Thái độ đối với môn tâm lý học lãnh đạo, quản lý của học viên Phân viện thành phố Hồ Chí Minh - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KH OA HỌC XÃ H ỘI VÀ NH ÂN VĂN
NG UYỄN THAN H G IANG
THÁI Đ ộ ĐỐI VỚI M ÔN TÂM LÝ H ỌC LÃ NH ĐẠO, QUẢN LÝ
CỦA H ỌC V IÊN PHÂN VIỆN TH ÀN H PHỐ H ổ CHÍ MINH -
H ỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QU ỐC GIA H ổ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Tâm lý học
Mã số : 5. 06. 02
LUẬN VÃN THẠC s ĩ K HO A HỌC TÂM LÝ
NGƯỜI HUỚNGDẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN HỮU THỤ
ĐẠI HOC QUỐC GIA HẢ NỘI
TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN
V-Lự 65,9 _
Hà Nội - 2005
f t
LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành bản luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới Qúi thầy cô trong Khoa Tâm lý học - Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Hữu Thụ đã nhiệt
tình hướng dẫn tôi trong quá trình làm luận văn.
Cũng nhân đây tôi xin chân thành cảm ơn tới Đảng uỷ, Ban Giám đốc,
Quí thầy cô và toàn thể học viên tại Phân viện TP. Hồ Chí Minh - Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã giúp đỡ để tôi hoàn thành bản luận
vãn này.
Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2005
Tác giả
Nguyễn Thanh Giang
MỤC LỤC

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u
3.1. Thực trạng thái độ đôi với món Tâm lý học lãnh đạo, quản lý của học
viên Phân viện TP. Hồ Chí Minh - Học viện CTQG Hồ Chí Minh 57
3.1.1. Thái độ thể hiện ở mặt nhận thức của học viên đối với môn Tâm
lý học lãnh đạo, quản lý 57
3.1.2. Thái độ thể hiện ở mặt xúc cảm, tình cảm của học viên đối với
môn Tâm lý học lãnh đạo, quản lý 73
3.1.3. Thái độ thể hiện ỏ mặt hành vi học tập của học viên đối với môn
Tâm lý học lãnh đạo, quản lý 85
3.1.4. Kết quả phỏng vấn sâu một số trường hợp điển hình

100
3.2. Một sô' giải pháp nhằm nâng cao thái độ tích cực học tập của
học viên đối với môn Tâm lý học lãnh đạo, quản lý ở Phân viện TP.
Hồ Chí Minh - Học viện CTQG Hồ Chí M in h

105
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận 117
2. Kiến nghị 118
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
PHỤ LỤC
CHỮ VIẾT TẮT
-CHDC
Cộng hoà Dân chủ Đức.
- CTQG
Chính trị quốc gia.
- CCLLCT
Cao cấp lý luận chính trị.
-CNXH

“Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnli
đạo và quán lý ở các cấp, vững vàng vê chính trị, gương mẫu vê đạo đức,
trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn,
sáng tạo, gắn bó với nhân dân” [2, 141]. Đội ngũ các nhà lãnh đạo, quán lý
đáp ứng được các trọng trách cúa công cuộc đổi mới như vậy chỉ có thể có
được trong suốt quá trình giáo dục, đào tạo, rèn luyện thường xuyên thông qua
các lớp đào tạo một cách bài bản cả về lý luận lẫn thực tiễn.
Phân viện TP. Hồ Chí Minh thuộc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh
đạo chủ chốt các tỉnh phía Nam, mà một trong những mục tiêu của Phân viện
là đào tạo ra những người lãnh đạo, quản lý có bản lĩnh và sự nhạy cảm về
chính trị; có tri thức, kỹ năng, phương pháp để phân tích, tác động tâm lý đối
2
với con người và các nhóm xã hội khác nhau. Trong quá trình đối mới nâng
cao chất lượng giáo dục đào tạo, Phân viện đã chú trọng tìm các giải pháp phát
huy tính tích cực học tập của học viên. Trên thực tế các giải pháp đó đã mang
lại nhiều thành tựu trong công tác đào tạo của Phân viện và cho những bài học
thiết thực, cần tiếp thu và nhân rộng. Tuy nhiên, yêu cầu nâng cao chất lượng
đào tạo tại Phân viện hiện nay đang rất cần các giải pháp trên những phân tích
có cơ sớ khoa học. Việc phân tích, tìm hiếu thái độ học tập của học viên đối
với các môn học nói chung và thái độ đối với môn TLHLĐQL nói riêng đang
là vấn đề cấp thiết hiện nay của Phân viện.
Trong những năm qua, Phán viện đã coi nhiệm vụ cung cấp, trang bị
cho học viên những hiểu hiết về TLHLĐQL là một nhiệm vụ hết sức ưu tiên.
Song, kết quả học tập môn học này của học viên vẫn chưa thực sự đạt được kết
quá cao, vẫn còn khá nhiều học viên chưa có thái độ tích cực trong học tập
môn học do đó việc đi sâu tìm hiểu thực trạng thái độ và nguyên nhân ảnh
hướng tới thái độ đối với môn TLHLĐQL của học viên đang là vấn đề hết sức
cấp thiết đối với Phân viện, từ đó có thể đề xuất những giải pháp thích hợp cho
việc nâng cao chất lượng học tập môn TLHLĐQL ở Phán viện TP. Hồ Chí

5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn:
- Nghiên cứu thực trạng thái độ của học viên đối với môn TLHLĐQL và
phân tích các nguyên nhân của thực trạng.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng học
tập môn TLHLĐQL cho học viên Phân viện TP. Hồ Chí Minh.
6. PHẠM VI NGHIÊN c ứ u
Do hạn chế về thời gian và điều kiện nghiên cứu nên luận văn này chí
dừng lại ở mức độ tìm hiểu thực trạng thái độ đối với môn TLHLĐQL của học
viên các lớp tập trung tại Phân viện TP. Hồ Chí Minh năm học 2004 - 2005 và
4
nguyên nhân của thực trạng trên. Cụ thế là 350 học viên các lớp: B30, B31,
B32, B33.
7. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Phần lớn học viên ở Phân viện TP. Hồ Clií Minh có thái độ chưa thật
sự tích cực đối với môn TLHLĐQL. Có nhiều nguyên nhân chủ quan và khácli
quan ảnh hưởng đến thái độ của học viên, trong đó những nguyên nhản cơ
bản như nhận thức, động cơ, ỷ thức trách nhiệm, hứng thú học tập của học
viên, phương pháp giảng dạy của giáo viên, và cách thức học tập của học viên
đóng vai trò quyết định.
8. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài luận vãn sử dụng
các phương pháp nghiên cứu sau: Nghiên cứu tài liệu, điều tra bàng bảng hỏi,
quan sát, trao đổi, phỏng vấn sâu, thống kê toán học.
8.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Mục đích cơ bản của phương pháp này là nghiên cứu và phân tích
những tài liệu lý luận có liên quan đến vấn đề thái độ. Trên cơ sở đó, xây dựng
cơ sở lý luận cho đề tài, cụ thể là làm rõ nội hàm khái niệm thái độ, cấu trúc,
đặc điểm cũng như mối quan hệ giữa khái niệm thái độ với các hiện tượng tâm
lý, xây dựng khái niệm thái độ đối với môn TLHLĐQL và xác định tiêu chí để
đánh giá thái độ của học viên đối với môn học.

