VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ ĐIỆP
THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA SEN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số
: 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ THANH THỦY
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng
tới Lãnh đạo Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam – Học Viện Khoa học
xã hội, quý thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy và cung cấp những kiến thức
cơ bản, sâu sắc, tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên
cứu tại học viện
Đặc biệt, với tấm lòng thành kính, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất
đến Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Thủy, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học
và tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành
luận văn.
MỤC LỤC........................................................................................................................................3
Chương 1........................................................................................................................................10
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ............................................10
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.............................................................................................................10
1.1 Khái niệm về dân chủ cơ sở...................................................................................................10
1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về dân chủ cơ sở..........................................................................13
1.3. Quy chế dân chủ cơ sở trong trường đại học hiện nay.........................................................23
Chương 2........................................................................................................................................29
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA
SEN HIỆN NAY............................................................................................................................29
2.1. Thực trạng thực hiện quy chế dân chủ cơ sở của Trường Đại Học Hoa Sen hiện nay...........29
2.2. Kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tại
trường Đại học Hoa Sen hiện nay................................................................................................62
2.3. Một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tại
trường Đại học Hoa Sen hiện nay:...............................................................................................69
KẾT LUẬN....................................................................................................................................73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................76
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Sơ đồ tổ chức Trường Đại học Hoa Sen (Tháng 06/2016).......................33
Bảng 2.2. Các nội dung báo cáo của Khoa Đào Tạo Chuyên Nghiệp......... .……...41
Bảng 2.3. Các nội dung báo cáo của Khoa Khoa học công nghệ............................ 41
Bảng 2.4. Các nội dung báo cáo của Khoa Kinh Tế Thương Mại .......................... 42
Bảng 2.5. Các nội dung báo cáo của Khoa Ngôn ngữ văn hóa học..........................42
pháp luật. Tệ quan liêu, cửa quyền, hách dịch, mệnh lệnh, tham ô, nhũng nhiễu gây phiền
hà cho dân vẫn còn khá phổ biến và nghiêm trọng mà chưa được đẩy lùi, phương châm
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” còn nhiều hạn chế. Vì vậy, việc thực hiện
quy chế dân chủ cơ sở là chủ trương đúng đắn, phù hợp với ý Đảng lòng dân, phát
huy sức sáng tạo, tạo động lực trong lao động, sản xuất và kiến tạo xã hội mới ấm
no, hạnh phúc.
Để đáp ứng yêu cầu đó, trong Pháp lệnh về dân chủ cơ sở Đảng và Nhà nước
ta đã ban hành các quy chế có nội dung pháp lý cho việc phát huy quyền làm chủ
của người lao động trong các cơ quan, xí nghiệp, trường học. Trên cơ sở đó Bộ
Giáo Dục và Đào Tạo ban hành quyết định số 04/2000/QĐ-BGD&ĐT của Bộ
trưởng Bộ giáo dục ngày 01/3/2000 về “Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động
nhà trường”, nhằm thực hiện tốt nhất, có hiệu quả nhất những điều Luật Giáo dục
1
quy định theo phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" trong các
hoạt động của nhà trường thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại
diện; đảm bảo cho công dân, cơ quan, tổ chức được quyền giám sát, kiểm tra, đóng
góp ý kiến tham gia xây dựng sự nghiệp giáo dục, làm cho giáo dục thực sự là của
dân, do dân và vì dân.
Trường Đại học Hoa Sen thành lập từ năm 1991 đến nay. Quy chế dân chủ cơ
sở của Trường được xây dựng và thực hiện trên cơ sở Chỉ thị 30-CT/TW và Nghị
định 71/1998 của Chính phủ, Quyết định 04/2000/QĐ-BGD&ĐT đã có những đóng
góp thiết thực cho hoạt động thực tiễn của nhà trường trong công tác quản lý, đào
tạo nhằm phát huy quyền làm chủ và huy động tiềm năng trí tuệ của người dạy và
người học, xây dựng nề nếp, trật tự, kỷ cương trong mọi hoạt động của nhà trường,
ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục phù hợp
với đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Từ thực
tiễn đó, học viên đã chọn đề tài "Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tại trường Đại
học Hoa Sen hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn cao học của mình.
nước ta, cần phát huy đúng đắn ưu thế của mỗi hình thức dân chủ, đồng thời cần kết
hợp chặt chẽ dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.
