VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN KHẮC LAN CHI
THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT KHÔNG TƯỚC TỰ DO
TỪ THỰC TIỄN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN KHẮC LAN CHI
THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT KHÔNG TƯỚC TỰ DO
TỪ THỰC TIỄN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN HIỂN
2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập................................................. 56
Chương 3:GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, TĂNG CƯỜNG
HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT KHÔNG
TƯỚCTỰ DO ................................................................................................ 64
3.1 Định hướng, quan điểm về tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động thi
hành các hình phạt không tước tự do .............................................................. 64
3.2. Giải pháp .................................................................................................. 65
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số liệu thống kê số bị cáo áp dụng hình phạt không tước tự do trên
địa bàn quận Gò Vấp trong thời gian 06 năm (từ năm 2012 đến năm 2017).37
Bảng 2.2: Số liệu thống kê số người chấp hành hình phạt áp dụng hình phạt
không tước tự do trên địa bàn quận Gò Vấp trong thời gian 06 năm (từ năm
2012 đến năm 2017). ....................................................................................... 39
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành các hình phạt không tước tự do là một phần của hoạt động thi
hành án hình sự ở nước ta. Đó là hệ thống các hoạt động của các cơ quan, tổ
chức được giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật của Tòa án về các loại hình phạt nói trên theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Hình sự 1999, các hình phạt
chính không tước tự do bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ
và trục xuất. Trong các hình phạt này, hình phạt tiền do cơ quan thi hành án
dân sự thi hành theo cơ chế riêng, hình phạt trục xuất vừa được quy định là
hình phạt chính, vừa được quy định là hình phạt bổ sung. Các hình phạt chính
nước trong việc giam giữ người phạm tội, tăng cường tính răn đe, giáo dục
trong cộng đồng, góp phần hiệu quả vào công cuộc phòng, chống tội phạm và
các vi phạm pháp luật khác....
Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa các quy định của pháp
luật về thi hành các hình phạt không tước tự do, đồng thời đánh giá việc thi
hành các hình phạt không tước tự do trong thực tiễn để đưa ra các giải pháp
hoàn thiện về mặt luật pháp, nâng cao hiệu quả áp dụng các hình phạt không
tước tự do không những có ý nghĩa lý luận - thực tiễn và pháp lý quan trọng,
mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết.
Đây cũng là lý do luận chứng cho việc tôi quyết định chọn đề tài “Thi
hành các hình phạt không tước tự do từ thực tiễn Quận Gò Vấp, thành phố
Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thi hành án hình sự nói chung, trong đó có thi hành các hình phạt không
tước tự do đã được nhiều nhà khoa học, học giả quan tâm nghiên cứu, được
để cập trong nhiều bài viết, nghiên cứuvà được thể hiện trên các báo trung
ương và địa phương chuyên ngành pháp luật như: Sách “Pháp luật thi hành
2
án Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn” Nxb Tư pháp 2006, PGS.TS.
Võ Khánh Vinh và PGS.TS. Nguyễn Mạnh Kháng; Giáo trình “Luật thi hành
án hình sự” Nxb Khoa học xã hội 2013, của GS.TS. Võ Khánh Vinh và TS.
Cao Thị Oanh; Luận văn Thạc sĩ Luật học“Thi hành các hình phạt không
tước tự do trên địa bàn tỉnh Hà Giang” củaHoàng Việt Trung; Luận văn Thạc
sĩ Luật “Các hình phạt không tước tự do trong Luật Việt Nam” của Lê Khánh
Hưng, Luận văn Thạc sĩ Luật học“Thi hành các hình phạt cải tạo không giam
giữ, án treo từ thực tiễn tỉnh Cà Mau”của Nguyễn Thị Hiền…
Các công trình nghiên cứu trên là những tài liệu rất bổ ích và giá trị được
sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kết
pháp và thực tiễn áp dụng để từ đó chỉ ra những bất cập, hạn chế, đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tiễn tại Quận Gò Vấp.
- Do nội dung đề tài rất rộng và phạm vi nghiên cứu còn hạn chế nên
luận văn chỉ nghiên cứu các hình phạt không tước tự do là hình phạt chính;
không nghiên cứu các hình phạt không tước quyền tự do là hình phạt bổ sung,
biện pháp tư pháp.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về cải cách tư pháp; những luận điểm khoa học trong các công trình
nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà
khoa học luật hình sự.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong Luận văn là
phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp
luật học so sánh, phương pháp thống kê…
4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Hệ thống, phân tích những vấn đề quan điểm, lý luận về thi hành các
hình phạt không tước tự do; đánh giá công tác thi hành các hình phạt không
tước tự do trong thực tiễn.
Trình bày thực trạng áp dụng và thi hành các hình phạt không tước tự do
trên địa bàn quận Gò Vấp từ năm 2012 đến năm 2017; kết quả đạt được, hạn
chế và các nguyên nhân. Từ đó, đưa ra một số đề xuất, những giải pháp nhằm
góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi
hành án hình sự của Việt Nam, nâng cao hiệu quả công tác thi hành các hình
phạt không tước tự do tại địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
nước là Tòa án, và là biện pháp hữu hiệu để khôi phục các quyền, lợi ích hợp
pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân bị xâm hại. Bên cạnh đó, thi hành án
hình sự còn nhằm cải tạo, giáo dục người bị kết án để họ không phạm tội mới
và trở thành người có ích cho xã hội, nhằm mục đích phòng ngừa riêng; giáo
dục ý thức tôn trọng pháp luật, thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm nói
chung, động viên, khuyến khích sự tham gia của xã hội và công dân vào cuộc
đấu tranh phòng chống tội phạm.
Thi hành án hình sự được tiến hành theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ
do pháp luật quy định. Toàn bộ quá trình thi hành các bản án, quyết định và
6
các quan hệ liên quan đến việc thi hành được quy định cụ thể, rõ ràng. Đây là
giai đoạn cuối cùng trong các hoạt động tố tụng của các cơ quan thực thi pháp
luật và cũng là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án, trong
đó buộc người bị xử phạt phải chấp hành hình phạt mà Toà án đã quyết định.
Bản án, quyết định của Toà án có được thi hành nghiêm chỉnh hay không là
tuỳ thuộc chủ yếu vào giai đoạn này. Nếu mục đích của thi hành án không đạt
được thì toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trước đó cũng
trở nên vô nghĩa. Hoạt động tố tụng trên chỉ có ý nghĩa trên thực tế khi các
bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành một
cách nghiêm túc, kịp thời và có hiệu quả. Một bản án, quyết định của Tòa án
có hiệu lực pháp luật không được thi hành hoặc thi hành không nghiêm thì
trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nước bị xem thường.
Tuy có quan hệ chặt chẽ với các giai đoạn tố tụng trước đó nhưng thi
hành án hình sự vẫn là một hoạt động có tính đặc thù và có mục đích trực tiếp
riêng biệt. Nếu tất cả các hoạt động tố tụng dừng lại ở việc phán quyết của
Tòa án, thì thi hành án lại được triển khai bắt đầu từ khi phán quyết có hiệu
lực thi hành và nhằm thực hiện các nội dung trong phán quyết đó. Nhiệm vụ
của giai đoạn này là không chỉ trừng trị người có tội mà còn giáo dục, cải tạo