__

___
V
C ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỂ TÀI
1.1. S ơ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN c ứ u VÂN ĐỂ THÁI ĐÔ.
Người đầu tiên nghiên cứu về thái độ là A.Ph. Lagiurxki (1874 - 1917).
Trong các tác phẩm của mình như “Chương trình nghiên cứu nliân cách trong
mối quan hệ với môi trường” (1912), rồi sau đó là “Tâm lý học đại cương và
thực nghiệrrì\ 1912), “Bút ký khoa học vê tính các ir (1916) và “Phân loại
nhân cách" (1917, 1924) A.Ph. Lagiurxki đã đề cập đến khái niệm thái độ chú
quan ớ con người với môi trường. Theo ông, đời sống tâm lý thực của con
người được chia thành hai lĩnh vực:
- Cái tâm lý bên trong: là cơ sớ bẩm sinh cứa nhân cách, bao gồm khí
chất, tính cách và một loạt các đặc điếm tâm sinh lý khác.
- Cái tâm lý bên ngoài: là hệ thống thái độ của nhân cách với môi
trường xung quanh. [6, 257],
Như vậy, thái độ cá nhân, theo như A.Ph. Lagiurxki, là sự biểu hiện ra
bên ngoài của cái tâm lý, phản ứng với sự tác động cúa môi trường xung
quanh. Ông hiểu thái độ với môi trường xung quanh theo nghĩa rộng, bao gồm
thái độ với giới tự nhiên, với sản phẩm lao động, với những cá nhân khác, với
các nhóm xã hội và với nhũng giá trị tinh thần. Trong hệ thống thái độ chủ
quan, A.Ph. Lagiurxki đặc biệt coi trọng thái độ của nhân cách đối với lao
động, với nghề nghiệp, với sớ hữu, với người khác và với xã hội [6, 258].
7.7.7. Nghiên cứu thái độ ở các nước phương Tây.
Vấn đề thái độ (attitude) lần đầu tiên đặt ra trong tâm lý học phương
Tây bởi W.I.Thomas và F.Znaniecki vào nãm 1918 và từ đó vấn đề thái độ
7
được đặt vào một vị trí trọng tâm của các nhà khoa học. Trong nghiên cứu cua
mình, nhà tâm lý học xã hội Liên Xô (cũ) P.N. Sikhirev đã chia lịch sử nghiên

tiếp qua các chí số sinh lý như phương pháp điện cơ mặt; kỹ thuật lấn từng
bước (foot in the door) của Jonathan Freedman và Scott Fraser (1966), hay các
kỹ thuật nghiên cứu thái độ như : kỹ thuật Bogus pipeline (đường ống giả vờ)
của Edward Jones và Harold Sigall (1971).
Xu thế chung trong nghiên cứu thái độ ớ phưưng Tây là nhằm giải
quyết những vấn đề trong thực tiễn như vận động tranh cử, bầu cử, tiếp thị,
tuyên truyền, bảo vệ mỏi trường, chữa bệnh , cũng như việc nghiên cứu các
dạng thái độ đã định hình sẵn để có thê dự báo hành vi của cá nhân khi họ vấp
phải các trở ngại, khó khăn.
Khi bình luận về các công trình nghiên cứu ớ phương Tây, các nhà tâm
lý học Xôviết P.N. Sikhirev, B.Ph. Lomov, A.v. Petrovxki đã đưa ra những
khảng định sau:
- Số lượng công trình và các phương pháp cụ thể đế nghiên cứu về thái
độ ngày càng được công bố nhiều hơn.
- Sự bế tắc về phương pháp luận đã dẫn tới không tìm được cơ sở khách
quan của các attitude; các số liệu thu được từ nghiên cứu đều được lý giải
bằng cách quy về thái độ nhất định. Có thể nói, việc nghiên cứu, kiến tạo nên
các “mẫu” về attitude trong tâm lý học phương Tây ở những tình huống, điều
kiện, môi trường khách quan cụ thể chỉ có thể giúp cho các nhà nghiên cứu hệ
thống hoá số liệu thu thập được của mình dựa vào thái độ và dự báo hành vi sẽ
có thế xảy ra theo “mẫu” nào đó. Nói cách khác, con người mãi mãi chỉ là
thực thể sinh học, đơn vị hành vi của họ chỉ là những bản năng thói quen, các
khuôn mẫu, tình cảm, mà không phải là nhân cách, không có thành phần ý
thức trong điều khiển hành vi, thái độ của mình. Điều này hoàn toàn xa lạ với
quan điếm của tâm lý học mácxít cho rằng, về thực chất, sự hình thành và phát
9
triển mục đích cuộc sống, hệ thống động cơ, thái độ chủ quan của cá nhân
đồng thời cũng là sự hình thành và phát triển ý thức của họ.
7.7.2. Nghiên cứu thái độ ở Liên Xô.
Trong tiếng Nga, thuật ngữ thái độ mang nội hàm kép: ngoài nghĩa thái

