Nghiên cứu thái độ và các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ đối với môn tâm lý học đại cương của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TÂM LÝ HỌC

VŨ THỊ NHƯ QUỲNH
NGHIÊN CỨU THÁI ĐỘ VÀ CÁC YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI MÔN TÂM
LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN HỮU THỤ HÀ NỘI- 2007

MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG……………………… 1
1. Lý do chọn đề tài ………………………………………………… 1
2. Mục đích nghiên cứu ……………………………………………. 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ……………………………………………… 2
4. Khách thể, đối tượng nghiên cứu ………………………………… 3
5. Giả thuyết khoa học ……………………………………………… 3
6. Phương pháp nghiên cứu ……………………………………………4
PHẦN THỨ HAI : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ………………………… 6
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài ………………………………… 6
1. Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu thái độ ………………… 6
1. 1. Nghiên cứu thái độ ở các nước phương Tây…………………… 6
1.2. Nghiên cứu thái độ ở Liên Xô……………………………………. 8
1. 3. Nghiên cứu thái độ ở Việt Nam ………………………………… 13
2. Các khái niệm cơ bản của đề tài…………………………………. 15
2. 1. Khái niệm thái độ……………………………………………… 15
2. 1.1. Định nghĩa về thái độ………………………………………… 15
2. 1. 2. Cấu trúc của thái độ………………………………………… 20
2. 1. 3. Chức năng của thái độ………………………………………. 22
2. 1. 4. Các đặc điểm của thái độ…………………………………… 23
2. 1.5. Cơ chế hình thành thái độ…………………………………… 24
2. 1. 6. Thang đo thái độ……………………………………………… 24
2. 1. 7. Mối quan hệ giữa thái độ với các hiện tượng tâm lý………… 28
2. 2. Khái niệm thái độ học tập…………………………………… 33
2. 2. 1. Cấu trúc của thái độ học tập…………………………………. 36

2. 1.1. Hứng thú học tập…………………………………………… 92
2. 2. 2. Khả năng nhận thức của sinh viên………………………… 94
2. 2. 3. Nhu cầu của sinh viên ……………………………………… 94
2. 2. Nguyên nhân khách quan……………………………………. 95
2. 2. 1. Nội dung môn học………………………………………… 97
2. 2. 2. Người giáo viên……………………………………………. 100
3. Mối tương quan giữa xúc cảm, tình cảm và hành vi đối với môn
tâm lý học đại cương của sinh viên các khoa trong trường Đại học Sư
phạm Hà Nội. …………………………………………………………… 108
4. Phân tích một số trường hợp điển hình………………………. 112
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ………………………………………… 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Lý do chọn đề tài:
Trong thế giới hiện đại, học tập ngày càng có vai trò quyết định đến sự
phát triển của xã hội cũng như của từng cá nhân trong xã hội đó. Khoa học
giáo dục hiện đại cũng đã xác định được mục tiêu cơ bản của giáo dục đó là
việc hình thành nhân cách cho người học, nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày
càng cao của xã hội. Hoạt động dạy học, cũng như mục đích của việc học tập
hiện nay, mỗi quốc gia, mỗi cá nhân ngày càng nhận thức đầy đủ, đó là: “ học
để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người, để tự khẳng định
mình” [1, tr. 2].

thành những công dân hữu ích đối với xã hội”. Hay nói cách khác, “vấn đề
hiện nay là phải tìm ra động lực cho người dạy và người học” [14, tr. 61, 62].
Trong đó hoạt động học tập là hoạt động khó khăn và phức tạp, vì thế
một trong những yếu tố góp phần lớn lao trong việc đưa lại kết quả học tập
cao hay thấp là thái độ của người học. Vì thế người học phải tự hình thành
cho mình thái độ học tập rõ ràng, đúng đắn để việc học diễn ra thuận lợi, đạt
kết quả học tập cao.
Từ những lý do trên chúng tôi thấy cần thiết phải nghiên cứu “thái độ của
sinh viên đối với môn tâm lý học đại cương và các yếu tố ảnh hưởng đến thái
độ đó” để nhằm giúp cho người học có một thái độ đúng đắn với môn học này
và người dạy có phương pháp, cách thức giúp người học đạt được kết quả học
tập cao nhất.
2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng thái độ của sinh viên đối với môn Tâm lý học và
các yếu tố ảnh hưởng tới thái độ đó, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp,
kiến nghị cũng như yêu cầu cho sinh viên trong việc rèn luyện thái độ học tập
cho giảng viên có thể thay đổi phương pháp và nội dung bài giảng để có thể
có kết quả dạy và học cao nhất.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
3. 1. Nghiên cứu lý thuyết:
- Khái niệm công cụ của đề tài.
3
- Khái quát các vấn đề lý luận về thái độ và các yếu tố ảnh hưởng đến
thái độ nói chung.
- Đặc điểm tâm lý sinh viên và môi trường hoạt động của sinh viên
3. 2. Nghiên cứu thực tiễn:
- Nghiên cứu thực trạng thái độ của sinh viên đối với môn Tâm lý học


