BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Diễm My
HÀNH VI NÓI DỐI CỦA HỌC SINH MỘT SỐ
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Diễm My
HÀNH VI NÓI DỐI CỦA HỌC SINH MỘT SỐ
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành:
Mã số:
Tâm lý học
60 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công
trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Diễm My
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI NÓI DỐI CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ ............................................................................................... 6
1.1. Lịch sử nghiên cứu về hành vi ND ở HS THCS .............................................. 6
1.1.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài về hành vi ND ở HS THCS ................... 6
1.1.2. Một số nghiên cứu trong nước về HVND của HS THCS ........................ 10
1.2. Lý luận nghiên cứu về hành vi ND ở HS một số trường THCS tại
Tp.HCM ................................................................................................................. 14
1.2.1. Khái niệm hành vi .................................................................................... 14
1.2.2. Các vấn đề về HVLC................................................................................ 17
1.2.3. Các vấn đề về HVLCXH .......................................................................... 25
1.2.4. Các vấn đề về HVND ............................................................................... 31
1.2.5. Một số đặc điểm tâm lý cơ bản ở HS THCS ............................................ 46
1.2.6. Các biểu hiện của HVND ở HS THCS .................................................... 49
1.2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến HVND ở HS một số trường THCS tại
Tp.HCM ............................................................................................................. 55
THCS ................................................................................................................ 135
Tiểu kết chương 2 .................................................................................................. 137
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .............................................................................. 139
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ ................................ 143
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 144
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CMXH
Chuẩn mực xã hội
ĐTB
Điểm trung bình
HVLC
Hành vi lệch chuẩn
HVLCXH
Hành vi lệch chuẩn xã hội
HVND
Hành vi nói dối
HK
RTX
Rất thường xuyên
VTN
Vị thành niên
XH
Xã hội
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1.
Phân biệt nói dối, lừa dối và làm dối ............................................................... 39
Bảng 2.1.
Cách thức chấm điểm câu hỏi 1 trong bảng hỏi 1 .......................................... 64
Bảng 2.2.
Cách thức quy đổi một số câu hỏi trong bảng hỏi 2 ...................................... 66
Bảng 2.3.
Cách thức quy đổi mức độ biểu hiện HVND ................................................. 66
Bảng 2.14. So sánh sự khác biệt về nhận thức của HS THCS đối với động cơ dẫn
đến HVND theo biến số hạnh kiểm ................................................................ 80
Bảng 2.15. CMXH và nhận thức của HS THCS về cường độ xuất hiện của HVND ... 80
Bảng 2.16. Tự đánh giá của HS một số trường THCS tại Tp.HCM về HVND xét
theo tiêu chí 1 của CMXH................................................................................ 82
Bảng 2.17. Đánh giá của phụ huynh và giáo viên về HVND của HS một số trường
THCS tại Tp.HCM xét theo tiêu chí 1 của CMXH ....................................... 83
Bảng 2.18. Tự đánh giá của HS một số trường THCS tại Tp.HCM về HVND xét
theo tiêu chí 2 của CMXH................................................................................ 84
Bảng 2.19. Đánh giá của phụ huynh và giáo viên về HVND của HS một số trường
THCS tại Tp.HCM xét theo tiêu chí 2 của CMXH (bảng tổng hợp 2
tiêu chí) ............................................................................................................... 85
Bảng 2.20. Tự đánh giá của HS một số trường THCS tại Tp.HCM về HVND xét
theo tiêu chí 2 của DSM – 4 ............................................................................. 86