thu của A.Ph. Lagiurxki, V.N. Miaxisev đã đưa quan điểm mácxít vào xem
xét và giải quyết vấn đề nghiên cứu theo hướng khả thi hơn. Tuy vậy, V.N.
Miaxisev lại cho rằng tất cả các hoạt động tâm lý hiếu theo nghĩa rộng có thế
xem như một dạng nào đó của thái độ, việc mở rộng quan niệm như vậy là
thiếu cơ sở khoa học. Nhưng có thể khẳng định học thuyết thái độ nhân cách
có những đóng góp to lớn làm cơ sở cho việc nghiên cứu thái độ Iheo quan
điểm mácxít.
Một cách tiếp cận khác, phục vụ cho việc nghiên cứu thái độ của các
nhà tâm lý học Xôviết trước đây là các công trình nghiên cứu của trường phái
tâm thế D.N. Uznadze. Theo D.N. Uznadze, tám thế là “sự mô phỏng trọn vẹn
của chủ thể, sự sẵn sàng tri giác các sự kiện và sự xác định hoàn thiện vê
hướng của liành vi” [6, 267], Tâm thế là cơ sớ của tính tích cực có sự lựa
chọn, có chủ định. Xuất phát từ vai trò, vị trí của tâm thế trong hoạt động, tâm
thế được xem như là một trạng thái vô thức, nảy sinh khi có sự “hội ngộ” của
hai yếu tố: nhu cầu và hoàn cảnh, điều kiện thoả mãn nhu cầu. Chính điều này
khiến nhiều đồng nghiệp đã phê phán ông. Trong quan niệm về tâm thế, D.N.
Uznatze chỉ đề cập đến quá trình hiện thực hoá các nhu cầu sinh lý đơn giản
mà không tính đến các hình thức hoạt động phức tạp, cao cấp của con người.
Ông đã không tính đến sự tác động phức tạp của các yếu tô' xã hội trong việc
quy định hành vi con người cũng như vai trò của quá trình lĩnh hội kinh
nghiệm xã hội. Tuy vậy, vẫn phải thừa nhận rằng học thuyết tâm thếcúa D.N.
Uznatze đã đóng một vai trò phương pháp luận khoa học cụ thể cho nhiều lĩnh
vực chuyên môn của tâm lý học. Sau này, học trò của D.N. Uznadze là S.A.
11
Nadirasvili đã phát hiện những quy luật tác động qua lại của tâm thế xã hội -
thái độ giữa người đi thuyết phục và người bị thuyết phục.
Cũng trong nghiên cứu tâm thế xã hội, p. N. Sikhirev đã đưa ra cấu trúc
ba thành phần gồm:
- Thành phần nhận thức (tri giác, thông till) như là sự “tự ý thức khách
thể của tâm thế”.

