THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ CỦA PHƯỜNG BÌNH THỌ, QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THANH CA

THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ CỦA
PHƯỜNG BÌNH THỌ, QUẬN THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI, NĂM 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THANH CA

THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ CỦA
PHƯỜNG BÌNH THỌ, QUẬN THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành

: Chính trị học

Mã số

: 8310201

địa phương, các cơ sở.................................................................................. 69
3.4. Kiện toàn Tổ chỉ đạo đồng thời củng cố hoạt động của Ban thanh tra
nhân dân ...................................................................................................... 72
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 77

1


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ trước đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi thực hiện dân
chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của cách mạng. Đảng ta khẳng định phải “lấy dân làm gốc”, đề ra phương
châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Để đáp ứng yêu cầu của
giai đoạn phát triển mới, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành
nhiều Nghị định, Chỉ thị quan trọng nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng
tạo của nhân dân để phát triển kinh tế, ổn định chính trị, phát triển xã hội như
Chỉ thị 30- CT/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân
chủ ở cơ sở, Nghị định số 79/2003/NĐ-CP của Chính phủ ban hành quy chế
thực hiện dân chủ ở xã, Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11. Đây là một bước
tiến lớn thể hiện sự quyết tâm củng cố, hoàn thiện và phát triển nền dân chủ
XHCN của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời cũng là phương thức giải quyết
các nhiệm vụ, mục tiêu chung của đất nước trong công cuộc đổi mới. Việc
ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở là một chủ trương hết sức đúng đắn, hợp
lòng dân của Đảng và Nhà nước ta; đáp ứng kịp thời tâm tư, nguyện vọng,
những vấn đề bức xúc của người dân, đáp ứng được nhu cầu bức thiết và lợi
ích to lớn, trực tiếp của đông đảo quần chúng nhân dân lao động, được nhân
dân hưởng ứng rất nhiệt tình và tích cực thực hiện. Vì vậy, sau gần 10 năm
thực hiện, Quy chế dân chủ ở cơ sở thực sự đã đi vào cuộc sống, tác động

khoa học quan tâm, nghiên cứu với nhiều bài viết, nhiều công trình đã được
công bố, xuất bản thành sách. Có thể chia thành 2 nhóm: Nhóm lý luận chung
và Nhóm khảo sát kết quả thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở một số địa
phương.
- Nhóm lý luận chung bao gồm:

3


Một trong nhiều công trình điển hình có giá trị tham khảo như "Quy
chế thực hiện dân chủ cấp xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của tác giả
Dương Xuân Ngọc (2000). Công trình đã đi sâu vào chỉ rõ ý nghĩa và tầm
quan trọng của Quy chế thực hiện dân chủ cấp xã cả về mặt lý luận và thực
tiễn.
Cũng quan tâm đến vấn đề lý luận và thực tiển của việc thực hiện Quy
chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay, tác giả Nguyễn Cúc (2002) đã
tập trung làm sáng tỏ một số khía cạnh chủ yếu về lý luận và thực tiễn của
việc thực hiện QCDC ở cơ sở trong tình hình hiện nay ở nước ta trong đề tài
“Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay. Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn”.
Tác giả Trần Bạch Đằng cũng khẳng định thực hiện dân chủ ở cơ sở là
một trong những khâu rất quan trọng nhằm hoàn thiện cơ chế nhân dân làm
chủ xã hội trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam trong đề tài “Dân chủ ở cơ sở
một sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số
35/2003. Theo tác giả, đây là một vấn đề không chỉ mang ý nghĩa thời sự mà
còn là một sự tiếp nối truyền thống, phát huy sức mạnh của dân được hình
thành trong lịch sử mấy nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân
tộc ta.
Cũng đề cập về thực trạng việc Thực hiện dân chủ cơ sở ở nước ta hiện
nay tác giả Trần Khắc Việt tại Tạp chí Lý luận chính trị, số 9/2004 đã chỉ ra