Bảng 2.21. Đánh giá của phụ huynh và giáo viên về HVND của HS một số trường
THCS tại Tp.HCM xét theo tiêu chí 2 của DSM - 4 (bảng tổng hợp 2
tiêu chí) ............................................................................................................... 87
Bảng 2.22. Giai đoạn chuẩn bị nói dối ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM .......... 89
Bảng 2.23. Việc thực hiện các giai đoạn của HVND........................................................ 90
Bảng 2.24. Cảm xúc của HS THCS trước, trong và sau khi nói dối ............................... 91
Bảng 2.25. Đối tượng HS một số trường THCS tại Tp.HCM thực hiện HVND ........... 92
Bảng 2.26. Xu hướng chia sẻ thông tin của HS THCS với cha mẹ ................................. 93
Bảng 2.27. Các hành động HS THCS nói dối để thực hiện ............................................. 95
Bảng 2.28. Địa điểm nói dối của HS một số trường THCS tại Tp.HCM ....................... 96
Bảng 2.29. Hình thức nói dối của HS một số trường THCS tại Tp.HCM ...................... 97
Bảng 2.30. Biểu hiện HVND trong tự ý thức của HS THCS ........................................... 98
Bảng 2.31. Biểu hiện HVND trong đời sống tình cảm của HS THCS ......................... 100
Bảng 2.32. Biểu hiện HVND trong ý chí của HS THCS................................................ 103
trường THCS tại Tp.HCM có HVND lệch chuẩn ....................................... 126
Bảng 2.52. CMXH và nhận thức của HS THCS có HVND lệch chuẩn về CMXH
đối với HVND ................................................................................................. 127
Bảng 2.53. Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến HVND của HS THCS ............................ 129
Bảng 2.54. Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa lòng tự trọng và HVND của HS
một số trường THCS tại Tp.HCM................................................................. 130
Bảng 2.55. Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa sự cô đơn và HVND của HS
THCS tại Tp.HCM.......................................................................................... 131
Bảng 2.56. Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa sự căng thẳng và HVND của HS
THCS tại Tp.HCM.......................................................................................... 132
Bảng 2.57. Kết quả tương quan giữa HVND, lòng tự trọng, sự cô đơn và sự căng
thẳng ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM ............................................ 134
Bảng 2.58. Cách ứng xử của phụ huynh và giáo viên khi phát hiện HVND ở HS
THCS ................................................................................................................ 135
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ phân tích cấu trúc HVND ..............................................................35
Sơ đồ 1.2. Cách tiếp cận HVND theo DSM - IV ......................................................38
Sơ đồ 1.3. Cách tiếp cận HVND dựa trên việc nghiên cứu CMXH .........................38
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một trong những tư tưởng đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay là tăng cường
giáo dục đạo đức cho học sinh (HS). Tư tưởng này đã thể hiện rất rõ trong hàng loạt
nghị quyết của Đảng, Luật giáo dục và các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Luật giáo dục năm 2010 đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho
hiện sự chống đối với những yêu cầu của người lớn. Những yêu cầu của cha mẹ,
nhà trường, xã hội và thậm chí những yêu cầu của chính bản thân có thể gây ra
những áp lực đối với các em. Đây là những nguyên nhân gây ra trạng thái căng
thẳng, bất an và là điều kiện cho sự xuất hiện hành vi lệch chuẩn (HVLC) ở thiếu
niên [16].
Theo tác giả Magda Stouthamer - Loeber, Khoa Tâm thần Đại học học Y khoa
Pittsburgh (Mỹ): “Trong tất cả các HVLC, nói dối có thể được xem là một trong
những hành vi đầu tiên. HVLC này có mối quan hệ với những vấn đề về hành vi
khác, đặc biệt là phạm pháp. Nghiên cứu theo chiều dọc về nói dối chỉ ra cách dự
đoán hành vi phạm pháp và các hình thức khác ở tuổi trưởng thành” [66]. Như vậy,
nghiên cứu hành vi nói dối (HVND) chính là một trong những cách thức nghiên cứu
mang tính chất đón đầu và là một trong những số liệu quan trọng có khả năng dự
đoán xu hướng của các HVLC khác trong tương lai.