hành vi của nhân cách từ góc độ tâm lý học đại cương, tâm lý học xã hội và xã
hội học.
Trong những năm cuối của thế kỷ XX, khi nghiên cứu nhân cách như là
một phạm trù cơ bản của tâm lý học, nhà tâm lý học Nga, B.Ph, Lomov cũng
đã đề cập khái niệm thái độ chứ quan của nhân cách. Tác giả cho rằng, khái
niệm “tâm thế”, “ý cá nhân”, “attitude” là những khái niệm họ hàng cùng loại,
phán ánh những khía cạnh khác nhau của thái độ.
Cơ sở khoa học của thái độ chủ quan của cá nhân được xác định là các
quan hệ xã hội, trong đó quan hệ kinh tế (quan hệ sở hữu các phương tiện sản
xuất, các quan hệ được hình thành một cách khách quan trong quá trình phát
triển sản xuất và lưu thông, tiêu dùng) có vai trò quyết định. Ngoài ra, trong
quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách, ở cá nhân cũng hình thành thái
độ nào đó đối với các phát minh khoa học, nghệ thuật, các sự kiện chính trị,
đời sống, tư tưởng xã hội Mặt khác, do sống trong cộng đồng (nhóm lớn,
nhóm nhỏ) nên dứt khoát ớ mỗi cá nhân cũng hình thành thái độ chú quan với
nhóm mà họ tham gia và cả với cộng đồng, cũng như với nhóm khác. Do vậy,
xét cho cùng, tính chất và động thái của thái độ chủ quan được hình thành ở
mỗi cá nhân phụ thuộc vào vị trí (lập trường) mà nó chiếm chỗ trong hệ thống
các quan hệ xã hội và sự phát triển của nó trong hệ thống đó. Ngoài ra, B. Ph.
Lomov còn khẳng định tính nhiều chiều, nhiều tầng và cơ động của thái độ
chủ quan trong một hệ thống phức tạp được gọi là “không gian chủ quan đa
13
chiều", trong đó mỗi chiều đo trong không gian tương ứng với một thái độ chú
quan cụ thể nào đó và được E. Erikson gọi là các “cung tlìái độ cỏ V nghĩa".
Theo B. Ph. Lomov, phương thức hình thành thái độ chú quan thông qua
hoạt động và giao tiếp, ông cho rằng cũng có khi xảy ra mâu thuẫn giữa giao
tiếp và hoạt động, nhưng chính việc giải quyết mâu thuẫn này bảo đảm cho cá
nhân chuyển từ pha này sang pha khác, từ thời kỳ, giai đoạn này sang thời kỳ,
giai đoạn khác. Các phương thức giải quyết mâu thuẫn cũng khác nhau nhưng
cái cơ bản quan trọng là thái độ chủ quan của cá nhân khi chuyến sang giai