6. Phƣơng pháp nghiên cứu:
- Phương pháp đọc và phân tích tài liệu:
Chúng tôi tiến hành phân tích, tổng hợp đánh giá một số quan điểm của
các nhà tâm lý học, xã hội học về thái độ nói chung; từ đó xác định thái độ có
ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên để xây dựng cơ sở lý luận của đề
tài.
- Phương pháp điều tra: Chúng tôi xây dựng một bộ phiếu câu hỏi điều
tra nhằm nghiên cứu về thực trạng thái độ của sinh viên đối với môn Tâm lý
học.
- Phương pháp quan sát: Nhằm bổ trợ cho việc thực hiện điều tra và
đánh giá thái độ học tập của sinh viên đối với môn Tâm lý học là tích cực hay
là chưa tích cực.
- Phương pháp phỏng vấn.
+ Mục đích: nhằm hiểu thêm về thái độ học tập của sinh viên là tích cực
hay tiêu cực.
+ Đối tượng phỏng vấn: giáo viên giảng dạy tâm lý và sinh viên.
+ Yêu cầu khi trò chuyện, phỏng vấn: Thật tế nhị, gây được tình cảm đối
với người trò chuyện, phải nắm bắt được những biểu hiện của thái độ của đối
tượng đối với môn học thông qua nội dung câu trả lời, qua thái độ, biểu hiện
tâm lý trong quá trình trò chuyện.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm.
+ Mục đích: Nhằm giải quyết một phần trong việc phát hiện thái độ, trình
độ, khả năng học tập môn tâm lý học đại cương của sinh viên.
5
+ Sản phẩm nghiên cứu là: vở ghi, sổ theo dõi chuyên cần, kết quả thi
của sinh viên.

6

PHẦN THỨ 2 : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1. Sơ lƣợc lịch sử vấn đề nghiên cứu thái độ:
Người đầu tiên nghiên cứu về thái độ là A. Ph. Lagiurxki (1874- 1917).
Trong các tác phẩm của mình như “Chương trình nghiên cứu nhân cách trong
mối quan hệ với môi trường” (1912), rồi sau đó là “Tâm lý học đại cương và
thực nghiệm” (1912), “Bút ký khoa học về tính cách” (1916) và “Phân loại
nhân cách” (1917, 1924) A. Ph. Lagiurxki đã đề cập đến khái niệm thái độ
chủ quan ở con người với môi trường. Theo ông đời sống tâm lý thực của con
người được chia thành 2 lĩnh vực:
- Cái tâm lý bên trong: là cơ sở bẩm sinh của nhân cách, bao gồm khí
chất, tính cách và một loạt các đặc điểm tâm sinh lý khác.
- Cái tâm lý bên ngoài: là hệ thống thái độ của nhân cách với môi trường
xung quanh. [19, 257].
Như vậy, thái độ cá nhân, theo như A. Ph. Lagiurxki , là sự biểu hiện ra
bên ngoài của cái tâm lý, phản ứng với sự tác động của môi trường xung
quanh. Ông hiểu thái độ với môi trường xung quanh theo nghĩa rộng, bao gồm
thái độ với giới tự nhiên, với sản phẩm lao động, với những cá nhân khác, với
các nhóm xã hội và với những giá trị tinh thần. Trong hệ thống thái độ chủ
quan, A. Ph. Lagiurxki đặc biệt coi trọng thái độ của nhân cách đối với lao
động, với nghề nghiệp, với sở hữu, với người khác và với xã hội [19, 258].
Nghiên cứu thái độ ở các nước phương Tây.
Vấn đề thái độ (attitude) lần đầu tiên đặt ra trong tâm lý học phương Tây
bởi W. I. Thomas và F. Znaniecki vào năm 1918 và từ đó vấn đề thái độ được
đặt vào một vị trí trọng tâm của các nhà khoa học. Trong nghiên cứu của
mình, nhà tâm lý học xã hội Liên Xô P. N. Sikhirev đã chia lịch sử nghiên
cứu thái độ ở phương Tây ra làm ba thời kỳ chính .


