo đảm quyền con người” do Thạc sĩ Đặng Thanh Sơn
làm chủ nhiệm đề tài cùng nhóm nghiên cứu. Đây là công trình có tính quy
mô và khá chi tiết về các biện pháp XLHC khác.
“Kế hoạch tổng thể cai nghiện phục hồi giai đoạn 2001-2010”, Uỷ ban
quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tế nạn ma túy, mại dâm, Hà Nội,
2002.

Bình Dương.
Đề xuất, kiến nghị những giải pháp khoa học có tính khả thi cho việc
hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả việc tổ chức thực hiện

5


pháp luật về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn tỉnh
Bình Dương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của pháp luật và
thực tiễn thực hiện biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng biện pháp đưa
người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại tỉnh Bình Dương,
không mở rộng đến những địa phương khác.
Thời gian: Từ năm 2015 đến nay
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của
Chủ nghĩa Mac – Lênin kết hợp với Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và
pháp luật; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng Sản Việt Nam
đối với vấn đề đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Dựa trên góc độ tiếp
cận lý luận và thực tiễn để từ đó hoàn thiện hệ thống pháp luật trong việc áp
dụng đối với các đối tượng bị nghiện ma túy hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn, tác giả sử dụng linh
hoạt, kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, so sánh
đối chiếu, suy luận logic.

hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC
1.1. Khái niệm, đặc điểm biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc
Ma túy và tác hại của ma túy là mầm mống gây ra những hậu quả nguy
hại nghiêm trọng cho xã hội nói chung, bản thân người nghiện ma túy và gia
đình họ nói riêng. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều
chủ trương, chính sách, đưa ra nhiều biện pháp nhằm ngăn ngừa, phòng,
chống ma túy. Một trong những biện pháp đó là XLHC đưa người nghiện vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp XLHC áp
dụng đối với người nghiện ma túy để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học
nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc; Áp dụng biện pháp
XLHC đối với người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được quy định cụ
thể tại Luật XLVPHC năm 2012, Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày
30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp XLVPHC đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016
của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐCP.
1.1.1. Khái niệm về ma túy và người nghiện ma túy
1.1.1.1. Khái niệm về ma túy
Ma túy là tên gọi chung của các chất kích thích mà sử dụng nhiều lần
có thể gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo. Không có một định
nghĩa chung thống nhất nào về khái niệm này. Ở mỗi góc độ tiếp cận, ma túy
lại được hiểu theo những cách khác nhau.


9


- Danh Mục IV: Các tiền chất sử dụng vì Mục đích quốc phòng, an ninh
do Bộ Công an quản lý và cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu. Các tiền chất sử
dụng trong lĩnh vực thú y do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý
và cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu.
Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017
quy định về ma tuý theo hướng liệt kê như sau: Ma tuý bao gồm nhựa thuốc
phiện, nhựa cần sa, cao coca, Heroine, Cocaine, Methamphetamine,
Amphetamine, MDMA, XLR-11, các chất ma túy khác ở thể rắn hoặc thể
lỏng.
Từ những khái niệm trên, có thể thấy ma túy có đặc tính làm thay đổi
trạng thái, ý thức, trí tuệ và tâm trạng của người sử dụng khiến cho họ có cảm
giác giảm đau, dễ chịu, lâng lâng và không tự chủ được hành vi của bản thân,
ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người sử dụng. Tùy vào loại ma túy cũng như số
lượng và sự điều độ trong việc sử dụng là những tác nhân có thể dẫn đến
việc nghiện của người sử dụng. Thông thường, số lớn chất ma túy tổng hợp có
khả năng gây nghiện cao đồng thời có sức tàn phá cơ thể của người dùng hơn
chất tinh khiết tự nhiên. Nếu sử dụng nhiều lần sẽ dẫn đến tình trạng bị lệ
thuộc về cơ thể, tâm thần hoặc cả hai. Người sử dụng ma túy do không kiểm
soát được bản thân sẽ có những hành vi gây hậu quả nặng nề cho chính mình,
gia đình và xã hội.
1.1.1.2. Khái niệm người nghiện ma túy
Người nghiện ma túy là những đối tượng tiềm ẩn gây nguy hiểm cho xã
hội thông qua những hành vi mà một khi lên cơn sẽ không kiểm soát được.
Những đối tượng này thường tập trung theo nhóm và tụ tập hút hít ở những
nơi vắng, ít người qua lại…Tùy theo từng mức độ nghiện mà người nghiện sẽ
có những biểu hiện bên ngoài khác nhau.