- PGS. TS. Nguyễn Văn Mạnh - Th.S. Tào Thị Quyên (2010), Dân chủ trực
tiếp ở Việt Nam, lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội. Đây là kỷ yếu
Hội thảo Công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về
dân chủ và dân chủ trực tiếp của một số nước và Việt Nam, các tác giả đã đánh giá
thực trạng thực hiện dân chủ trực tiếp và nêu ra các giải pháp nhằm phát huy các
hình thức dân chủ trực tiếp.
- PGS.TS Trần Khắc Việt (2004), Thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay -Vấn
đề đặt ra và giải pháp, Tạp chí Lý luận chính trị, số 9. Tác giả chỉ ra các vấn đề nảy
sinh trong quá trình thực hiện dân chủ hoá đời sống xã hội ở nước ta, đồng thời đưa
ra những giải pháp nhằm tiếp tục phát huy dân chủ trong tình hình hiện nay.
- Nguyễn Thị Vy (2014), Mối liên hệ giữa hoàn thiện cơ chế thực hiện dân
chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở với việc thúc đẩy quyền con người, quyền công dân
theo tinh thần hiến pháp năm 2013, Kỷ yếu hội thảo “một số vấn đề lý luận, thực
tiễn về dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên Thế Giới và ở Việt Nam” Nxb Đại học
Quốc gia, Hà Nội. Trong bài viết tác giả lý giải về tính tất yếu phải xây dựng và
thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở ở nước ta hiện nay. Nhấn mạnh tầm quan trọng
về vai trò làm chủ của nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội.
3
- Đào Trí Úc (Chủ biên), Trịnh Đức Thảo, Vũ Công Giao (2014), Một số vấn
đề lý luận, thực tiễn về dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả trình bày các vấn đề về lý luận, thực tiễn và
các mô hình tổ chức thực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và Việt
Nam. Đề xuất những quan điểm, giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và các
cơ chế bảo đảm dân chủ trực tiếp và dân chủ cơ sở ở nước ta trong thời gian tới.
Ngoài ra còn những đề tài nghiên cứu, bài báo, bài viết của các tác giả đã làm
nghiên cứu thực trạng việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các tỉnh đồng bằng
sông Hồng, qua đó đề xuất những giải pháp nhằm đẩy mạnh và hoàn thiện việc thực
hiện quy chế dân chủ ở đồng bằng sông Hồng.
- Nguyễn Văn Sáu – Hồ Văn Thông (2003), Thể chế dân chủ và phát triển nông
thôn Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Trong đó, các nhà nghiên cứu
lý luận ở nước ta hiện nay đã phân tích hết sức sâu sắc những lý luận chủ yếu về dân chủ,
về đổi mới hệ thống chính trị, về những nội dung và phương hướng phát triển nông thôn
Việt Nam hiện nay.
- PGS. TS. Hoàng Chí Bảo (2008) Dân chủ và dân chủ ở nông thôn trong tiến
trình đổi mới”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Trong công trình này tác giả đã
nêu lên tầm quan trọng của dân chủ và dân chủ ở cơ sở, nhất là tầm quan trọng của
thực hiện dân chủ ở nông thôn; thực trạng và những hạn chế trong thực hiện dân
chủ ở nông thôn trong thời gian qua. Qua đó tác giả đề ra các giải pháp thực hiện
dân chủ trong tiến trình đổi mới ở nông thôn.
- Phạm Ngọc Trâm 2012, Nhìn lại quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ
sở 1998 - 2012, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 11. Bài viết đã bổ sung nhận thức mới, đề
xuất cách làm mới để xây dựng, thực hiện dân chủ phù hợp với truyền thống của
dân tộc, đặc điểm lịch sử và của thời kỳ quá độ ở Việt Nam.
