“Sự tham gia của người dân trong việc phân loại rác thải tại nguồn” (Nghiên cứu tại quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh) (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

DƯƠNG VĂN THẮNG

SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN
TRONG VIỆC PHÂN LOẠI RÁC THẢI TẠI NGUỒN
(Nghiên cứu tại quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội, 2019

1


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

DƯƠNG VĂN THẮNG

SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN
TRONG VIỆC PHÂN LOẠI RÁC THẢI TẠI NGUỒN
(Nghiên cứu tại quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh)

Ngành: XÃ HỘI HỌC
Mã số: 8.31.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Chí Minh nói chung đã có rất nhiều hoạt động truyền thông tới người dân về thực
hiện phân loại rác thải sinh hoạt. Tuy nhiên, nhận thức và hành vi của người dân
trong việc phân loại rác thải rắn sinh hoạt tại nguồn đang còn hạn chế. Để đảm bảo
tính bền vững trong quá trình quản lý rác thải, bên cạnh vấn đề kinh tế - tài chính, kỹ
thuật, thể chế - chính sách thì yếu tố nhận thức và hành vi của người dân cũng cần được
phân tích và đánh giá nhằm rút ra bài học kinh nghiệm, những điểm tích cực và hạn chế

3


trong quá trình triển khai thực hiện và quản lý phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn.
Từ đó để có những chiến lược triển khai tốt hơn khi nhân rộng mô hình phân loại rác thải
này. Bởi vì, theo một số địa phương đã triển khai phân loại rác thải thì tại những địa bàn
sau khi đã được chọn là thí điểm về phân loại rác, người dân hết nhận được những sự hỗ
trợ từ chính quyền địa phương về phương tiện, công cụ,… phân loại rác thì họ sẽ tiếp tục
quay lại thói quen như trước đây và không duy trì hoạt động phân loại rác theo quy định
nữa. Đây không chỉ là vấn đề đang được cán bộ quản lý cấp cấp quan tâm mà cũng còn
nhận được sự thu hút rất lớn đối với các nhà nghiên cứu. Với những lý do trên đây, tác
giả luận văn quyết định lựa chọn đề tài “Sự tham gia của người dân trong việc phân
loại rác thải tại nguồn” (Nghiên cứu tại quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh) làm
đề tài luận văn của mình. Trong nghiên cứu này, tác giả luận văn sẽ tập trung vào việc
tìm hiểu nhận thức của người dân về chủ trương phân loại rác thải như thế nào, hành vi
phân loại rác tại nguồn (nguyên tắc phân loại, cách thức phân loại và xử lý chất thải sau
phân loại) của địa phương ra sao? Bên cạnh đó, tác giả cũng sẽ phân tích một số yếu tố
tác động đến đến nhận thức và hành vi của người dân trong hoạt động phân loại chất
thải rắn sinh hoạt và sẽ đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia của người dân
trong hoạt động phân loại và xử lý chất thải sinh hoạt tại nguồn góp phần bảo vệ
môi trường sống.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Qua quá trình tìm hiểu những nguồn tài liệu có sẵn về vấn đề nghiên cứu thì

hưởng đến nhận thức của người dân trong quản lý rác thải sinh hoạt như là giới tính,
độ tuổi và trình độ học vấn. Tác giả cũng đã đưa ra 3 giải pháp nhằm nâng cao nhận
thức của người dân trong quản lý rác thải sinh hoạt như là tuyên truyền phổ biến
kiến thức, tổ chức các chương trình giữ vệ sinh chung, xây dựng các quy định của
thôn xóm và hệ thống chế tài xử phạt với hành vi gây ô nhiễm môi trường [5].
2.2. Các nghiên cứu về mô hình xử lý rác
Bên cạnh việc tìm hiểu nhận thức của người dân trong vấn đề phân loại chất
thải thì đã có một số tác giả nghiên cứu xây dựng các mô hình về phân loại chất thải
rắn sinh hoạt. Cụ thể là trong “Nghiên cứu đề xuất mô hình phân loại chất thải rắn
sinh hoạt tại nguồn cho các hộ gia đình ở phường Hiệp An” của tác giả Bùi Phạm
Phương Thanh và Nguyễn Thị Ánh Linh (2016) cho thấy tình trạng thu gom, quản
lý và xử lý chất thải rắn trong sinh hoạt vẫn theo phương pháp truyền thống. Nghiên

