VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN QUỐC VIỆT
THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ
TẠI BỆNH VIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN QUỐC VIỆT
THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ
TẠI BỆNH VIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Chuyên ngành
:Chính trị học
Mã số
chủ cơ sở tại bệnh viện Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
......................................................................................................................... 60
KẾT LUẬN .................................................................................................................68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH
: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
HĐND
: Hội đồng nhân dân
MTTQ
: Mặt trận Tổ quốc
QCDC
: Quy chế dân chủ
UBND
: Ủy ban nhân dân
UBTVQH11
: Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 1
đổi mới.
Quy chế dân chủ cơ sở đã thực sự đi vào cuộc sống, tác động tích cực
tới nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong thời gian qua, đã thu được nhiều
1
thành tựu quan trọng, thu hút được sự quan tâm hàng ngày của tất cả các tầng
lớp xã hội. Tuy nhiên, những kết quả đó mới chỉ là bước đầu, tình trạng vi
phạm dân chủ, hay dân chủ hình thức còn diễn ra ở không ít nơi. Việc thực
hiện dân chủ ở nhiều cơ sở làm thiếu nền nếp, hiệu quả chưa cao; dân chủ
trực tiếp của nhân dân ở xã, phường tốt hơn ở khu vực cơ quan, doanh nghiệp
nhà nước. Một số nơi hiện tượng vi phạm quyền dân chủ của người dân rất
nghiêm trọng, gây bất bình trong nhân dân, làm giảm sút lòng tin đối với
Đảng và Nhà nước.
Triển khai và thực hiện Chỉ thị 30- CT/TW của Bộ Chính trị về xây
dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tại Thành Phố Hồ Chí Minh nói
chung và tại Bệnh viện Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
vẫn còn nhiều vấn đề đáng quan tâm: một số nơi việc xây dựng và thực hiện
QCDC ở cơ sở chưa đạt yêu cầu, quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm;
một số cán bộ có trách nhiệm không muốn triển khai thực hiện QCDC ở cơ
sở, hoặc triển khai một cách hình thức, chiếu lệ, nhiều người chưa nhận thức
đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Do đó, tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền
hà cho nhân dân vẫn còn xảy ra; một bộ phận nhân dân mới chỉ thấy quyền lợi
nhiều hơn nghĩa vụ, vì vậy, hiện tượng lợi dụng dân chủ, dân chủ quá trớn
đang là nguy cơ đe dọa mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền với nhân dân,
gây không ít khó khăn cho việc phát triển kinh tế, ổn định xã hội,...
Từ thực tiễn trên, tác giả nhận thấy rõ vị trí và tầm quan trọng của việc
thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, đặc biệt là thực hiện quy chế dân chủ cơ
sở nơi công tác cần phải phát huy hơn nữa vần đề dân chủ và trực tiếp lắng
nghe những tâm tư, nguyện vọng của những người xung quanh. Từ đó, Tác
năm 1999 “Đảm bảo và phát huy dân chủ trong chế độ một Đảng cầm quyền
ở nước ta hiện nay” đã xác định một số nội dung cơ bản của thực hiện dân
chủ trong một số điều kiện nước ta hiện nay. Trên cơ sở đó, đề tài này bước
3
đầu đã khảo sát, đánh giá thực trạng của việc thực hiện dân chủ của nước ta
và đề xuất một số giải pháp theo tinh thần dân chủ Hồ Chí Minh nhằm bảo
đảm, phát huy dân chủ ở nước ta hiện nay.
Tác giả Nguyễn Thị Ngân: "Quá trình thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở
ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay", Đề tài khoa học cấp bộ 20022003. Tác giả tiếnhành nghiên cứu thực trạng việc thực hiện QCDC cơ sở ở
các tỉnh đồng bằng sôngHồng, qua đó đề xuất những giải pháp nhằm đẩy
mạnh và hoàn thiện việc thực hiện QCDC ở khu vực đồng bằng sông Hồng.