- Nguyễn Hồng Chuyên (2013), Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã
phục vụ xây dựng nông thôn mới, Nxb Tư pháp, Hà nội. Tác giả trình bày chủ
trương, đường lối của Đảng, chính quyền, pháp luật của Nhà nước về thực hiện dân
chủ ở cấp xã và xây dựng nông thôn mới. Phân tích lý luận vấn đề thực hiện pháp
luật về dân chủ ở cấp xã phục vụ xây dựng nông thôn mới. Đánh giá thực trạng thực
hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã phục vụ xây dựng nông thôn mới qua thực tế của
tỉnh Thái Bình. Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp
luật về dân chủ ở cấp xã phục vụ xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay.
5
6
- TS. Nguyễn Quốc Vinh (2011), Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở với đối
tượng người học - sinh viên trong các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn Tp. Hồ
Chí Minh, Tham luận hội thảo, Nxb Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. Tác giả phân
tích rõ thực trạng thực hiện dân chủ cơ sở ở các trường Cao đẳng, Đại học nước ta
từ đó cho thấy rõ tầm quan trọng trong việc triển khai và thực hiện dân chủ cơ sở
trong các hoạt động của nhà trường.
- Vũ Khắc Tùng (2014), Thực hiện quy chế dân chủ trong các trường phổ
thông thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ. Tác giả làm rõ được
cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong các
trường trung học phổ thông ở thành phố Móng Cái hiện nay và đề xuất một số biện
pháp thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở và đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục trung học phổ thông của thành phố.
- TS. Đồng Văn Quân (2014), Thực hiện dân chủ trong các trường đại học
nước ta hiện nay. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả phân tích cơ sở lý luận
của việc thực hiện dân chủ ở các trường đại học nước ta hiện nay; làm rõ thực trạng
nguyên nhân những thành tựu và yếu kém trong quá trình thực hiện dân chủ ở các
trường đại học; trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả quá trình thực hiện dân chủ ở các trường đại học nước ta hiện nay.
Nhìn chung, từ các nghiên cứu với hướng tiếp cận khác nhau đều là những
công trình nghiên cứu khoa học có giá trị. Đây là nguồn tài liệu quý và hữu ích để
tham khảo. Tuy nhiên, có rất ít các công trình nghiên cứu về thực hiện Quy chế dân
chủ trong các trường đại học, cao đẳng. Đặc biệt là nghiên cứu về dân chủ cơ sở
trong các trường đại học tư thục. Và chưa có đề tài nào nghiên cứu về việc triển
khai và thực hiện dân chủ cơ sở trong các hoạt động của trường Đại học Hoa Sen
Thành phố Hồ Chí Minh. Và đây là khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu. Đề tài
nghiên cứu nhằm góp phần làm sáng tỏ về việc vận dụng lý luận vào thực tiễn thực
tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được tổng
kết trong các văn kiện của Đảng; Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị về xây
dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; Nghị định số 29/CP và Nghị định số
71/1998/NĐ-CP của Chính phủ về quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường và trong
hoạt động của cơ quan; Quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) về việc
thực hiện Quy chế dân chủ trong các nhà trường và các văn bản khác có liên quan.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp lịch sử - lôgíc, phân tích và tổng hợp các
văn bản và số liệu báo cáo, thống kê, so sánh, khảo sát thực tế về việc triển khai
8
thực hiện dân chủ trong nhà trường. Bên cạnh đó tác giả còn dùng phương pháp
phỏng vấn sâu, quan sát, tham dự trực tiếp vào các hoạt động của nhà trường.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn góp phần luận chứng căn cứ
khoa học của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong các trường Đại học Hoa
Sen nói riêng, đại học tư thục và các trường cao đẳng, đại học trong cả nước nói
chung. Nêu lên những yêu cầu mới về việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong
các trường đại học trong xu hướng hội nhập và quốc tế hóa hiện nay.
Kết quả nghiên cứu đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các công trình
khoa học, công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận liên quan đến
vấn đề dân chủ hiện nay ở các trường đại học, cao đẳng ở nước ta và vấn đề thực
hiện quy chế dân chủ nói chung ở các liên ngành.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung luận văn gồm:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quy chế dân chủ cơ sở ở nước ta hiện nay.