Có thể thấy, một cách nhìn nhận đúng đắn, khoa học về thực trạng HVND ở
HS THCS và những biểu hiện của nó là một điều hết sức cần thiết. Đây là cơ sở để
đưa ra các biện pháp giáo dục đạo đức phù hợp cho HS lứa tuổi THCS. Xuất phát từ
những nguyên nhân được nêu trên, đề tài “Hành vi nói dối của học sinh một số
trường trung học cơ sở tại Tp. HCM” được xác lập.
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng HVND ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM hiện nay,
trên cở sở đó đề xuất các biện pháp nhằm khắc phục HVND ở các em.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến đề tài như: hành vi, HVLC,
HVLCXH, HVND.
3.2. Khảo sát thực trạng HVND ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM hiện
nay. Trên cơ sở đó, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi này.
3
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4
7.1.1. Quan điểm hệ thống cấu trúc
Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc để xây dựng cơ sở lý luận như hành vi,
HVLC, HVLC xã hội, hành vi ND. Nghiên cứu đề tài (xây dựng bảng hỏi, bình luận
thực trạng) được tiến hành trên cấu trúc đã được xác lập.
7.1.2. Quan điểm thực tiễn
Nói dối hiện nay đang là mối quan tâm của gia đình và nhà trường nói riêng và
toàn xã hội nói chung. Báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng khác không
ngừng đưa tin về những hậu quả nghiêm trọng xảy ra từ việc nói dối cũng như
những cảnh báo ban đầu về hành vi này. Do đó, việc tìm hiểu thực trạng HVND,
phân tích các yếu tố dẫn đến hành vi này, đề xuất các biện pháp nhằm điều chỉnh
HVND đáp ứng với yêu cầu thực tiễn đang đề ra.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, người nghiên cứu sử dụng phối hợp các
phương pháp sau:
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
7.2.1.1. Mục đích
Khái quát hóa, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản, trên cơ sở đó xây
dựng các bảng hỏi.
7.2.1.2. Cách thực hiện
Đọc tài liệu, tham khảo một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài,
tìm ra những cơ sở nghiên cứu HVND ở HS THCS.
7.2.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
a. Mục đích
Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài. Người nghiên cứu xây dựng
ba bảng hỏi dành cho HS, giáo viên và phụ huynh để tìm hiểu thực trạng HVND
dưới góc độ HVLC trong TLH ở HS THCS.
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI NÓI DỐI CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Lịch sử nghiên cứu về hành vi ND ở HS THCS
1.1.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài về hành vi ND ở HS THCS
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu về nói dối của TLH còn rất hạn chế.
Một số ít các nghiên cứu được thực hiện trong các tiểu ngành khác nhau của TLH.
TLH lâm sàng xem xét nói dối như một vấn đề về hành vi (Stouthamer-Loeber,
1986). Các nhà TLH xã hội tập trung vào mối quan hệ giữa con người và tình huống
nói dối cụ thể (DePauloet al, 1996; Kashy và DePaulo năm 1996; Lindskold và
Waters, 1983; Millar và Tesser, 1987). Các nhà TLH phát triển thường nghiên cứu
nói dối ở trẻ em dựa trên lý thuyết đạo đức và lý thuyết nhận thức của Piaget (1932
- 1965) (Bussey, 1992; Peterson, 1995; Peterson và cộng sự, 1983; Strichartz và
Burton, 1990). Trong các chuyên ngành nghiên cứu khác nhau về HVND, hướng
nghiên cứu của TLH lâm sàng là phổ biến hơn cả. Theo hướng này, HVND thường
được quan tâm nghiên cứu dưới góc độ HVLC.