Đề tài được thực hiện nhằm đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả thực hiện quy chế dân chủ ở phường Bình Thọ góp phần thực hiện thắng
lợi sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho nhân dân, phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, thành phố Hồ
Chí Minh.
3.2. Nhiệm vụ
6


- Phân tích khái quát một số vấn đề lý luận của việc thực hiện Quy chế
dân chủ cơ sở.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
của phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế
dân chủ ở cơ sở tại phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí
Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở của phường Bình Thọ, quận Thủ
Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí
Minh.
- Thời gian: Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở ở phường Bình
Thọ từ năm 2015 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam.

1.1. Dân chủ và Quy chế dân chủ ở cơ sở
1.1.1. Khái niệm Dân chủ, Dân chủ cơ sở và Quy chế dân chủ ở cơ sở
1.1.1.1. Dân chủ
Thuật ngữ dân chủ xuất hiện từ thời cổ đại. Người đầu tiên đưa ra khái
niệm dân chủ là nhà sử học, nhà chính trị học người Hy Lạp là Hêrôđốt (484
- 425 trước Công nguyên) khi ông xem xét các thể chế chính trị trong lịch sử.
Theo ông, lịch sử đã xuất hiện ba kiểu thể chế chính trị: quân chủ, quý tộc và
dân chủ, trong đó dân chủ là thể chế chính trị do nhân dân nắm quyền lực
thông qua con đường bầu cử. Để chỉ một hiện thực dân chủ đã được thiết lập
trên thực tế, trong ngôn ngữ đã xuất hiện thuật ngữ democratia, nghĩa là
quyền lực thuộc về nhân dân (democratia là từ ghép của hai từ demos là nhân
dân, cratos là quyền lực). Như vậy, với nguyên nghĩa của từ, dân chủ là
quyền lực thuộc về nhân dân. Nhân dân là chủ thể của quyền lực, sử dụng
quyền lực để tổ chức, quản lý xã hội, phát triển xã hội, phát triển con người.
Với ý nghĩa đó, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã
hội - nhất là xã hội có giai cấp.
Ngay từ xã hội cộng sản nguyên thủy con người đã biết sống gắn bó với
nhau thành cộng đồng để tồn tại và phát triển. Họ biết sử dụng sức mạnh của
cộng đồng để thực hiện quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh
phúc. Một hình thức đặc biệt của dân chủ đã xuất hiện mà Ăngghen gọi là dân
chủ quân sự hay dân chủ nguyên thủy. Thông qua Đại hội nhân dân, nhân dân
đã bầu ra Hội đồng thị tộc và Thủ lĩnh quân sự, đồng thời quyết định những
vấn đề quan trọng của thị tộc. Trong "nền dân chủ quân sự", quyền lực của
9


nhân dân "thiêng liêng và bất khả xâm phạm, đều là một quyền lực tối cao do
tự nhiên ban cho, quyền lực mà mỗi người phải phục tùng một cách vô điều
kiện, trong tình cảm, tư tưởng, và hành động của mình" [14, tr. 149-150].
Sự phát triển của sản xuất và phân công lao động xã hội, phân hóa giai