phát xít, thang đo quan điểm giáo điều (The Dogmatism Scale), phương pháp
đo thái độ gián tiếp qua các chỉ số sinh lý như phương pháp điện cơ mặt; kỹ
8
thuật lấn từng bước (food in the door) của Jonathan Freedman và Scott Fraser
(1966), hay các kỹ thuật nghiên cứu thái độ như: kỹ thuật Bogus pipeline
(đường ống giả vờ) của Edward Jones và Harold Sigall (1971).
Xu thế chung trong nghiên cứu thái độ ở phương Tây là nhằm giải quyết
những vấn đề trong thực tiễn như vận động tranh cử, bầu cử, tiếp thị, tuyên
truyền, bảo vệ môi trường, chữa bệnh… cũng như việc nghiên cứu các dạng
thái độ đã định hình sẵn để có thể dự báo hành vi của cá nhân khi họ vấp phải
các trở ngại, khó khăn.
Khi bình luận về các công trình nghiên cứu ở phương Tây, các nhà tâm
lý học Xô Viết P. N. Sikhirev, B. Ph. Lomov, A. V. Petrovxki đã đưa ra
những khẳng định sau:
- Số lượng công trình và các phương pháp cụ thể để nghiên cứu về thái
độ ngày càng được công bố nhiều hơn.
- Sự bế tắc về phương pháp luận đã dẫn tới không tìm được cơ sở khách
quan của các thái độ; các số lượng thu được từ nghiên cứu đều được lý giải
bằng cách quy về thái độ nhất định. Có thể nói việc nghiên cứu, kiến tạo nên
các mẫu về “attitude” trong tâm lý học phương Tây ở những tình huống, điều
kiện môi trường khách quan cụ thể chỉ có thể giúp cho các nhà nghiên cứu hệ
thống hoá số liệu thu thập được của mình dựa vào thái độ và dự báo hành vi
có thể xảy ra theo “mẫu” nào đó. Nói cách khác, con người mãi mãi chỉ là
thực thể sinh học, đơn vị hành vi của họ chỉ là những bản năng thói quen, các
khuôn mẫu, tình cảm,…mà không phải là nhân cách, không có thành phần ý
thức trong điều khiển hành vi, thái độ của mình. Điều này hoàn toàn xa lạ với
quan điểm của tâm lý học hoạt động cho rằng: về thực chất, sự hình thành và

(âm tính). Các kinh nghiệm âm tính hay dương tính trong quan hệ với những
người xung quanh là cơ sở để hình thành hệ thống thái độ tương ứng trong
nhân cách. Như vậy, theo V. N. Miaxisev, thái độ được xác định như là khía
cạnh của các mối quan hệ, liên hệ mang tính chủ thể bên trong có chọn lọc
của cá nhân với bức tranh muôn màu muôn vẻ của hiện thực khách quan.
Thái độ là điều kiện khái quát hoá bên trong của các hành động ở con người.
Điều đó có thể thấy rằng, với học thuyết thái độ nhân cách đã được tiếp
thu của A. Ph. Lagiurxki, V. N. Miaxisev đã đưa quan điểm hoạt động vào
10
xem xét và giải quyết vấn đề nghiên cứu theo hướng khả thi hơn. Tuy vậy, V.
N. Miaxisev lại cho rằng tất cả các hoạt động tâm lý hiểu theo nghĩa rộng có
thể xem như một dạng nào đó của thái độ, việc mở rộng quan niệm như vậy là
thiếu cơ sở khoa học. Nhưng có thể khẳng định học thuyết thái độ nhân cách
có những đóng góp to lớn làm cơ sở cho việc nghiên cứu thái độ theo quan
điểm hoạt động.
Một cách tiếp cận khác, phục vụ cho việc nghiên cứu thái độ của các nhà
tâm lý học Xô Viết trước đây là các công trình nghiên cứu của trưòng phái
tâm thế D. N. Uznadze. Theo D. N. Uznadze, tâm thế là “sự mô phỏng trọn
vẹn của chủ thể, sự sẵn sàng tri giác các sự kiện và sự xác định hoàn thiện về
hướng của hành vi”. Tâm thế là cơ sở của tính tích cực có sự lựa chọn, có chủ
định. Xuất phát từ vai trò, vị trí của tâm thế trong hoạt động, tâm thế được
xem như trạng thái vô thức, nảy sinh khi có sự “hội ngộ” của hai yếu tố: nhu
cầu và hoàn cảnh, điều kiện thoả mãn nhu cầu. Chính điều này đã khiến nhiều
đồng nghiệp đã phê phán ông. Trong quan niệm về tâm thế, D. N. Uznadze
chỉ đề cập đến quá trình hiện thực hoá các nhu cầu sinh lý đơn giản mà không
tính đến các hình thức hoạt động phức tạp của các yếu tố xã hội trong việc
quy định hành vi con người, cũng như vai trò của quá trình lĩnh hội kinh