Theo tác giả Phạm Minh Hạc, thái độ là một trong những biểu hiện của động
cơ học tập [4]; là mục đích hàng đầu của dạy học bên cạnh việc cung cấp tri
thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo [5]. Cũng với quan điếm tương tự như vậy, hai
tác giá Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức cho rằng thái độ là một trong bốn thành
phần của nội dung dạy học đại học (hệ thống tri thức, kỹ nãng, kỹ xảo, hệ
thống khái niệm hoạt động sáng tạo, hệ thống các chuấn mực thái độ với hiện
thực) [10]. Tác giả Thái Duy Tuyên đã đề cập đến thái độ như là các mặt biểu
hiện của định hướng giá trị trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, đời sống xã
h ội
Trong những năm gần đây, nhiều luận án tiến sĩ, luận vãn thạc sĩ và các
khoá luận tốt nghiệp tâm lý học đã chú trọng nghiên cứu về thái độ trên nhiều
đối tượng khác nhau và bước đầu đã có những kết quả được ứng dụng có hiệu
quả vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Có thể kể ra một số công
trình nghiên cứu như sau: đề tài “Nghiền cứu thái độ học tập của sinh viên
Đại học An ninh nhân dân” của Nguyễn Đức Hướng đã khái quát những vấn
đề lý luận về thái độ, theo tác giả thì thái độ học tập được hiểu là: “thuộc tính
phức hợp của nhân cách, th ể hiện ỷ thức, tính cách, hứng thú, tình cảm, ỷ chí
của chủ th ể trong hoạt động học tập thông qua các đánli giá chủ quan về
15
nhận thức, cảm xúc và hoạt động với đối tượng có liên quan đến việc thoá
mãn nhu cầu của chủ thể. Thái độ học tập được th ể hiện thông qua thái độ đối
với các yếu tô thành phần như: Thái độ đối với mục đích học tập, thái độ đôi
với điều kiện, môi trường của hoạt động học tập, thái độ đối với tổ chức hoạt
động học tập, đối với các hành động học tập, với kết quả, với quá trình học
tập” [12]. Trên cơ sở đó, tác giả đã xây dựng các chỉ báo để đo lường thái độ
học tập của sinh viên, đề tài cũng rút ra được nhiều kết luận và kiến nghị có
giá trị thực tiễn cao trong việc nàng cao thái độ học tập của sinh viên. “Nghiên
cứu thái độ đối với việc rèn luyện nghiệp vụ sư pliạm của sinh viên trường
Cao đẳng sư pliạm tỉnh Bạc Liêu" của tác giả Làm Thị Sang đã phân tích vai
trò của thái độ đối với rèn luyện nghiệp vụ sư phạm - một hoạt động hết sức

1.2.1.1. Định nghĩa vé thái độ.
Thái độ là một khái niệm tương đối phức tạp, nội hàm của nó không
những có sự khác biệt giữa tâm lý học duy vật biện chứng và tâm lý học
phương Tây, mà ngay cả giữa các nhà tâm lý học mácxít cũng chưa có sự
thống nhất hoàn toàn.
Ở phương Tây, vào những năm 1918 - 1920, những người đầu tiên sử
dụng khái niệm thái độ như một đặc tính quan trọng của các vấn đề xã hội, đó
là W.I.Thomas và F.Znaniecki, hai ông cho rằng: ‘T hái độ là trạng thái tinh
thần (state o f mind) của cá nhân đối với một giá trị ” [8, 318]. Định nghĩa này
chú trọng đến yếu tố chủ quan của cá nhân đối với một giá trị này hay một giá
trị khác, làm cho cá nhân có hành động này hay hành động khác mà được xã
hội chấp nhận.
Sau thời gian đó bắt đầu hàng loạt các nghiên cứu về thái độ xã hội
được tiến hành. Trên những bình diện khác nhau về mặt lý luận và thực tiễn
17
của các mối quan hệ xã hội, các tác giá đưa ra các quan niệm khác nhau về
thái độ với những hạt nhân hợp lý cơ bản riêng.
Năm 1935, nhà tâm lý học người Mỹ là G. Allport đã định nghĩa: 'Th á i
độ tà trạng thái sẵn sàng vê mặt tinh thần và thẩn kinh được tổ chức thông
qua kinh nghiệm, có khả năng điều chính hoặc ảnh hưởng năng động đối với
phản ứng của cá nhân hướng đến các klìách thê và tình huống mà IIÓ quan hệ”
[26, 810],
Sau này Newcome cũng cho rằng thái độ của cá nhân đối với một đối
tượng nào đó là “thiên hướng liànli động, Iiliận thức, tư duy, cám Iiliận của anh
ta với khách thể liên quan” [22].
Trong lừ điển các thuật ngữ Tâm lý và Phân tâm học xuất bản tại New
York năm 1966 thì thái độ (attitude) lại được định nghĩa là : “mộ/ trạng thái
ổn đinh, bển vững, do tiếp thu được từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một
cách nhất quán đối với một nhóm đôi tượng nhất định, không phải với bản
thản chủng ra sao mà như chúng được nhận thức ra sao. Một thái độ được