5


cứu đã cho thấy hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt tại các hộ gia đình, đánh giá
nhận thức của người dân về việc phân loại rác thải tại nguồn. Đồng thời, tác giả đã
đề xuất 3 mô hình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn cho các hộ gia đình
bao gồm hộ kinh doanh, hộ công nhân, viên chức và hộ nông nghiệp. Trong nghiên
cứu này, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng (375 phiếu điều tra
các hộ gia đình) và phương pháp nghiên cứu định tính (18 nhân viên thu gom rác
thải) để đánh giá tình hình thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt và ý thức về việc phân
loại rác thải tại nguồn; lấy 140 mẫu chất thải rắn sinh hoạt từ các hộ gia đình trong 7
ngày liên tiếp để xác định thành phần, khối lượng của chất thải rắn nhằm xây dựng
mô hình phân loại rác thải. Bên cạnh đó, sử dụng phương pháp phân tích SWOT
nhằm phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của công tác quản lý
chất thải rắn sinh hoạt. Có 71,2% người được hỏi trả lời là tham gia “Mô hình phân
loại rác thải tại nguồn” khi được cấp miễn phí thùng rác, túi đựng rác. Và khi không
có sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương thì mô hình khó mà có thể tồn tại lâu dài

được. Sự lôi kéo học sinh tham gia phân loại rác đang hạn chế do các em bận học
nhiều, chỉ tham gia khi nhà trường yêu cầu.
Nhóm nghiên cứu đã thiết kế phương tiện tuyên truyền dựa trên ý kiến của
học sinh và sau đó thì tiếp tục khảo sát lại thì kết quả đã thay đổi theo chiều hướng
tích cực. Với những hình thức tuyên truyền sử dụng tài liệu, tờ rơi, đĩa CD kết hợp
với tổ chức ngoại khóa thì nhận thức của học sinh về rác và phân loại rác tại nguồn
đã thay đổi rất tốt. Kết quả cho thấy 70% đĩa CD đã đáp ứng nhu cầu tiếp cận thông
tin và tờ rơi là 89%. Các học sinh đều muốn tham gia phân loại rác và còn muốn
tuyên truyền cho những người khác xung quanh. Không những vậy, tác giả còn đề
xuất hình thức phân loại rác tại nguồn trong trường học [3].
Mặc dù, nhóm nghiên cứu đã đưa ra những chiến lược tác động làm thay đổi nhận
thức của học sinh nhưng chưa có thể mô tả rõ những hoạt động của nhà trường nhằm duy
trì và phát huy tốt hoạt động này trong trường học trong tương lai như thế nào?
2.3. Các nghiên cứu về sự tham gia của người dân trong phân loại và xử
lý rác thải
Việc phân loại chất thải trước hết đòi hỏi phải xuất phát từ chủ trương, kế
hoạch của Đảng và Nhà nước và sau đó sẽ được triển khai kế hoạch đó trong nhân
dân. Tuy nhiên, một trong những yếu tố góp phần quyết định tới sự thành công của