phản ứng cá nhân trong những tình huống đơn giản khi có sự “gặp gỡ” giữa
nhu cầu sinh lý và đối tượng thoả mãn nhu cầu. Hệ thống định vị tâm thế xã
hội cũng có cấu trúc thứ bậc được sắp xếp từ bậc thấp đến cao để điều chỉnh
hành vi xã hội của cá nhân, trong đó định vị bậc cao có thể chi phối định vị
bậc thấp. V. A. Iadov đã lý giải một cách hợp lý về mâu thuẫn giữa hành vi và
các phản ứng bằng lời nói trong thái độ của cá nhân như sau: “vai trò chủ đạo
điều khiển hành vi thuộc về cách bố trí dàn binh của một mức độ khác” mà
theo cách này, hành vi bị điều khiển phụ thuộc vào vị trí động cơ (đối tượng
hoạt động) tương ứng trong cấu trúc thứ bậc động cơ của nhân cách.
Như vậy, chúng ta thấy thuyết định vị đã xem xét vấn đề thái độ từ một
góc độ mới, nó cho phép thiết lập sợi dây liên hệ giữa các cách tiếp cận vấn
đề hành vi của nhân cách từ góc độ tâm lý học đại cương, tâm lý học xã hội
và xã hội học.
12
Trong những năm cuối thế kỷ XX, khi nghiên cứu nhân cách như là một
phạm trù cơ bản của tâm lý học, nhà tâm lý học Nga B. Ph. Lomov cũng đã đề
cập khái niệm thái độ chủ quan của nhân cách. Tác giả cho rằng, khái niệm
“tâm thế”, “ý cá nhân”, “attitude” là những khái niệm họ hàng cùng loại, phản
ánh những khía cạnh khác nhau của thái độ.
Cơ sở khoa học của thái độ chủ quan của cá nhân được xác định là các
quan hệ xã hội, trong đó quan hệ kinh tế (quan hệ sở hữu các phương tiện sản
xuất, các quan hệ được hình thành một cách khách quan trong quá trình phát
triển sản xuất và lưu thông, tiêu dùng) có vai trò quyết định. Ngoài ra trong
quá trình hoàn thiện và phát triển nhân cách, ở cá nhân cũng hình thành thái
độ nào đó đối với các phát minh khoa học, nghệ thuật, các sự kiện chính trị,
đời sống, tư tưởng xã hội … Mặt khác, do sống trong cộng đồng (nhóm lớn,
nhóm nhỏ) nên dứt khoát ở mỗi cá nhân cũng hình thành thái độ chủ quan với

Leonchiev, K. I. Melnhicova, L. X. Xlavina…).
- Thái độ với nghề nghiệp và lao động (N. I. Krulov, V. X. Philatov…).
Tóm lại: Khi nghiên cứu vấn đề thái độ, các nhà tâm lý học Liên Xô đã
vận dụng cách tiếp cận hoạt động- nhân cách, gắn thái độ với nhu cầu, với
điều kiện hoạt động, với nhân cách, coi thái độ như một hệ thống, từ đó đưa ra
cách lý giải hợp lý và khoa học về sự hình thành thái độ, vị trí và chức năng
của thái độ trong quá trình điều khiển, điều chỉnh hành vi và hoạt động của cá
nhân.
1.3. Nghiên cứu thái độ ở Việt Nam.
Hầu hết các nhà tâm lý học ở Việt Nam đều xuất phát từ quan điểm tâm
lý học hoạt động khi nghiên cứu tâm lý con người trong đó có vấn đề thái độ .
Thái độ được tác giả đề cập trên bình diện lý luận, chủ yếu là khái quát những
vấn đề lý luận về thái độ như định nghĩa, cấu trúc, đặc điểm của thái độ
(Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thuỷ, Lê Đức Phúc, Trần Hiệp, Nguyễn Ngọc
Bích, Đào Thị Oanh, Võ Thị Minh Chí, Nguyễn Hữu Thụ…). Trên bình diện
thực tiễn nhiều công trình được nghiên cứu khá công phu, chủ yếu tập trung
nghiên cứu về thái độ học tập trên đối tượng là học sinh, sinh viên từ đó rút ra
những kết luận làm cơ sở cho việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc, thái độ là một trong những biểu hiện của động
14
cơ học tập [11]; là mục đích hàng đầu của dạy học bên cạnh việc cung cấp tri
thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo [12]. Cũng với quan điểm tương tự như vậy,
hai tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức cho rằng thái độ là một trong bốn
thành phần của nội dung dạy học đại học (hệ thống tri thức kỹ năng, kỹ xảo,
hệ thống khái niệm hoạt động sáng tạo, hệ thống các chuẩn mực thái độ với
hiện thực) [14]. Tác giả Thái Duy Tuyên đã đề cập đến thái độ như là các mặt
biểu hiện của định hướng giá trị trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, đời sống