Mặc dù, HVLC ở con người xuất hiện từ thời xa xưa nhưng những HVLC đó
không được nhìn nhận đúng đắn với bản chất của nó mà được cho là do “ma ám,
quỷ ám”. Giữa thế kỷ XV, ở Đức, thuật ngữ “MAD” (người điên) xuất hiện và
những người bị mắc chứng bệnh này được hiểu là những người bị quỷ thần lấy mất
lý trí. Mãi đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, nhận thức vấn đề rối loạn tâm lý
như một chứng bệnh tâm thần mới xuất hiện ở Châu Âu [3]. Trên thực tế, vấn đề
hành vi, HVLC, HVND cũng như vấn đề về trị liệu thực sự được quan tâm nghiên
cứu từ cuối thế kỷ XIX, gắn liền với tên tuổi các nhà Tâm thần học, TLH, Giáo dục
học nổi tiếng như S. Freud, V. N. Miaxishev, M. J. Eysench, D. W. Winnicott, G. E.
Xukhareva…
Nghiên cứu về đặc điểm lứa tuổi với sự xuất hiện của những HVLC được T. P.
Xim xom, M. M. Model và L. I. Galperin (1935) chỉ ra sự gia tăng theo độ tuổi
những xung đột nội tâm do phát triển khả năng tự đánh giá yêu cầu đối với bản thân
và khả năng xử lý nội tâm. Trước đó, năm 1934, T. P. Ximxom cũng như E. A. Blei
(1940) nghiên cứu và rút ra nhận xét: chấn thương tâm lý cấp tính dưới dạng sợ hãi,
công trình nghiên cứu lớn:
Thứ nhất là bảng phân loại bệnh quốc tế (ICD 10) ra đời năm 1992. Đây là kết
quả sau hơn 30 năm làm việc không ngừng của hơn 915 nhà TLH có uy tín trên 52
8
quốc gia. Bảng phân loại này mang tính quốc tế vì phản ánh hầu hết các trường phái
và truyền thống chủ yếu về Tâm bệnh học trên thế giới. Trong công trình này đã tập
trung nghiên cứu rất kỹ về HVLC của trẻ em. HVLC của trẻ em thuộc mục F91,
phân thành 3 mục sau:
F91 - 0: HVLC khu trú trong môi trường gia đình
F91 - 1: HVLC ở những người kém thích ứng xã hội
F91 - 2: HVLC ở những người còn thích ứng xã hội [68].
Thứ hai là bảng phân loại bệnh học Hoa Kỳ DSM - IV, ra đời năm 1994 được
xây dựng trên cơ sở kế thừa phát triển DSM - I (1952), DSM - II (1968), DSM - III
(1980). Trong bảng phân loại bệnh DSM - IV, HVLC của trẻ thuộc mục 321 - 8, đã
đưa ra 15 tiêu chuẩn chẩn đoán và được chia thành bốn nhóm: hung hãn với người
và súc vật; phá hoại tài sản; gian lận hoặc ăn cắp; vi phạm nặng nề các quy định,
trong đó HVND thuộc nhóm thứ ba [34].
Nói dối được xem là một vấn đề vô cùng phức tạp, phức tạp ngay từ định
nghĩa của nó. Kang Lee và Hollie J Ross (1997) được xem là hai tác giả tiên phong
trong việc tiếp cận HVND một cách trực tiếp. Nghiên cứu nổi bật của hai ông chính
là việc đưa ra định nghĩa về nói dối dựa trên các yếu tố xã hội. Định nghĩa này được
nhiều nhà TLH, tâm thần học và giáo dục học chấp nhận và sử dụng rộng rãi đến
ngày nay [56].
Một số nghiên cứu cho thấy rằng có một sự khác biệt về giới tính trong
HVND. Chẳng hạn, Keltikangas - Jarvinen và Lindeman (1997) cho thấy nam dễ
dàng chấp nhận hành vi ND hơn nữ [58]. Stouthamer - Loeber (1986) khi xem xét
HVND ở trẻ em và VTN cho rằng nam thường nói dối với cha mẹ nhiều hơn nữ
[67]. Bên cạnh đó, nghiên cứu với VTN và người trưởng thành trẻ tuổi đã chỉ ra
đa dạng như bạn bè, ngày tháng, và tiền bạc. Kết quả cho thấy VTN và người
trưởng thành trẻ tuổi khá thường nói dối cha mẹ của họ. Người trưởng thành trẻ tuổi
đa phần ít chấp nhận lời nói dối và báo cáo là ít thường xuyên nói dối hơn so với
VTN [62].