7


việc phân loại chất thải đó là sự đồng thuận, sự tham gia của người dân. Ở nghiên
cứu “Sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải đảm bảo phát
triển bền vững đô thị” (Nghiên cứu trường hợp quận Hoàn Kiếm và huyện Ứng
Hòa, Hà Nội) của Nguyễn Thị Kim Nhung (2014) đã tập trung vào đánh giá tình
hình quản lý rác thải tại quận Hoàn Kiếm và huyện Ứng Hòa. Đồng thời, nghiên
cứu cũng đã tìm hiểu các hoạt động người dân đang thực hiện trong quá trình quản
lý rác thải, nhận diện yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của người dân trong
hoạt động đó và phân tích các yếu tố này trong bối cảnh đảm bảo mục tiêu phát

thôn/tổ trưởng tổ dân phố, nhóm người thu mua phế liệu, đoàn thể xã hội và chính
quyền); những yếu tố xã hội (các chính sách, các yếu tố văn hóa – xã hội, truyền
thông). Ngoài ra, tác giả còn đề xuất giải pháp thúc đẩy sự tham gia của người dân
trong hoạt động phân loại, thu gom và xử lý rác thải [9].
Sự tham gia của người dân trong việc phân loại chất thải của có sự chi phối,
tác động của rất nhiều đối tượng khác. Trong bài viết “Ảnh hưởng của các bên liên
quan đến mức độ tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải ở Hà
Nội” của Nguyễn Thị Kim Nhung (2014) đã phân tích sự ảnh hưởng của các bên
liên quan đến sự tham gia của người dân trong hoạt động phân loại, thu gom và xử
lý rác thải. Đó là công nhân vệ sinh môi trường, nhóm tự quản cơ sở như trưởng
thôn/tổ trưởng tổ dân phố, đoàn thể xã hội, nhóm thu mua phế liệu và chính quyền
cấp quận/huyện, phường/xã. Vai trò của các nhóm, tổ chức này là vận động những
người dân tại cộng đồng tham gia phân loại chất thải và giám sát quá trình thực
hiện, kết nối các bên liên quan khác tại khu dân cư. Vai trò của chính quyền địa
phương cũng rất quan trọng trong việc thi hành các chính sách, tổ chức các chiến
dịch giáo dục vận động tại cộng đồng hay hỗ trợ và ủng hộ sự tham gia hoạt động
của các tổ chức đoàn thể, cộng đồng dân cư. Ngoài ra, tác giả còn đưa ra một số
khuyến nghị nhằm tăng cường sự tham gia của các bên liên quan trong hoạt động
quản lý rác thải ở Hà Nội [11].
2.5. Các nghiên cứu về lý thuyết và phương pháp trong nghiên cứu về
phân loại và xử lý rác thải
Bên cạnh việc phân tích để nhấn mạnh vai trò sự tham gia của người dân và
các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân thì tác giả Nguyễn Thị Kim
Nhung cũng đã có bài viết về sự vận dụng lý thuyết sự tham gia của cộng đồng

9


trong vấn đề về môi trường.“Lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng và khả năng
vận dụng vào quá trình ra các quyết định môi trường tại Việt Nam” của Nguyễn

thực hiện một nhiệm vụ nhất định, mang thái độ hợp tác nhiều hơn là sự tham gia
trực tiếp vào ra các quyết định [6, tr 210 - 211]. Liên quan đến một số vấn đề môi
trường ở cộng đồng thì người dân cũng có sự tham gia bàn bạc, thảo luận và đưa ra
hướng giải quyết tại thôn xóm nhưng tổ trưởng dân phố/trưởng thôn thường đóng
vai trò định hướng, quyết định. Còn đối với những vấn đề vượt quá khu vực thôn