Trần Bạch Đằng: "Dân chủ ở cơ sở một sức mạnh truyền thống của dân
tộc Việt Nam", Tạp chí Cộng sản, số 35 (12/2003). Trong bài viết này, tác giả
khẳng địnhthực hiện dân chủ ở cơ sở là một khâu rất quan trọng nhằm hoàn
thiện cơ chế nhân dânlàm chủ xã hội trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Theo tác giả, đây là một vấn đề không chỉ mang ý nghĩa thời sự mà còn là
một sự tiếp nối truyền thống, phát huy sứcmạnh của dân được hình thành
trong lịch sử mấy nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữnước của dân tộc ta.
Trần Khắc Việt tác giả viết về: "Thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay:
Vấn đề đặt ra và giải pháp", Tạp chí Lý luận chính trị, số 9/2004. Tác giả chỉ
ra những vấn đề nảysinh trong quá trình thực hiện dân chủ hoá đời sống xã
hội ở nước ta, đồng thời đưa ranhững giải pháp nhằm tiếp tục phát huy dân
chủ trong tình hình hiện nay.
Đoàn Minh Huấn tác giả bài viết "Dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp
và quá trình mở rộng dân chủ XHCN ở nước ta", Tạp chí Lý luận chính trị, số
8/2004. Tác giả làm rõ vai trò, đặc trưng của dân chủ đại diện và dân chủ trực
tiếp, qua đó khẳng định: trong giai đoạn hiện nay, muốn mở rộng dân chủ
XHCN ở nước ta, cần phát huy đúng đắn ưu thế của mỗi hình thức dân chủ,
nhân trong phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”.
5
Nguyễn Quốc Triệu “Đội ngũ trí thức ngành Y yế Việt Nam hiện đại”,
Nxb Y học, 2010. Tác giả giới thiệu tiểu sử, sự nghiệp của những Giáo sư,
phó giáo sư, viện sĩ và Tiến sĩ thuộc ngành Y tế cách mạng Việt nam hiện nay
cùng với những đóng góp chung của họ cho ngành Y tế Việt Nam.
Nhìn chung, có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến lý luận và thực
tiễn về dân chủ cũng như thực hiện dân chủ ở cơ sở ở nước ta hiện nay. Nhiều
nhà khoa học đã khẳng định đúng rằng thực hiện dân chủ là vấn đề có tầm
quan trọng đặc biệt trong sự phát triển của đất nước, là động lực phát triển
kinh tế - xã hội, khẳng định vai trò quyết định và sự cần thiết phải thực hiện
dân chủ ở cơ sở và dân chủ ở cơ sở. Nhiều công trình khác khẳng định tính tất
yếu của việc thực hiện dân chủ để đáp ứng nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ
mới. Một số tác giả chỉ rõ bản chất, mô hình của nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa, những hạn chế của các nền dân chủ khác trong lịch sử. Các bài viết
cũng rõ cơ sở lý luận, ý nghĩa thực tiễn của việc thực hiện quy chế dân chủ ở
cơ sở, đồng thời phân tích, lý giải yêu cầu, cách thức tổ chức, biện pháp... để
thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở một cách khá sâu sắc. Tuy nhiên, chưa
có công trình khoa học nào đi sâu, nghiên cứu các vấn đề về thực hiện dân
chủ ở cơ sở của ngành y tế và đặc biệt là thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở
các Bệnh viện Giao thông Vận tải. Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở tại Bệnh
viện Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh với thực trạng và giải pháp
chưa có công trình nghiên cứu và cần phải tiếp tục nghiên cứu sâu để nâng
cao hiệu quả quá trình dân chủ hóa trong cơ quan, tổ chức nhà nước, trong các
bệnh viện công lập .
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn từ cơ sở lý luận chung về vấn đề dân
pháp lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch,... nhằm
thực hiện mục đích và nhiệm vụ mà đề tài đặt ra.
7
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu có thể vận dụng cho việc triển khai Quy chế dân
chủ cơ sở cho các Bệnh viện ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Luận văn
có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy chuyên đề
về dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
7. Cơ cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận chung về dân chủ và quy chế thực
hiện dân chủ cơ sở.
Chƣơng 2: Thực trạng việc thực hiện dân chủ cơ sở tại Bệnh viện Giao
thông Vận tải Thành Phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc
thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở tại Bệnh viện Giao thông Vận tải Thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay.