với công việc và xí nghiệp”. Luận văn thạc sỹ tâm lý học của Nguyễn Thị
Hoà: “Thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh lớp 3 ở một số
trường phổ thông Biên Hoà với nội dung giáo dục dân số” (1998). Nguyễn Lệ
Hằng: “Thái độ của người dân với hành vi vứt đổ rác bừa bãi”. Luận văn
thạc sỹ tâm lý học (2003), Nguyễn Thị Huệ: “Nghiên cứu thái độ với việc rèn
luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên trường cao đẳng mầm non Thanh
Hoá”. Luận văn thạc sỹ tâm lý học, Vũ Thế Thường: “Thái độ với loại hình
bảo hiểm nhân thọ của người dân Hà Nội”. Luận văn thạc sỹ tâm lý học
(2003), Phan Ái Xuân: “Tìm hiểu thái độ với việc nâng cao tay nghề của công
nhân trong một số doanh nghiệp dệt may trên địa bàn Hà Nội” (2004)… Các
công trình nghiên cứu đó đã chỉ ra mối quan hệ giữa nhận thức- thái độ và
hành vi, hay vai trò của thái độ đối với việc nâng cao tay nghề, nâng cao khả
năng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên các nhà trường sư phạm …
Mặc dù nhiều công trình nghiên cứu về thái độ như vậy, xong cho đến
nay, các nghiên cứu vẫn chưa ai đi đến thống nhất về khái niệm thái độ. Việc
nghiên cứu thái độ đối với môn học chưa có công trình nào đề cập đến một
cách có hệ thống và toàn diện, do vậy mà việc nghiên cứu thái độ đối với môn
tâm lý học đại cương là rất cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
trong nhà trường.
2. Các khái niệm cơ bản của đề tài.
2. 1. Khái niệm thái độ.
2. 1.1. Định nghĩa về thái độ.
Thái độ là một hiện tượng tương đối phức tạp, nội hàm của nó không
những có sự khác biệt giữa tâm lý học duy vật biện chứng và tâm lý học
16
phương Tây, mà ngay cả giữa các nhà tâm lý học hoạt động cũng chưa có sự
thống nhất hoàn toàn.

17
trong tâm lý học phương Tây- xem “thái độ” như một khái niệm chủ yếu
thuộc về tâm lý học cá nhân.
Năm 1971, H. C. Trianodis nhà tâm lý học Mỹ đưa ra định nghĩa: “Thái
độ là những tư tưởng được tạo nên bởi các xúc cảm, tình cảm. Nó gây tác
động lên hành vi nhất định, thái độ của con người bao gồm những điều mà họ
cảm thấy và suy nghĩ về đối tượng, cũng như cách xử sự của họ đối với đối
tượng đó” .
H.Fillmore nhận định “thái độ là sự sẵn sàng phản ứng tích cực hay tiêu
cực đối với đối tượng hay các ký hiệu “(biểu tượng) trong môi trường… Thái
độ là sự định hướng của cá nhân đến các khía cạnh khác nhau của môi
trường và là cấu trúc có tính động cơ” .
Gần đây, James. W. Kalat đưa ra định nghĩa: “Thái độ là sự thích ứng
hay không thích ứng của một sự vật hoặc một người nào đó của cá nhân, có
ảnh hưởng tới hành vi của anh ta khi ứng xử với sự vật hoặc con người đó” .
Nhà tâm lý học John Traver cũng định nghĩa: “Thái độ là cách cảm xúc, tư
duy và hành động tương đối lâu dài đối với sự việc hay con người nào đó”,
hay quan niệm của David. G. Myers lại nhấn mạnh khía cạnh nhận thức của
thái độ: “Thái độ là phản ứng mang tính chất đánh giá có thiện chí hay không
thiện chí về một điều gì đó, hay một người nào đó được thể hiện trong niềm
tin, xúc cảm và hành vi có chủ định”.
Từ những định nghĩa trên đây về thái độ của các nhà tâm lý học phương
Tây, chúng tôi thấy rằng có sự không đồng nhất. Tuy nhiên, ở một vài tác giả
cũng có một số nhận định chung về nội hàm của khái niệm này, đó là tính
“sẵn sàng phản ứng”, tính gây tác động đến hành vi. Riêng định nghĩa về thái
độ của G. W. Allport được nhiều nhà tâm lý học thừa nhận vì qua định nghĩa
đó cho ta thấy thái độ là gì, nguồn gốc, vai trò, chức năng của thái độ. Tuy
nhiên, trong định nghĩa G. W. Allport, một lần nữa lại thấy, thái độ chỉ bó gọn
“trong đầu” của một cái tôi chủ quan [3, 281], mà không thấy rõ vai trò của