Chương 2: Thực trạng thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tại trường Đại Học
hai
chữ
là:“δήμος” (dēmos)
nghĩa
là
nhân
dân
và “κράτος” (kratos) là "quyền lực" ra đời vào khoảng giữa thế kỷ thứ V đến thế kỷ
thứ IV trước công nguyên để chỉ hệ thống chính trị tồn tại ở một số thành bang Hy
Lạp, nổi bật nhất là Anthena sau cuộc nổi dậy của dân chúng vào năm 508 TCN.
Như vậy, với nguyên nghĩa của thuật ngữ trên thì dân chủ là quyền lực thuộc về
nhân dân. Nhân dân là chủ thể của quyền lực, sử dụng quyền lực để tổ chức, quản lý
xã hội và phát triển con người.
Ở Phương Đông, khái niệm “dân chủ” được biểu hiện đặc thù dưới hình thức
“lấy dân làm gốc”. Thuật ngữ này xuất hiện đầu tiên trong Kinh thư: “Đối với dân
nên gần và có tình thân, không nên sơ tình mà coi như đệ hạ. Dân là gốc nước. Gốc
có vững thì nước mới an bình” [33, tr.11]. Khái niệm “dân chủ” được hiểu là “Dân”
là chỉ người trong một nước; “Chủ” là người làm chủ. “Dân chủ” là chế độ chính trị
trong đó quyền quản lý nhà nước do nhân dân nắm giữ.
10
Cùng với sự phát triển và hoàn thiện dân chủ với tính cách là một giá trị to lớn
11
Dân chủ ở cơ sở là nơi dân sinh sống như ở cấp xã, phường, thị trấn và thôn,
làng, ấp, bản, khóm, tổ dân phố. Ngoài ra còn là nơi dân làm việc như doanh
nghiệp, trường học, bệnh viện… Dân chủ ở cơ sở được thực hiện thông qua các tổ
chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở và trình độ nhận thức đúng đắn với khả năng
thực hiện của mỗi người cần xây dựng ngay chế độ dân chủ bắt đầu từ cơ sở dựa
vào sáng kiến của bản thân quần chúng, với sự tham gia thật sự của quần chúng vào
tất cả đời sống của nhà nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu
lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân …. Chính quyền từ xã đến
chính phủ Trung ương đều do dân cử ra”; “tất cả quyền lực trong nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa đều thuộc về nhân dân”[21, tr.590]; “nước ta là nước dân chủ,
địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ…”[20, tr.515] Trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ
Chí Minh đã từng khẳng định: con người có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu
cầu hạnh phúc” và con người “phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Chỉ
có dân chủ xã hội chủ nghĩa mới được xây dựng trên nguyên tắc mỗi người vì mọi
người, mọi người vì mỗi người, trên cơ sở công hữu về tư liệu sản xuất, sở hữu cá
nhân tồn tại bên cạnh và bên trong sở hữu xã hội.