cũng có một số nhận định chung về nội hàm cùa khái niệm này, đó là tính
"sẵn sàns phan ứng”, tính gây tác độnợ đến hành vi. Riêns định nahĩa về thái
độ cùa G.W. Allport được nhiều nhà tám lý học thừa nhận vì qua định nơhĩa
đó cho ta thấy thái độ là gì, nsuồn gốc, vai trò. chức nãnơ cua thái độ. Tuy
nhiên, trons định nshĩa cùa G.Allport. một lán nữa lại thấy, thái độ chi bó 2ọn
"trong đâu" cua một cái tỏi chu quan [6: 281], mà khỏns thấy rõ vai trò cua
các vếu tố mỏi trườns và nhữns nsười khác tronơ xã hội với việc hình thành
thái độ chù quan cùa mỗi nsười.
Khi phân tích về khái niệm thái độ. các nhà tâm lý học mácxít đéu cho
răng, phải chú V tới "nhữn2 cấp độ trừu tượns hoá tươns ứns với những định
nghĩa riêng biệt”, “phải tìm ra điểm xuất phát chung” cua nhữns định nshĩa
ấy. Đó là. phái chọn tiêu chuán chức lìăng làm điểm tựa. điểm mấu chất này
được thể hiện trong nhữns định nghĩa sau đây:
19
D. N. Uznatze cho rằng : “Thái độ không phải một nội dung cục bộ của
ỷ thức, không phải là nội dung tâm lý bị tách rời, đôi lập lại với các trạng thái
tám lý khác của ý thức và ỏ trong mối quan hệ qua lại với nó, mà là một trạng
thái toàn vẹn, xác định của chứ thể yếu tỏ tính khuynh hướng năng động của
nó là một yếu tỏ toàn vẹn tlieo một hướng nhất địnli nhám một tính năng động
nhất địnli đó là sự phản ứng cơ bản đầu tiên đối với tác động của tình huống
trong đổ chủ thể phải đặt ra và giải quyết nliiệm vụ ” [11]. Định nghĩa này đã
vạch ra được bản chất của thái độ, một mạt đã nhìn nhận thái độ như một bộ
phận cấu thành có tính toàn vẹn của ý thức cá nhân, một mặt thừa nhận thái độ
mang trong mình tính tự giác, tính năng động của một hiện tượng tâm lý thuộc
cấp độ ý thức - điều khiển, điều chỉnh hành vi con người.
V.N. Miaxisev cho rẳng “thái độ là khía cạnh chủ quan bén trong, có
tính chọn lọc của các mối liên hệ đa dạng ỏ con người với các khía cạnh khác
nhau của hiện thực. Hệ thống này diễn ra trong toàn bộ lịch sử phát triển của
COIÌ
người, biểu thị kinh nghiệm cá nhân và quy định nội hàm hành động cũng

chẳng hạn như của Krech, Crutchfield: “Việc xem xét thái độ bên trong kliông
đơn giản bởi chúng ta không thể trực tiếp tlìâm nhập vào pliạm vi ý thức bên
trong của cá nhân mà chỉ có thể gián tiếp thông qua những biểu hiện bên
ngoài" [11],
Với một cách nhìn toàn diện hơn, thái độ không chỉ thuộc phạm vi của
tâm lý học cá nhân mà còn bao hàm cả những khía cạnh của tâm lý học xã
hội. Khái niệm thái độ của H. Hípsơ và M. Forvec nhấn mạnh chức năng của
thái độ đối với hoạt động chung, hoạt động hợp tác của con người trong xã
hội: “Thái độ là một sự sẵn sàng plìản ứng bị quy định và có tính cliất bắt
buộc nào đó, nảy sinh trong những nhóm nhất định và trong những tình huống
cụ thể. Về mặt lượng cũng như vê mặt nội dung sự sẵn sàng Iiày phụ thuộc
không những vào chủ th ể hữu quan mà trước hết là một hiện tượng tâm lý xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status