10


xóm thì chỉ những người đại diện người dân, lãnh đạo các cấp, cán bộ đoàn thể,…
tham gia. Lúc này, người dân chỉ đóng vai trò là người tiếp nhận thông tin và tuân
theo thực hiện các quy định, quyết định đã ban hành.
Như vậy, sự tham gia của cộng đồng sẽ gặp phải sự hạn chế. Trong khi đó,
chúng ta có thể thấy nếu có sự tham gia của cộng đồng thì hiệu quả triển khai các
quyết định sẽ tốt hơn rất nhiều.
Về mặt phương pháp nghiên cứu, các nghiên cứu trước các tác giả đã sử
dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với phương pháp định tính như
phương pháp phỏng vấn sâu để thu thập các thông tin cụ thể hơn (Nguyễn Phượng
Lê và Trần Duy Tùng, Bùi Phạm Phương Thanh và Nguyễn Thị Ánh Linh, Phùng
Khánh Chuyên và Ngô Vân Thụy Cẩm,…),
Các nghiên cứu trước đây đã cho thấy lượng rác thải tạo ra ngày càng nhiều
gây nên khiến ô nhiễm môi trường, gây mất mỹ quan và ảnh hưởng trực tiếp đến
sức khỏe của con người. Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức người dân trong thu
gom và xử lý rác thải sinh hoạt đang còn rất hạn chế. Các yếu tố ảnh hưởng đến
nhận thức của người dân trong quản lý rác thải sinh hoạt như là giới tính, độ tuổi và
trình độ học vấn. Một số tác giả đã xây dựng mô hình phân loại chất thải dành cho
các hộ gia đình và trường học. Yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân
trong hoạt động quản lý rác thải là: nhóm yếu tố thuộc về người dân, sự tham gia
của các bên liên quan trong hoạt động quản lý rác, những yếu tố xã hội. Lý thuyết
sự tham gia của cộng đồng cũng đã được phân tích nhằm vận dụng trong lĩnh vực

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
-

Nhận thức của người dân về việc phân loại rác thải rắn tại nguồn.

-

Thực trạng hành vi phân loại rác thải rắn tại nguồn của người dân (nguyên tắc
phân loại, cách thức phân loại và xử lý chất thải sau khi phân loại,…).

-

Nhận diện và phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi
của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt. Từ đó, đối
chiếu phân tích các yếu tố này trong bối cảnh đảm bảo mục tiêu phát triển
bền vững đô thị hiện nay.

-

Đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia của người dân trong hoạt động
phân loại và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn.

12


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
-

Đối tượng nghiên cứu: Phân loại rác thải tại nguồn của người dân nội thành.



Trong nghiên cứu này, tác giả vận dụng một số lý thuyết xã hội học như lý
thuyết sự tham gia của cộng đồng và lý thuyết sự lựa chọn hợp lý để giải thích hành
vi tổ chức các lớp tập huấn, tuyên truyền về kế hoạch phân loại chất thải rắn sinh
hoạt tại nguồn cho cán bộ từ các cấp tại địa phương, người dân và hành vi người
dân tích cực tham gia các buổi tuyên truyền, hướng dẫn cũng như là thực hiện phân
loại chất thải rắn sinh hoạt. Đề tài sẽ phân tích cụ thể và bổ sung thêm cơ sở lý luận
về phân loại rác thải tại nguồn (khái niệm). Đồng thời, nghiên cứu cũng sẽ cung cấp
những minh chứng khoa học về phân loại rác thải tại nguồn ở khu vực đô thị.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
-

Phân tích tài liệu thứ cấp:
Nghiên cứu này đã sử dụng tư liệu từ các công trình nghiên cứu khác nhau.

Chủ yếu dựa trên các tài liệu liên quan đến vấn đề được đăng tải trên Tạp chí Xã hội
học, báo cáo thống kê của địa phương, các nguồn tài liệu về các hoạt động liên quan
đến phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn của quận Phú Nhuận,... để làm rõ
tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận, góp phần bổ sung luận điểm trong đề tài
nghiên cứu.
Ngoài ra, trong đề tài này, tác giả còn sử dụng kết hợp với những phương
pháp khác như: so sánh, phân tích. Các thông tin thu thập được từ quá trình tổng
quan tài liệu sẽ giúp người nghiên cứu có cái nhìn tốt hơn về vấn đề nghiên cứu của
mình thực hiện.
-