8
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN CHỦ VÀ QUY CHẾ
THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
1.1 Khái niệm dân chủ và dân chủ cơ sở
Dân chủ là một phạm trù lịch sử, đồng thời là phạm trù chính trị, nó tồn
tại qua hàng ngàn năm lịch sử của loài người. Tuy nhiên, mỗi giai đoạn lịch
trong công xã sống bình đẳng và hợp tác. Do chưa có sỡ hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất và của cải nên chưa có áp bức, bất công. Bộ máy công xã do các
thành viên bầu ra và có thể bãi miễn. Tuy nhiên trong xã hội công xã nguyên
thủy con người chưa có khái niệm về dân chủ. Khái niệm dân chủ chỉ xuất
hiện khi trong xã hội có hiện tượng độc tài của giai cấp thống trị thông qua bộ
máy nhà nước của giai cấp chủ nô.
Hình thức dân chủ điển hình trong xã hội chiếm hữu nô lệ là dân chủ
chủ nô ở Aten. Hình thức dân chủ này được thể hiện rõ nét thông qua việc các
công dân Aten có quyền lựa chọn, bầu cử những người có uy tín vào Đại Hội
đồng – cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước chủ nô. Dưới Đại hội dồng
là Hội dồng điều hành gồm 500 hội viên. Hội đồng lại chia thành các úy ban,
mỗi ủy ban gồm 50 hội viên. Hội đồng có chức năng quan trọng, song vai trò
dân chủ và pháp luật được đề cao.Quyền dân chủ được thực hiện với các công
dân thành bang Aten là quý tộc, thông thái, hiệp sĩ, thị dân. Những người
thuộc giai cấp nô lệ hoặc không phải là công dân Aten thì không có quyền
ứng cử, bầu cử.
Dù nhà nước dân chủ chủ nô hay quân chủ chủ nô cũng điều là hình
thức nhà nước của giai cấp chủ nô quý tộc, quyền lực chính trị thực chất
thuộc về giai cấp chủ nô, nếu có dân chủ thì cũng chỉ là dân chủ của số ít
trong nhân dân chứ không phải là dân chủ của tất cả quần chúng nhân
dân.Trong xã hội phong kiến ở Châu âu, người dân hầu như không có quyền
10
dân chủ. Giai cấp địa chủ phong kiến kết hợp với Giáo hội Ki tô giáo đặt sự
thống trị lên toàn xã hội. Pháp luật phong kiến, tòa án của Giáo hội đàn áp
mọi tư tưởng tiến bộ. Những tư tưởng duy vật, khoa học, hoặc chỉ cần khác
với tư tưởng tôn giáo phong kiến đều bị qui là “tà giáo” bị đàn áp, khủng bố.
Giai cấp tư sản phương Tây trong vòng 300 năm đã tiến hành các cuộc
cách mạng tư sản xóa bỏ chế độ phong kiến, thiết lập nên nhà nước pháp
của nhà nước” [43, tr.123]. Với tư cách là một phạm trù lịch sử, chế độ dân
chủ ra đời, phát triển gắn liền với nhà nước và sẽ biến mất nhà nước không
còn nữa. Nó biến đổi và phát triển không ngừng cả về chất và lượng trong
từng giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội loài người.
Tuy nhiên, các nhà kinh điển Mác - Lênin cũng nhận thấy rằng dân chủ
với tính cách là giá trị xã hội, là thành quả giá trị nhân văn, trước hết được
sinh ra từ phương thức tổ chức hợp tác sản xuất và kết cấu cộng đồng giữa
người với người thì đã tồn tại ngay khi từ xã hội cộng sản nguyên thủy.
C.Mác và Ph.Ănghen cho rằng dân chủ luôn gắn liền với khát vọng tự do,
bình đẳng, công bằng và bác ái của con người, vì vấn đề dân chủ xét đến cùng
là vấn đề vai trò của con người, chủ quyền của con người để đi đến tự do,
bình đẳng cho mỗi cá nhân. Cho nên, khi lý luận về sự ra đời tất yếu của hình
thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, hai ông đã khẳng định được dân chủ,
tự do, bình đẳng mới thực sự trở thành hiện thực triệt để, nhân dân mới được
hưởng quyền dân chủ và phát huy mọi khả năng sẵn có của mình.
