Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở của phường bình thọ, quận thủ đức, thành phố hồ chí minh ( Luận văn thạc sĩ) - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THANH CA

THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ CỦA
PHƯỜNG BÌNH THỌ, QUẬN THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI, NĂM 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THANH CA

THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ CỦA
PHƯỜNG BÌNH THỌ, QUẬN THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành

: Chính trị học

Mã số

: 8310201

địa phương, các cơ sở.................................................................................. 69
3.4. Kiện toàn Tổ chỉ đạo đồng thời củng cố hoạt động của Ban thanh tra
nhân dân ...................................................................................................... 72
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 77

1


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ trước đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi thực hiện dân
chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của cách mạng. Đảng ta khẳng định phải “lấy dân làm gốc”, đề ra phương
châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Để đáp ứng yêu cầu của
giai đoạn phát triển mới, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành
nhiều Nghị định, Chỉ thị quan trọng nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng
tạo của nhân dân để phát triển kinh tế, ổn định chính trị, phát triển xã hội như
Chỉ thị 30- CT/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân
chủ ở cơ sở, Nghị định số 79/2003/NĐ-CP của Chính phủ ban hành quy chế
thực hiện dân chủ ở xã, Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11. Đây là một bước
tiến lớn thể hiện sự quyết tâm củng cố, hoàn thiện và phát triển nền dân chủ
XHCN của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời cũng là phương thức giải quyết
các nhiệm vụ, mục tiêu chung của đất nước trong công cuộc đổi mới. Việc
ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở là một chủ trương hết sức đúng đắn, hợp
lòng dân của Đảng và Nhà nước ta; đáp ứng kịp thời tâm tư, nguyện vọng,
những vấn đề bức xúc của người dân, đáp ứng được nhu cầu bức thiết và lợi
ích to lớn, trực tiếp của đông đảo quần chúng nhân dân lao động, được nhân
dân hưởng ứng rất nhiệt tình và tích cực thực hiện. Vì vậy, sau gần 10 năm
thực hiện, Quy chế dân chủ ở cơ sở thực sự đã đi vào cuộc sống, tác động

khoa học quan tâm, nghiên cứu với nhiều bài viết, nhiều công trình đã được
công bố, xuất bản thành sách. Có thể chia thành 2 nhóm: Nhóm lý luận chung
và Nhóm khảo sát kết quả thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở một số địa
phương.
- Nhóm lý luận chung bao gồm:

3


Một trong nhiều công trình điển hình có giá trị tham khảo như "Quy
chế thực hiện dân chủ cấp xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của tác giả
Dương Xuân Ngọc (2000). Công trình đã đi sâu vào chỉ rõ ý nghĩa và tầm
quan trọng của Quy chế thực hiện dân chủ cấp xã cả về mặt lý luận và thực
tiễn.
Cũng quan tâm đến vấn đề lý luận và thực tiển của việc thực hiện Quy
chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay, tác giả Nguyễn Cúc (2002) đã
tập trung làm sáng tỏ một số khía cạnh chủ yếu về lý luận và thực tiễn của
việc thực hiện QCDC ở cơ sở trong tình hình hiện nay ở nước ta trong đề tài
“Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay. Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn”.
Tác giả Trần Bạch Đằng cũng khẳng định thực hiện dân chủ ở cơ sở là
một trong những khâu rất quan trọng nhằm hoàn thiện cơ chế nhân dân làm
chủ xã hội trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam trong đề tài “Dân chủ ở cơ sở
một sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số
35/2003. Theo tác giả, đây là một vấn đề không chỉ mang ý nghĩa thời sự mà
còn là một sự tiếp nối truyền thống, phát huy sức mạnh của dân được hình
thành trong lịch sử mấy nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân
tộc ta.
Cũng đề cập về thực trạng việc Thực hiện dân chủ cơ sở ở nước ta hiện
nay tác giả Trần Khắc Việt tại Tạp chí Lý luận chính trị, số 9/2004 đã chỉ ra

Đề tài được thực hiện nhằm đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả thực hiện quy chế dân chủ ở phường Bình Thọ góp phần thực hiện thắng
lợi sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho nhân dân, phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, thành phố Hồ
Chí Minh.
3.2. Nhiệm vụ
6


- Phân tích khái quát một số vấn đề lý luận của việc thực hiện Quy chế
dân chủ cơ sở.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
của phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế
dân chủ ở cơ sở tại phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí
Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở của phường Bình Thọ, quận Thủ
Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí
Minh.
- Thời gian: Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở ở phường Bình
Thọ từ năm 2015 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam.

1.1. Dân chủ và Quy chế dân chủ ở cơ sở
1.1.1. Khái niệm Dân chủ, Dân chủ cơ sở và Quy chế dân chủ ở cơ sở
1.1.1.1. Dân chủ
Thuật ngữ dân chủ xuất hiện từ thời cổ đại. Người đầu tiên đưa ra khái
niệm dân chủ là nhà sử học, nhà chính trị học người Hy Lạp là Hêrôđốt (484
- 425 trước Công nguyên) khi ông xem xét các thể chế chính trị trong lịch sử.
Theo ông, lịch sử đã xuất hiện ba kiểu thể chế chính trị: quân chủ, quý tộc và
dân chủ, trong đó dân chủ là thể chế chính trị do nhân dân nắm quyền lực
thông qua con đường bầu cử. Để chỉ một hiện thực dân chủ đã được thiết lập
trên thực tế, trong ngôn ngữ đã xuất hiện thuật ngữ democratia, nghĩa là
quyền lực thuộc về nhân dân (democratia là từ ghép của hai từ demos là nhân
dân, cratos là quyền lực). Như vậy, với nguyên nghĩa của từ, dân chủ là
quyền lực thuộc về nhân dân. Nhân dân là chủ thể của quyền lực, sử dụng
quyền lực để tổ chức, quản lý xã hội, phát triển xã hội, phát triển con người.
Với ý nghĩa đó, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã
hội - nhất là xã hội có giai cấp.
Ngay từ xã hội cộng sản nguyên thủy con người đã biết sống gắn bó với
nhau thành cộng đồng để tồn tại và phát triển. Họ biết sử dụng sức mạnh của
cộng đồng để thực hiện quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh
phúc. Một hình thức đặc biệt của dân chủ đã xuất hiện mà Ăngghen gọi là dân
chủ quân sự hay dân chủ nguyên thủy. Thông qua Đại hội nhân dân, nhân dân
đã bầu ra Hội đồng thị tộc và Thủ lĩnh quân sự, đồng thời quyết định những
vấn đề quan trọng của thị tộc. Trong "nền dân chủ quân sự", quyền lực của
9


nhân dân "thiêng liêng và bất khả xâm phạm, đều là một quyền lực tối cao do
tự nhiên ban cho, quyền lực mà mỗi người phải phục tùng một cách vô điều
kiện, trong tình cảm, tư tưởng, và hành động của mình" [14, tr. 149-150].
Sự phát triển của sản xuất và phân công lao động xã hội, phân hóa giai













Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status