Phương pháp thu thập thông tin định lượng:
Điều tra bảng hỏi: Đề tài sử dụng bảng hỏi là công cụ thu thập thông tin chủ


4.496

17.219

3

Phường 3

2.545

9.605

4

Phường 4

3.485

15.054

5

Phường 5

4.158

18.322

6


10

Phường 11

2.826

10.597

11

Phường 12

1.830

6.234

12

Phường 13

2.116

8.818

13

Phường 14

2.008




Bảng 1.2: Cơ cấu mẫu điều tra định lượng phân chia theo phường và giới tính
Tên phường

STT

Số lượng hộ

1

Phường 1

35

2

Phường 2

35

3

Phường 3

35

4

Phường 4


35

10

Phường 11

35

11

Phường 12

110

12

Phường 13

35

13

Phường 14

35

14

Phường 15

lệ

(%)

Nam

300

50

Nữ

300

50

Tổng

600

100

Từ 18 – 29 tuổi

65

10,8

Từ 30 – 39 tuổi


49

8,2

Trung học phổng thông

272

45,3

73

12,2

Đại học

193

32,2

Trên đại học

13

2,2

Tổng

600


32,8

Học sinh, sinh viên

23

3,8

Kinh doanh

58

9,7

Nghề khác

105

17,5

Tổng

600

100

Trình độ học Trung cấp, cao đẳng
vấn

suất Tỷ

học đô thị và những ai quan tâm tới vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài nghiên cứu được chia làm 3 chương
như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Nhận thức và hành vi phân loại tác thải tại nguồn của người
dân ở quận Phú Nhuận
Chương 3: Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi phân loại
rác thải tại nguồn của người dân

18


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Hệ thống khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
Sự tham gia của người dân
Oakley (1989) cho rằng tham gia là một quá trình tạo ra khả năng nhạy cảm
của quần chúng và nâng cao năng lực tiếp thu các cái mới và khích lệ các sáng kiến
mới ở địa phương. Quá trình này hướng tới những nỗ lực có tổ chức nhằm tăng
cường kiểm soát các nguồn lực và các tổ chức điều hành trong những hoàn cảnh xã
hội nhất định.
Sự tham gia có nghĩa là cùng thực hiện một hoạt động nào đó. Hàng ngày con
người “tham gia” vào sự phát triển của địa phương thông qua hoạt động sống của cá
nhân và gia đình, các hoạt động sinh kế và trách nhiệm đối với cộng đồng (Trương Văn
Tuyển, 2007, Phát triển cộng đồng. Giáo trình của Trường Đại học Nông Lâm Huế,
Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2005). Không có một ví dụ đơn lẻ đúng đắn nào về sự
tham gia. Tuy nhiên, việc kiểm soát hoạt động và mức độ sự tham gia luôn là sự gắn
kết một cách lâu dài, chủ động và có vai trò ngày càng cao vào quá trình phát triển.

muốn dùng nữa [8].
-

Chất thải rắn sinh hoạt

Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt): là chất thải rắn phát sinh trong
sinh hoạt thường ngày của con người [17].
-

Khái niệm phân loại rác thải:

Phân loại chất thải rắn sinh hoạt là hoạt động phân tách chất thải nhằm chia thành các
loại hoặc nhóm chất thải để có các quy trình quản lý khác nhau [17].
-

Phân loại chất thải rắn sinh hoạt:
1. Chất thải rắn sinh hoạt được phân loại tại nguồn phù hợp với mục đích quản
lý, xử lý thành các nhóm như sau:
a) Nhóm chất thải hữu cơ dễ phân hủy (nhóm thức ăn thừa, lá cây,

rau, củ, quả, xác động vật).
b) Nhóm chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế (nhóm giấy, nhựa, kim loại,
cao su, ni lông, thủy tinh).
c) Nhóm chất thải còn lại (không bao gồm chất thải nguy hại phát sinh từ hộ
gia đình, chủ nguồn thải).
2. Tiêu chí phân loại “đạt” là: Hỗn hợp nhóm chất thải hữu cơ dễ phân hủy
hoặc nhóm chất thải còn lại được xem là phân loại đạt khi thành phần chất thải hữu
cơ dễ phân hủy hoặc thành phần chất thải còn lại lẫn dưới 10% khối lượng chất thải
khác nhóm trong danh mục nhóm chất thải phân loại do Sở Tài nguyên và Môi
trường ban hành.