Một cách tiếp cận khác về HVND, Backbier et al. (1997) đã tập trung vào việc
phân tích mối liên hệ giữa nói dối và các quan hệ xã hội của con người. Kết quả
nghiên cứu đã chỉ ra rằng con người có xu hướng chấp nhận việc nói dối với người
khác và không có xu hướng chấp nhận việc nói dối với người thân của họ [44].
10
Năm 2004 nhà TLH Robert S.Feldman ở Đại học Massachusetts tiến hành một
thí nghiệm để đo lường sự nói dối. Feldman đã ghi âm lén các sinh viên khi nói
chuyện với người lạ, sau đó phân tích băng ghi âm và tính toán số lần họ nói dối.
Hơn 60% đối tượng có biểu hiện nói dối trong khoảng thời gian mỗi 10 phút. Mức
độ dối trá được sắp xếp từ thổi phồng cho đến bịa đặt. Feldman nhận xét nam giới
và nữ giới có tần suất nói dối như nhau, nhưng trong khi phụ nữ có khuynh hướng
giả dối để đối tượng yên tâm thì sự giả dối của phái mạnh cốt để tự an ủi mình [66].
Các nhà khoa học Mỹ quan tâm đến tâm lý của người nói dối và đối tượng
giao tiếp của họ trong các trường hợp cụ thể để rút ra bài học. Cụ thể, Brooks
Jackson và Kathleen Hall Jamieson (2008) đã tiến hành liệt kê, phân tích các trường
hợp nói dối theo chủ đề để đưa đến kết luận về các cách thức được sử dụng để lừa
dối được hình thành dựa trên các định kiến, kinh nghiệm cá nhân, các mong muốn
có sẵn trong tiềm thức. Từ đây, tác giả cũng chỉ ra các phương thức để nhận diện
những điều dối trá nhằm tìm kiếm sự thật trong một thế giới thông tin hỗn loạn [45].
Tóm lại, có thể khẳng định rằng vấn đề HVLC nói chung và HVND nói riêng
ở trẻ em và thanh thiếu niên đang là vấn đề được nhiều nhà tâm thần học, TLH,
Giáo dục học ngoài nước quan tâm nghiên cứu. HVND đa phần được nghiên cứu
một cách gián tiếp thông qua HVLC. Các nghiên cứu trực tiếp về HVND chủ yếu
quan tâm đến thực trạng, mối quan hệ giữa hành vi và môi trường bên ngoài, từ đó
HS tuổi từ 15 - 18 thuộc bốn trường Trung học phổ thông ở Hà Nội cũng thấy có
117 trẻ em có HVLC chiếm 9,24%, trong đó HVLC chiếm tỷ lệ cao là nói dối, trốn
học, bỏ tiết [20].
Một nghiên cứu thử nghiệm của Hội Tâm lý - Giáo dục Hà Nội về HVLC ở
lứa tuổi Trung học phổ thông thuộc bốn trường khu vực Hà Nội phát hiện có
khoảng gần 10% HS có ít nhất một biểu hiện HVLC (theo hệ thống phân loại của
Hội tâm thần học Mỹ DSM - IV) [18].
Theo kết quả nghiên cứu đề tài “Thực trạng HVLCXH ở HS THCS Thành phố
Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu” của tác giả Phạm Tiến Công thì có đến hơn 10% HS
THCS Thành phố Bạc Liêu có tồn tại HVLCXH, trong đó hành vi cãi cọ, trêu chọc
bạn là xảy ra nhiều nhất ở HS, tiếp theo là hành vi không học bài, làm bài tập, hành
vi không vâng lời thầy cô, cha mẹ, hành vi trốn nhà để đi chơi, HVND cha mẹ, thầy
cô, bạn bè [6].