Dân chủ cơ sở không phải là một hình thức dân chủ mà là cấp độ thực hiện
dân chủ thông qua hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ đại
diện là hình thức thể hiện ý chí không trực tiếp từ chủ thể quyền lực mà thông qua
đại diện có thẩm quyền do chủ thể bầu ra. Chủ thể quyền lực (tức nhân dân) vẫn giữ
cho mình quyền và chức năng tác động, giám sát, kiểm tra hoạt động của cơ quan
đại diện. Dân chủ trực tiếp là một phương thức làm chủ của nhân dân khi nhân dân
– chủ thể quyền lực duy nhất có thể bày tỏ ý chí, nguyện vọng, đề đạt kiến nghị nào
đó trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, đồng thời thực hiện kiểm
tra, giám sát bộ máy nhà nước do chính mình lập nên. Kết quả của sự bày tỏ ý chí
đó có thể có ý nghĩa quyết định, bắt buộc phải thi hành ngay như trưng cầu ý dân,
Nếu như dân chủ được thực hiện trên cả một hệ thống từ Trung ương đến địa
phương, thì dân chủ ở cơ sở giống như là gốc của hệ thống đó. Có làm tốt dân chủ
cơ sở thì nền dân chủ của đất nước mới bền vững và phát triển lên cao được. Trên
cơ sở quan điểm “lấy dân làm gốc” và phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra” của Đại hội VI, Đại hội VIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Xây
dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nội dung cơ bản đổi mới hệ thống chính trị ở
nước ta. Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm “dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và
13
Nhà nước”. Tư tưởng quan trọng này chính là cơ sở của Chỉ thị 30/CT-TW ngày
18/2/1998 về xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở. Đảng ta khẳng định
“khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở
cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước,
là nơi cần thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi
nhất”. Quy chế dân chủ cơ sở là một bước cụ thể hóa quan điểm của Đảng ta về bảo
đảm quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện tốt chế độ dân chủ đại diện kết hợp với
dân chủ trực tiếp ở cơ sở, gắn chặt quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở với chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; công khai hóa những điều dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra. Trên cơ sở đó, quy chế dân chủ cơ sở phải đảm bảo 3
các tiêu chí sau:
- Quy định rõ những nội dung cần được công khai tạo điều kiện cho các cá
nhân có được thông tin đầy đủ về các vấn đề mà họ quan tâm;
- Quy định rõ những nội dung người dân tham gia ý kiến;
- Quy định cụ thể hình thức thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Quyền dân chủ của công dân đã được quy định trong Hiến pháp, luật và các
văn bản dưới luật. Cụ thể là, Hiến pháp năm 1946 ghi: “Tất cả quyền bính thuộc về
nhân dân”, Hiến pháp năm 1959 và năm 1980 ghi: “Tất cả quyền lực thuộc về nhân
dân”, Hiến pháp năm 1992 ghi cụ thể hơn: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về
học hỏi dân, biết bồi dưỡng và nâng cao quyền làm chủ của nhân dân, thì chắc chắn
sẽ được lòng dân.
Dân chủ được thực thi và đảm bảo bằng nhiều biện pháp. Việc thực hành dân
chủ luôn gắn liền với mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân. Ở nước ta hiện nay,
hệ thống chính trị có cơ chế hoạt động là “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân
dân làm chủ”. Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, là sự thống nhất biện chứng
giữa quyền lợi và nghĩa vụ, lợi ích và trách nhiệm . Dân chủ vừa là động lực vừa là
mục tiêu của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, của công cuộc đổi
mới của nước ta đã được ghi trong Hiến pháp 1992:“Thực hiện mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” (Điều 3, chương I). Những mục
tiêu trên có mối quan hệ gắn bó với nhau: dân có giàu thì nước mới mạnh, có dân
chủ thì mới tạo ra được xã hội công bằng, khi đất nước giàu mạnh thì người dân
mới có cuộc sống đầy đủ, văn minh.
Dân chủ là mục tiêu phấn đấu của dân tộc Việt Nam và thực hiện được điều đó
phải bắt đầu từ cơ sở. Nhân dân ở cơ sở thực hiện quyền làm chủ, tham gia kiểm tra,
giám sát sẽ tích cực trong xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể trong sạch, vững
mạnh, tích cực đấu tranh bài trừ tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết
kiệm. Do vậy, việc ban hành quy chế dân chủ ở cơ sở có tính pháp lý để mọi tổ
chức ở cơ sở đều phải nghiêm chỉnh thực hiện.
16
Xây dựng một chế độ thật sự do nhân dân lao động làm chủ, Đảng ta đã rất coi
trọng việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đó không chỉ là những nội dung
thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà còn là quy luật phát triển
của hệ thống chính trị Đảng và Nhà nước ta xác định quyền khiếu nại, tố cáo là một
trong những quyền cơ bản của dân và phương thức kiểm tra, giám sát cơ quan quản
lý nhà nước của nhân dân là hình thức phản biện xã hội đối với bộ máy nhà nước do
chính nhân dân lập ra. Cơ sở lý luận của phương thức này được thể hiện không chỉ
trong các bản Hiến pháp, trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc mà sau này
lý, yêu cầu mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở đều phải nghiêm chỉnh thực hiện. Quy
chế dân chủ cần được xây dựng cho từng loại cơ sở xã, phường, doanh nghiệp, bệnh
viện, trường học, viện nghiên cứu, cơ quan hành chính, v.v. phù hợp với đặc điểm
của từng loại cơ sở.