Khái niệm bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp,

cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu
do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết
kiệm tài nguyên thiên nhiên. Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi
trường, thống nhất quản lý bảo vệ môi trường trong cả nước, có chính sách đầu tư, bảo
vệ môi trường, có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa
học và công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường. Luật
Bảo vệ Môi trường của Việt Nam ghi rõ trong Điều 6: “Bảo vệ môi trường là sự nghiệp
của toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp

21


luật về bảo vệ môi trường, có quyền và trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường” [12].
-

Khái niệm phát triển bền vững đô thị:
Là mối quan hệ bền vững của ba yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường trong một

khung thể chế phù hợp, đảm bảo chất lượng cuộc sống cho thế hệ hiện tại mà không làm
hao tổn đến khả năng đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống của thế hệ tương lai.
1.1.2. Câu hỏi nghiên cứu
-

Người dân nhận thức như thế nào về việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại
nguồn?



22


1.1.4. Khung phân tích
Yếu tố thuộc về người
dân:
- Giới tính
- Độ tuổi
- Trình độ học vấn
- Nghề nghiệp

Vấn đề
truyền thông
về chất thải
rắn sinh hoạt
tại nguồn

Yếu tố thuộc
về kỹ thuật
thu gom và
xử lý rác thải

Vấn đề
quản lý vệ
sinh môi
trường

Phân loại chất thải rắn
sinh hoạt tại nguồn ở


Tiêu chí phân loại chất thải

-

Xử lý chất thải

1.1.5. Lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu
Lý thuyết sự tham gia của cộng đồng
Ở bài viết của Harding và cộng sự (2009), tác giả đã phân tích khái niệm “sự
tham gia của cộng đồng” là bao gồm thuật ngữ “sự tham gia” và “cộng đồng”. Khái
niệm “sự tham gia” trong lĩnh vực môi trường được hiểu là quá trình đối thoại giữa
cộng đồng và người ra quyết định, giữa một bên là cá nhân, nhóm, tổ chức với một
bên là nhóm chính quyền trong việc thảo luận và ra các quyết định môi trường. Còn
thuật ngữ cộng đồng bao gồm các chủ thể đóng góp hay ảnh hưởng bởi các quyết
định môi trường, bao gồm những người hoạch định chính sách, chuyên gia, doanh
nhân, các cá nhân thụ hưởng, tổ chức dân sự và người dân.

23


Trong một góc độ khác khi tiếp cận về khái niệm này, Marzuki (2009) cho
rằng sự tham gia của cộng đồng được thể hiện như sau:
-

Sự tham gia là quá trình trao quyền cho mỗi cá nhân trong cộng đồng được tham
gia vào việc xây dựng và ra các quyết định và chính sách của chính phủ;

-



Cộng tác

5

Xoa dịu

4

Tham vấn

3

Cung cấp thông tin

2

Trị liệu/tâm lý

1

Vận động

Mức độ trao quyền cho công dân

Mức độ có dấu hiệu của sự tham gia

Mức độ không tham gia

24

phổ biến hoạt động phân loại, kiểm soát hoạt động này tại cộng đồng mình đang
sinh sống. Cán bộ liên quan đến triển khai kế hoạch này đã tích cực tổ chức các lớp
tập huấn, phổ biến kiến thức về phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn cho
người dân. Người dân tại địa phương đã rất tích cực tham gia các hoạt động đó và

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status