Dưới chế độ dân chủ tư sản địa vị xã hội của công dân được pháp luật
thành văn và không thành văn quy định. Nhưng nền dân chủ tư sản trong thực
chất còn rất nhiều hạn chế và không thoát khỏi sự mị dân nhằm bảo vệ quyền
lợi cho giai cấp tư sản cầm quyền. "Trong Nhà nước tư sản dân chủ nhất,
quần chúng bị áp bức đều luôn vấp phải các mâu thuẫn hiển nhiên giữa quyền
bình đẳng hình thức do "chế độ dân chủ" của bọn tư bản ban bố với hàng
nghìn hạn chế và mánh khóe dối trá thực sự, đang biến những người vô sản
thành nô lệ làm thuê" [24, tr.36]. Sự hạn chế và tính chất mị dân của dân chủ
tư sản thể hiện như thế nào? Dưới chế độ dân chủ tư sản cùng với sự tha hóa
của con người là sự tha hóa về quyền lực, đặc biệt là quyền lực chính trị.
Đúng như nhận xét của C.Mác về chế độ dân chủ tư sản rằng bầu cử trong
chủ nghĩa tư bản là sự "tự do" của nhân dân lựa chọn những người thống trị
mình. Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, Lênin có nhận xét tinh tế về
bản chất chế độ dân chủ tư sản: "Chế độ đại nghị tư sản là chế độ kết hợp chế
độ dân chủ (không phải cho nhân dân) với chế độ quan liêu (chống nhân
dân)" [25, tr.135].
Cơ sở bảo vệ lợi ích của nền dân chủ tư sản là bảo vệ, bênh vực và tạo
mọi cơ hội cho giai cấp tư sản ngày càng giàu có. Điều đó được thể hiện tập
trung trong các quy định pháp luật của Nhà nước tư sản. Chẳng hạn, các quy
định về kiểm soát tài sản, nơi cư trú, quy định về vận động tài chính cho các
cuộc bầu cử v.v... Nhà nước tư sản luôn luôn đề cao chức năng chính trị
(thống trị giai cấp) khi hình thành bất kỳ một quy định pháp luật nào để thực
thi trong xã hội. Trong xã hội tư bản mâu thuẫn giữa tính chất giai cấp của
11


giai cấp tư sản cầm quyền với tính nhân dân (tính vô sản) của dân chủ càng
trở nên gay gắt. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến cách mạng vô
sản để giải quyết mâu thuẫn trên bằng việc thiết lập chế độ dân chủ XHCN.
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã

Hiện nay, đề cao dân chủ trực tiếp là làm phong phú thêm hình thức
thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động, là xuất phát từ bản chất
của chế độ XHCN, một chế độ từng bước thực hiện trong thực tế mọi quyền
lực thật sự thuộc về nhân dân.
Trong nhiều trường hợp, dân chủ trực tiếp có những ưu điểm mà dân
chủ gián tiếp không có được. Đó là khả năng thể hiện một cách khách quan ý
chí, nguyện vọng của nhân dân không cần thông qua một hình thức trung gian
nào. Theo Lênin: "Phát triển dân chủ đến cùng, tìm ra những hình thức của
sự phát triển ấy, đem thử nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn v.v... đó
là một trong những nhiệm vụ cấu thành của cuộc đấu tranh cách mạng xã hội"
[26, tr.97] và thể hiện một cách ưu việt nhất quyền lực của nhân dân trong
việc quản lý xã hội.
Nền dân chủ XHCN ở nước ta được khẳng định trong đường lối của
Đảng, Hiến pháp, Pháp luật của Nhà nước. Hệ thống chính quyền ở nước ta
gồm 4 cấp: Trung ương, tỉnh (thành phố trực thuộc), huyện (thị, quận) và xã
(phường) đều vận hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ - nguyên tắc cơ bản
của nền dân chủ XHCN. Hiệu quả của dân chủ thể hiện trực tiếp đến nhân
dân là ở cấp cơ sở. Đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước có đi vào
cuộc sống hay không tùy thuộc chủ yếu vào sự quán triệt và thực hiện như thế
nào ở cấp cơ sở. Cơ sở xã, phường, cơ quan, doanh nghiệp v.v.. là nơi trực
tiếp thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; là địa bàn nhân
dân sinh sống, lao động, sản xuất, học tập và công tác; là nơi diễn ra các mối
15


quan hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp nhân dân với các cấp ủy Đảng và chính
quyền, cán bộ, đảng viên, công chức điều hành và xử lý công việc hàng ngày.
Nhân dân đòi hỏi được biết, được bàn và được tham gia giải quyết những vấn
đề đặt ra ở cơ sở, đồng thời có yêu cầu kiểm tra, giám sát hoạt động hàng
ngày của cấp ủy, chính quyền và cán bộ lãnh đạo. Điều đó có nghĩa là nhân