Từ khi Cách mạng tháng Mười Nga (1917) ra đời đã mở đầu cho sự ra
đời của dân chủ vô sản với nhà nước vô sản hiện thực. Mục tiêu cao cả của
nhà nước vô sản là xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, không có
người bóc lột người, mọi người đều tự do bình đẳng, nhân dân lao động làm
chủ thực sự về chính trị, kinh tế và xã hội, tham gia quản lý nhà nước. Đây là
khác biệt về bản chất giữa dân chủ vô sản và dân chủ tư sản, giữa nhà nước tư
12
sản với nhà nước vô sản do nhân dân lao động làm chủ. Để thiết lập trong
thực tế một nền dân chủ thực sự cho người dân, V.I Lênin đã khẳng định:
“Không phải tuyên truyền về dân chủ, tuyên bố ra sắc lệnh về dân chủ là đủ,
không phải chỉ giao trách nhiệm thực hiện chế độ dân chủ cho những người
đại diện nhân dân cho những cơ quan đại biểu là đủ” [52, tr 336]. Đồng thời
Lênin chỉ ra rằng: “ Giúp họ có khả năng thực tiễn, thực hiện được quyền tự
nước dân chủ cộng hòa, tất cả quyền trong nước là cuả toàn thể nhân dân Việt
Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” [30,
tr.8].
Dân chủ được xác định vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát
triển đất nước. Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, phát triển
đất nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, Đảng và nhà nước ta đặc biệt coi
trọng việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh là
người đầu tiên gây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh phát
triển sáng tạo quan điểm dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa, rằng: “dân chủ
nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ”. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ nghĩa là:
thứ nhất, dân là chủ “nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là
chủ”[37, tr.515]; thứ hai, dân làm chủ “nước ta là nước dân chủ, nghĩa là Nhà
nước do nhân dân làm chủ...” [33, tr.452]; thứ ba, dân chủ là toàn bộ quyền
lực, lợi ích đều thuộc về nhân dân và được thực hiện qua các tổ chức quần
chúng: Mặt trận, Công đoàn, Hội Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc...
Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực quyền của
dân, liên lạc mật thiết nhân dân với Chính phủ [42, tr.66].
Có thể thấy, dân chủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra không dừng lại
ở nội dung chính trị, quyền lực chính trị, mà còn có nội dung nhân văn và
nhân đạo. Theo Người, dân chủ là một nhu cầu tất yếu của con người, nó
thuộc bản chất người. Và như vậy, không có ai có quyền tước bỏ đi cái thuộc
14
tính bản chất ấy, cái bản chất luôn muốn vươn tới sự tự do để khẳng định khả
năng phát triển của con người. Tính dân chủ thể hiện ở chỗ mọi người có thể
tự do trình bày ý kiến về mọi vấn đề. Dân chủ là tìm ra chân lý, và khi đã tìm
được chân lý thì mọi sự sẽ trở nên rõ ràng, nhận thức và hành động sẽ thống
nhất để đạt được mục tiêu.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ được thể hiện trong thực tế. Với
tr 33]. Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và không ngừng hoàn thiện nội
dung về quyền làm chủ của nhân dân cũng như cách thể hiện quyền làm chủ,
trong đường lối lãnh đạo của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đặc biệt tiếp
tục được thể hiện trong các bản Hiến pháp sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện về
dân chủ.
Có thể khẳng định về thực hiện quyền dân chủ, đặc biệt là dân chủ ở cơ
sở ở nước tangày càng được nâng cao nâng cao như một tất yếu khách quan
trên con đường phát triển của nước ta. Bởi vậy, việc nhân dân tìm hiểu thế
nào là dân chủ, làm thế nào để thực hiện dân chủ, làm thế nào để quyền dân
chủ của họ không bị xâm phạm, được coi là nhu cầu chính đáng của người
dân. Những điều này được thể hiện rõ nhất tại các kỳ họp Quốc hội, HĐND
các cấp, tại các Hội nghị tiếp xúc cử tri, người dân đã thông qua những đại
biểu dân cử chất vấn Quốc hội, chất vấn những cá nhân, tổ chức có thẩm
quyền và đặc biệt hơn là người dân đã thực hiện tốt quyền khiếu nại, tố cáo
đối với những cá nhân, tổ chức được coi là vi phạm pháp luật. Đây có thể coi
là bước tiến mới trong vấn đề dân chủ ở nước ta.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI (1986) của Đảng, mở đầu sự nghiệp
đổi mới, thời điểm đánh dấu bước phát triển về chất trong tư duy của Đảng
và cũng là thời điểm tổng kết kinh nghiệm 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đại hội đã rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc với vai trò lãnh đạo của
Đảng, thứ nhất là “đổi mới phải lấy dân làm gốc”, mọi hành động, mục tiêu
của Đảng lấy dân làm động lực đâe phát triển đồng thời giải thích rõ nội dung
16
của bài học kinh nghiệm đó để mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước phải luôn xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của nhân dân, đáp ứng nguyện
vọng của đa số nhân dân lao động. Có thể thấy Đại hội đại biểu toàn quốc lần
VI (1986) của Đảng là kết quả của quá trình đúc kết các bài học kinh nghiệm
từ thực tiễn rất quý báu và kế thừa quan điểm của các kỳ đại hội trước……
bình đẳng trước pháp luật.