tư liên tịch này).
11


* Đối với nghiện ma túy nhóm Amphetamine: Người được xác định là
nghiện ma túy tổng hợp chất dạng Amphetamine khi có ít nhất 3 trong 6 triệu
chứng sau trong 12 tháng vừa qua:
- Có sự thèm muốn mãnh liệt hoặc cảm giác bắt buộc phải sử dụng chất
dạng Amphetamine;
- Khó khăn trong việc kiểm soát các hành vi sử dụng chất dạng
Amphetamine như bắt đầu, chấm dứt hoặc mức độ sử dụng;
- Có trạng thái cai khi ngừng hoặc giảm sử dụng chất dạng
Amphetamine;
- Có hiện tượng tăng dung nạp với chất dạng Amphetamine;
- Ngày càng trở nên thờ ơ với các thú vui hoặc sở thích khác;
- Tiếp tục sử dụng chất dạng Amphetamine mặc dù biết rõ về các hậu
quả có hại.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm cơ sở cai nghiện bắt buộc
1.1.2.1. Khái niệm cơ sở cai nghiện bắt buộc
Cơ sở cai nghiện bắt buộc là nơi cách ly có thời hạn từ 12 đến 24 tháng
cho những người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp
giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện
pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định nhằm tách ra khỏi cộng đồng
theo quy định của pháp luật để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề và
cải tạo thành người bình thường.
Cơ sở cai nghiện bắt buộc thành lập theo quy định tại Nghị định
số 55/2012/NĐ-CP ngày 28 tháng 06 năm 2012 của Chính phủ quy định về
thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập. Căn cứ vào tình hình
thực tế tại địa phương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định việc thành lập,
giải thể cơ sở cai nghiện bắt buộc phù hợp quy hoạch được Thủ tướng Chính

Ba là, các cơ sở cai nghiện ma túy công lập có các chức năng gồm: tổ
13


chức cai nghiện ma túy bắt buộc; tổ chức cai nghiện ma túy tự nguyện; tổ
chức tiếp nhận người sử dụng, người nghiện ma tuý không có nơi cư trú ổn
định; tổ chức điều trị thay thế.
1.1.3. Khái niệm, đặc điểm của biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc
1.1.3.1. Khái niệm về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là một trong bốn biện pháp
XLHC được quy định tại Luật XLVPHC năm 2012. Đây là biện pháp do
TAND cấp huyện xem xét, quyết định áp dụng đối với người nghiện ma túy
từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi
cư trú ổn định nhằm mục đích cách ly người nghiện ma túy khỏi cộng động,
buộc họ chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề tại cơ sở cai nghiện bắt
buộc.
Trước ngày 01 tháng 01 năm 2014, việc áp dụng biện pháp đưa người
nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại Pháp lệnh XLVPHC
năm 2002. Biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh là biện pháp XLHC được áp
dụng đối với người nghiện ma túy và người bán dâm với mục đích là bắt buộc
cai nghiện, chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của
các cơ sở chữa bệnh. Biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh nói riêng và các
biện pháp XLHC khác nói chung là những biện pháp hạn chế quyền tự do của
công dân, do người đứng đầu cơ quan hành chính ở địa phương quyết định.
Việc trao thẩm quyền cho những người đứng đầu cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương để đưa phán quyết ảnh hưởng đến các quyền hiến định về
bất khả xâm phạm về thân thể, được bảo vệ về danh dự, nhân phẩm, tự do đi
lại, tự do cư trú của công dân… là chưa phù hợp với Hiến pháp năm 2013