dân và cán bộ cùng kiểm tra mọi hoạt động. "Lề lối làm việc phải dân chủ.
Cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới. Cấp dưới phải phê bình cấp
trên" [16, tr.9]; "nhất là phê bình từ dưới lên" [18, tr.157]. Dân kiểm tra là
một nội dung quyền dân chủ của nhân dân về xây dựng Đảng, xây dựng Nhà
nước và các đoàn thể nhân dân thật sự vững mạnh, trong sạch; bảo vệ lợi ích
chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Việc đấu tranh chống tham ô, lãng phí,
quan liêu, cậy thế trái phép v.v... chỉ có thể thực hiện có hiệu quả nếu thật sự
dựa vào sự kiểm tra, giám sát của quần chúng nhân dân.
Ngày nay phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra là thể
hiện tư tưởng đó của Hồ Chí Minh. Từ Đại hội VI, Đảng ta đã chủ trương
thực hiện có nề nếp phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và
chủ trương đó ngày càng được thực tế kiểm nghiệm tính cần thiết khách quan
của nó. Để quá trình dân chủ hóa thực sự đi vào cuộc sống cần cụ thể hóa
phương châm này, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa VIII (tháng 6/1997) khẳng định khâu quan trọng và cấp bách trước
mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện
mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện
quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất. Theo tinh
thần Nghị quyết đó, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị 30/CT-TW tháng 2/1998 và
Chính phủ đã ban hành Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan và
doanh nghiệp nhà nước. Đó là những văn bản có tính chính trị và pháp lý làm

17


cơ sở để mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở xây dựng và thực hành dân chủ - làm
chủ.
Dân chủ ở cơ sở là quyền dân chủ trực tiếp của người dân (mặc dù có
cả dân chủ đại diện) được tiến hành từ cấp xã, phường trở xuống (đến cấp
thôn, xóm, đơn vị, cơ quan, nhà máy, xí nghiệp) theo phương châm dân biết,

của việc xây dựng QCDC cơ sở, đồng chí chỉ rõ: "... Quyền làm chủ của nhân
dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, mệnh lệnh,
cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân vẫn đang phổ biến
và nghiêm trọng mà chúng ta chưa ngăn chặn, đẩy lùi được. Phương châm
"dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ thể hóa và thể chế
hóa thành pháp luật, cho nên chậm đi vào cuộc sống. Tình trạng mất dân chủ,
không để dân bàn bạc và quyết định những công việc cụ thể liên quan trực
tiếp đến đời sống của dân, bắt dân đóng góp nhiều khoản vượt quá khả năng,
lại không minh bạch về tài chính, thậm chí xà xẻo vào những khoản tiền do
dân đóng góp như ở một số xã thuộc tỉnh Thái Bình và vài nơi khác; tình
trạng để tồn đọng hàng vạn đơn khiếu tố bị đùn đẩy không giải quyết hoặc
giải quyết không kịp thời, không đúng; tình trạng quan liêu, quản lý lỏng lẻo
để thất thoát lớn trong một số ngân hàng hoặc gây lãng phí lớn trong xây
dựng, v.v. chẳng những làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và
chính quyền mà còn làm triệt tiêu nguồn động lực của nhân dân và xâm phạm
vào bản chất tốt đẹp của chế độ" [23, tr.4].
Trước tình hình đó, Nghị quyết trung ương 3 khóa VIII (6/1997) nêu rõ
yêu cầu: "Tiếp tục phát huy tốt hơn và nhiều hơn quyền làm chủ của dân qua
các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp; tiếp tục hoàn thiện Nhà
nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam đảm bảo trong sạch, vững mạnh và tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước, mở rộng dân chủ XHCN, phát
huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và quản lý nhà nước " [12,
19