Và đến Đại hội XI, Đảng ta đã khẳng định “Mở rộng dân chủ, phát huy
tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là
mục tiêu của sự phát triển. Phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân và
các điều kiện để mọi người phát triển toàn diện. Nâng cao năng lực và tạo cơ
chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát
huy mạnh mẽ mọi khả năng sáng tạo và bảo đảm đồng thuận cao trong xã hội,
tạo động lực phát triển đất nước”[22, tr.100]. Đồng thời, phải quán triệt sâu
sắc, tổ chức thực hiện tốt các mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp
được đề ra trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương
Đảng, khóa XI về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác dân vận trong tình hình mới. Với quan điểm cơ bản là: Cách mạng là sự
nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, nhân dân
làm chủ.
Kế thừa quan điểm của các kỳ Đại hội trước, Đại Hội XII (2016) của
Đảng đã đưa ra những quyết sách mới, đúng đắn, mạnh mẽ, phù hợp để phát
huy thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn, tiếp tục đưa đất nước ta phát triển
nhanh, bền vững, đáp ứng kỳ vọng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Đaị
hội đã đưa ra một số điểm mới nổi bật trong các lĩnh vực, việc phát huy nền
dân chủ XHCN và quyền làm chủ của nhân dân là một trong những điểm mới.
Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc
19
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở
tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích,
cuộc sống của nhân dân. Thể chế hoá và nâng cao chất lượng các hình thức
thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Hoàn thiện hệ thống pháp
luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ công
nhân, nông dân, cán bộ, công chức, viên chức và các thành phần lao động
khác) đang sinh sống và làm việc. Nói cách khác nhân dân ở đây là người lao
động ở xã, phường, thị trấn. Những người làm việc trong các cơ quan hành
chính sự nghiệp và trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh… đây là
những nơi có thể xảy ra những mâu thuẫn, những bức xúc của người lao động
và cũng là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước. Có thể nói, cơ sở là nơi người dân đòi hỏi quyền làm chủ, thực
hiện quyền làm chủ của mình.
Như vậy, cơ sở là đơn vị hành chính thấp nhất - xét về mặt không gian
quản lý, là thực thể cấu thành đời sống kinh tế, là nền tảng của nhà nước, của
đời sống kinh tế - xã hội. Là hình ảnh thu nhỏ của đời sống xã hội, của nhà
nước và của đời sống kinh tế; là nơi thể hiện trực tiếp, cụ thể bản chất của chế
độ nhà nước, của chế độ xã hội; thể hiện trực tiếp sự hoàn thiện hay hạn chế,
yếu kém của thể chế, của cơ chế và mô hình tổ chức quyền lực; thể hiện trực
tiếp, cụ thể thái độ của người dân, là nơi mà việc làm, đời sống, tâm tư,
nguyện vọng của người dân được bộc lộ đầy đủ, rõ rệt, cũng là nơi thể hiện và
đánh giá trực tiếp hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả của toàn bộ hoạt động của
hệ thống chính trị cơ sở. Có thể nói, cơ sở vừa là cấp hành động, tổ chức hành
động, đưa đường lối, nghị quyết, chính sách pháp luật vào cuộc sống; vừa là
nơi khởi nguồn cho sự hình thành đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước.
21