bệnh sang biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Luật XLVPHC
15


2012 sẽ bảo đảm tính công khai, minh bạch và dân chủ, công bằng.
Về cơ bản, quy định về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại
Luật XLVPHC 2012 được xây dựng theo hướng kế thừa các quy định của
biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh XLVPHC 2002. Mục đích
của biện pháp này vẫn được quy định như Pháp lệnh là đưa người vi phạm
vào cơ sở để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của
cơ sở. Thời hạn áp dụng biện pháp này được quy định là từ một năm đến hai
năm. Về hình thức, cơ cấu các điều luật được thể hiện giống như Pháp lệnh
XLVPHC năm 2002. Về nội dung, có hai điểm sửa đổi lớn là (1) hạn chế đối
tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh chỉ bao gồm người
nghiện ma túy; (2) sửa đổi trình tự, thủ tục áp dụng theo hướng công khai,
minh bạch hơn nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của công dân. [21, tr.64]
1.1.3.2. Đặc điểm của biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Từ quan điểm trên mà việc áp dụng các biện pháp đưa người nghiện
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có những đặc điểm sau:
Một là, biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cơ
quan có thẩm quyền thi hành bằng biện pháp cưỡng chế hành chính nhà nước.
Nó có tính pháp lý, bởi vì biện pháp này được quy định cụ thể trong các văn
bản quy phạm pháp luật của nhà nước, Luật, Nghị định của Chính phủ… Biện
pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cũng do các cơ quan có
thẩm quyền áp dụng theo quy định của pháp luật.
Hai là, biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là
biện pháp xử lý chỉ áp dụng đối với công dân Việt Nam, được xác định là bị
nghiện và có những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội. Đối với trường hợp
người nước ngoài có hành vi nghiện ma túy mà bị cơ quan chức năng phát
hiện tại lãnh thổ Việt Nam thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình

Thứ hai, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có mục đích giáo
17


dục, chú ý đến cải tạo tư tưởng, coi trọng các mối quan hệ của người bị áp
dụng với cộng đồng, gia đình và xã hội. Giáo dục là mục đích quan trọng của
biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bắt nguồn từ bản chất nhân đạo
sâu sắc của xã hội ta luôn tạo điều kiện hoàn thiện nhân cách con người, biết
tôn trọng và tuân thủ pháp luật. Mục đích giáo dục ở đây không chỉ là giáo dục
ý thức chấp hành pháp luật của đối tượng vi phạm mà còn cảm hóa, giáo dục
cả về đạo đức, lối sống, cũng như phục hồi sức khỏe tạo điều kiện cho người
nghiện trở thành người công dân có ích cho xã hội, sớm hòa nhập cộng đồng.
Thứ ba, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được áp dụng
nhằm mục đích trừng phạt người có hành vi vi phạm hành chính. Tính trừng
phạt được coi là một thuộc tính vốn có của các biện pháp cưỡng chế, không
chỉ có trong cưỡng chế hành chính mà còn trong cả cưỡng chế hình sự, cưỡng
chế dân sự… Trong luật hình sự thì một trong các mục đích của hình phạt đó
là tính trừng trị của hình phạt. Tương tự như vậy, các biện pháp cưỡng chế
hành chính có tính trừng phạt tương đối cao, chỉ sau cưỡng chế hình sự. Đặc
biệt là các biện pháp XLHC khác, trong đó có biện pháp đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc. Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là một biện
pháp tính cưỡng chế tương đối cao khi nội dung của nó là tước bỏ một số
quyền nhân thân của người bị áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định.
Chính vì tính chất này nên người bị áp dụng chúng sẽ phải sinh sống, học tập,
cai nghiện và chịu sự quản lý nghiêm ngặt của các cơ sở này.
Tính trừng phạt của biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là hết
sức cần thiết. Bởi vì, đối tượng bị áp dụng biện pháp này là những đối tượng
nghiện ma túy, đã bị áp dụng các biện pháp XLHC khác ở cấp độ nhẹ hơn
nhưng vẫn tái phạm hoặc các đối tượng này không có nơi cư trú ổn định. Các
đối tượng này thường có những hành vi vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status