của ý thức cá nhân và là các mối liên hệ ngược của chủ thể với thế giới, được
phản ánh và được khách thể hóa trong tâm vận động”. Theo tư tưởng nêu
19
trên, phản ánh được hiểu không chỉ là kết quả tác động của môi trường lên
con người mà là biểu hiện của sự tác động qua lại được thực hiện bằng thái độ
có ý thức.
Các nhà tâm lý học của Leningrad thuộc Liên Xô trước đây thì coi thái
độ là “những cơ cấu tâm lý có sẵn, định hướng cho sự ứng phó của cá nhân”.
Trong khi đó, dưới góc độ nhân cách của các nhà tâm lý học lại khẳng định
thái độ là thuộc tính tâm lý bao gồm niềm tin, hứng thú, thái độ xã hội.
G. Clauss- dưới góc độ chức năng đã xác nhận rằng: “thái độ của con
người là rất tích cực, định hướng vào sự biến đổi hoàn cảnh chứ không phải
vào sự thích ứng”. Theo ông, có hai hình thức tồn tại của thái độ là: “thái độ
bên ngoài” và “ thái độ bên trong”. Về bản chất hai loại thái độ này là không
có sự khác biệt, chúng cũng dựa trên những quá trình sinh lý thần kinh như
nhau, không tách rời, không đối lập nhau. Trong lịch sử phát triển của tâm lý
học, sự tuyệt đối hóa thái độ bên trong đã dẫn tới chủ nghĩa duy tâm của W.
Dilthey và E. Spanger, … hay sự tuyệt đối hoá thái độ bên ngoài đã dẫn tới
chủ nghĩa hành vi của J. Watson. Tác giả cũng cho rằng thái độ bên ngoài có
thể quan sát được một cách trực tiếp thông qua những vấn đề cử chỉ, hành
dộng và những phát biểu bằng lời. Còn thái độ bên trong là những thể
nghiệm, chỉ có thể biết được thông qua thái độ bên ngoài hoặc một cách trực
tiếp nhờ quan sát.
Những quan niệm của G. Clauss về mối quan hệ giữa thái độ bên trong
và thái độ bên ngoài, về khả năng nghiên cứu thái độ bên trong thông qua thái
độ bên ngoài cũng phù hợp với quan niệm của nhiều nhà tâm lý học khác,
chẳng hạn như Krech, Cruchfield: “ Việc xem xét thái độ bên trong không

như tri thức bị chi phối về vấn đề thì thái độ gắn liền với tư thế”.
Qua việc xem xét, phân tích các định nghĩa về thái độ của các nhà tâm lý
học, chúng tôi nhất trí với quan điểm của các nhà tâm lý học Đức H. Hipsơ và
M. Forvec trong việc giải thích nội dung khái niệm thái độ. Đó là phải chọn
tiêu chuẩn chức năng của thái độ đối với hoạt động làm điểm tựa, đồng thời
không thể tách rời “thái độ bên trong” và “thái độ bên ngoài”. Do đó, có thể
định nghĩa: Thái độ là trạng thái tâm lý chủ quan của cá nhân sẵn sàng
phản ứng theo một khuynh hướng nhất định đối với một đối tượng nào đó,

Trích đoạn 1 7 Mối quan hệ giữa thỏi độ với cỏc hiện tượng tõm lý Hệ thống thỏi độ học tập
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status