12
Kết quả điều tra về HVLC ở 532 HS của một số trường THCS trên địa bàn Hà
Nội cũng cho thấy, các lỗi về HVLC mà HS mắc phải rất đa dạng, nhưng nói dối
vẫn đứng ở vị trí đầu tiên và đã trở thành thông lệ đáng lo ngại. Lý do nói dối của
HS theo khảo sát có 53% do sợ cha mẹ, trên 50% học sinh biện minh cho HVND
của mình là hoàn cảnh bắt buộc, không còn cách nào khác. Chỉ có 4,8% nhận mình
có lỗi khi nói dối. Khi được hỏi, đa số các em cho rằng nói dối là để đối phó với các
hình phạt của bố mẹ. [126].
Ngoài ra, có thể đề cập đến một số bài viết, bài phỏng vấn về HVND trên các
trang báo, tạp chí khác nhau. Điển hình là trên báo Dân trí, số ra ngày 7/10/2013,
tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “Giống như nhiều hành vi khác, con người ta
thường có tư tưởng: đã làm một lần, thì làm thêm lần nữa cũng chả sao. Dần dần,
đối với một bộ phận giới trẻ, nói dối trở thành một hành vi mất kiểm soát. Gặp
chuyện nan giải, cần thiết phải nói dối cũng nói. Không gặp chuyện nan giải gì,
cũng nói dối. Giáo dục hiện nay cũng gặp phải nhiều “bệnh” cần chữa như: bệnh
nhận dạng HVND cùng các khía cạnh có liên quan. Hạn chế lớn của quyển sách này
là các vấn đề được nêu lên chưa mang tính hệ thống và khoa học cao, đặc biệt là
dưới góc độ Tâm lý học [33].
Có thể nói, Luận văn Thạc sĩ “ Hiện tượng nói dối dưới góc nhìn văn hóa học”
của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Ngân (2008), trường Đại học Khoa học xã hội và
nhân văn là đề tài nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam mang tính chuyên sâu về nói dối.
Tuy đề tài tiếp cận nói dối dưới góc độ văn hóa học, trong đó chỉ ra hai mặt văn hóa
và phi văn hóa của hiện tượng nói dối trong một số ngành nghề cụ thể nhưng đề tài
cũng đã đóng góp cơ sở lý luận rất lớn cho nghiên cứu về HVND dưới góc độ TLH [25].
Như vậy, mặc dù vấn đề nghiên cứu, chẩn đoán và điều chỉnh HVLC ở trẻ em
và thanh thiếu niên ở Việt Nam thực sự còn rất mới nhưng nó đã thu hút sự quan
tâm của nhiều nhà TLH, Giáo dục học và bác sỹ có tâm huyết với vấn đề này. Tuy
nhiên, nếu xét riêng các nghiên cứu về HVND một cách chuyên sâu thì khá hiếm.
HVND thường được nghiên cứu gián tiếp thông qua HVLC. Có thể thấy, HVND
gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân và xã hội. Vì vậy cần thiết phải có
những công trình nghiên cứu một cách cụ thể về hành vi này. Việc nghiên cứu
HVND của HS một số trường THCS tại TP. HCM cũng là một đóng góp nhất định
theo hướng nghiên cứu này.
14
1.2. Lý luận nghiên cứu về hành vi ND ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM
1.2.1. Khái niệm hành vi
1.2.1.1. Định nghĩa hành vi
Hiện nay trong lý luận cũng như thực tiễn, thuật ngữ hành vi chưa được xác
định một cách rõ ràng, dứt khoát. Nói chung con người vẫn dùng thuật ngữ hành vi
cho cả động vật và người. Ở người, thuật ngữ hành vi, hành động, hoạt động, việc
làm, cách cư xử thường được dùng thay thế lẫn nhau tùy trường hợp, tùy văn cảnh.
Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên thì “hành vi là toàn bộ nói
chung những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài, có thể quan sát được của