tr.8]. Mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân phải
được thể hiện trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh,
từ việc xây dựng luật pháp, cơ chế, chính sách đến tổ chức bộ máy, phong
cách làm việc, bao quát mọi hoạt động của mọi cấp, mọi ngành, từ trung ương
đến địa phương và cơ sở. Vấn đề dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân

tranh bài trừ tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm. Muốn
vậy, cần ban hành QCDC ở cơ sở có tính pháp lý, yêu cầu mọi người, mọi tổ
chức ở cơ sở đều phải nghiêm chỉnh thực hiện.
Thực hiện Chỉ thị 30/CT-TW, Ủy ban thường vụ Quốc hội (khóa X) ra
Nghị quyết số 45-1998/NQ-UBTVQH 26/2/1998 về việc ban hành Quy chế
thực hiện dân chủ ở xã. Nghị quyết giao Chính phủ ban hành Quy chế thực
hiện dân chủ với các định hướng nội dung cụ thể. Thực hiện chủ trương của
Đảng và Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ngày 11/5/1998, Chính
phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP (nay là Nghị định số
79/2003/NĐ-CP) về việc ban hành QCDC. Nghị định nêu rõ: "Điều 1: Ban
hành kèm theo Nghị định này bản Quy chế thực hiện dân chủ ở xã. Điều 2:
Quy chế này áp dụng đối với cả phường và thị trấn" [15, tr.1]. QCDC ở cơ sở
còn bao gồm cả dân chủ trong cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị doanh
nghiệp nhà nước với các văn bản quy định riêng.
Những văn bản trên đây từ chủ trương của Đảng đến việc thể chế hóa
bằng các văn bản pháp luật của nhà nước thể hiện sự quan tâm của Đảng, nhà
nước ta đối với việc xây dựng thể chế về dân chủ ở cơ sở. Thực hiện phương
châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" thể hiện bản chất nhà nước là
nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở gồm các văn bản quy phạm pháp
luật quy định những biện pháp làm chủ trực tiếp của nhân dân ở cơ sở xã,
21


phường, cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị doanh nghiệp nhà nước. Đó
là những điều nhân dân phải được biết, những việc nhân dân được bàn để nhà
nước quyết định hoặc nhân dân được quyết định và những việc nhân dân được
giám sát, kiểm tra, nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân.
Quy chế thực hiện dân chủ ở xã là văn bản quy phạm pháp luật quy
định cụ thể những việc HĐND và UBND xã phải thông tin kịp thời và công

- Chỉ thị số 38/1998/CT–TTg ngày 11/11/1998 của Thủ tướng Chính phủ
về triển khai quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan.
- Thông tư liên tịch số 09/1998/TTLT-TCCP-TLĐLĐ ngày 4/12/1998
của Ban Tổ chức - cán bộ Chỉnh phủ và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam
hướng dẫn về tổ chức và nội dung hội nghị cán bộ, công chức trong cơ quan.
- Nghị định số 99/2005/NĐ-CP ngày 28/7/2005 của Chính phủ ban hành
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thanh tra về tổ
chức và hoạt động của ban thanh tra nhân dân.
- Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/04/2007 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Trong Pháp
lệnh nêu rõ những quy định chung; Những nội dung công khai để dân biết;
Những nội dung nhân dân bàn và quyết định; Nội dung, hình thức nhân dân
bàn, biểu quyết đế cấp có thẩm quyền quyết định; Trách nhiệm tổ chức thực
hiện những nội dung nhân dân vàn và quyết định; Những nội dung tham gia ý
kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; Những nội dung nhân dân
giám sát.
- Kết luận số 65-KL/TW ngày 04/02/2010 của Ban Bí thư về việc tiếp
tục thực hiện chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng
và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Kết luận đưa ra những kết quả đạt được
sau hơn 10 năm thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy
chế dân chủ cơ sở cùng với những hạn chế, khuyết điềm. Từ đó tiếp tục đẩy
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status