Để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong đời sống xã hội, Đảng và Nhà
nước ta chủ trương phải thực hiện chế độ lấy ý kiến của nhân dân trong xây dựng
đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật; các công trình trọng điểm quốc gia;
trong việc sắp xếp, tổ chức và bố trí cán bộ. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
là một nội dung cơ bản của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta. Phải có cơ chế và
cách làm cụ thể để thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Thực hiện tốt quyền
làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua các tổ chức, cơ quan đại diện, làm chủ
trực tiếp trong các hình thức tự quản tại cơ sở
Thực hiện chủ trương đó, cán bộ, đảng viên thường xuyên tiếp xúc với nhân
dân, lắng nghe ý kiến nhân dân, kịp thời giải quyết hoặc phản ánh lên cấp trên và cơ
quan chức năng những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; đồng thời,
phát huy vai trò của hệ thống thanh tra nhân dân để cùng với hệ thống thanh tra Nhà
nước giám sát, kiểm tra việc thi hành pháp luật và chủ trương, chính sách của Nhà
nước, phát hiện và tham gia xử lý những vụ việc tiêu cực trong Đảng, bộ máy nhà
nước và trong xã hội. Các cấp chính quyền thường xuyên thực hiện tốt chế độ định
kỳ báo cáo công việc của mình trước các cơ quan dân cử, trước nhân dân và tiếp thu
ý kiến phê bình xây dựng của nhân dân. Chính quyền và đoàn thể các cấp phải
hướng dẫn nhân dân xây dựng và thực hiện các quy chế, quy ước; đặc biệt là Quy
chế dân chủ ở cơ sở và những vấn đề có liên quan đến nghĩa vụ và lợi ích của nhân
dân. Montesquieu, nhà tư tưởng khai sáng thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII, cho rằng:
“Trong chính thể dân chủ, theo một cách nhìn nào đó, có thể coi dân chúng như
vua, mà cũng có thể coi là thần dân. Dân là “vua” bởi họ được thể hiện ý chí của
18
Thực tế cho thấy hiện nay dân chủ cơ sở còn nhiều hạn chế của nó. Cụ thể như:
19
nguyện vọng của người dân muốn đến được đúng địa chỉ phải thông qua “bộ lọc”
của người khác. Trong nhiều trường hợp, do rất nhiều nguyên nhân khác nhau như
trình độ nhận thức, quan điểm, lợi ích mà người đại diện không làm tròn sứ mệnh là
“sứ giả”, thông tin bị bưng bít và bóp méo nên người dân bị thiệt thòi. Đặc biệt,
trong điều kiện cơ chế kiểm soát quyền lực thiếu hiệu quả, chủ nghĩa cá nhân chi
phối, dễ đẩy quyền lực do các cơ quan và cá nhân đại diện nắm giữ đi chệnh khỏi
cái gốc xuất phát ban đầu mà chủ thể quyền lực đã ''ủy quyền”. Một khía cạnh khác,
nếu cá nhân và cơ quan đại diện thiếu thông tin, phong cách không dân chủ, thiếu
quy trình, cơ chế và phương pháp làm việc khoa học..., thì các quyết định quản lý
dễ mang dấu ấn chủ quan duy ý chí, phản ánh không đầy đủ và thiếu thực tiễn cuộc
sống.
Tình hình thực tế dân chủ cơ sở nước ta được Tổng bí thư Lê Khả Phiêu nêu
ra trong một báo cáo vào tháng 3/1998 như sau: “Quyền làm chủ của người dân còn
bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền,
tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân vẫn đang phổ biến và nghiêm trọng
mà chúng ta chưa ngăn chặn, đẩy lùi được. Phương châm “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra” chưa được cụ thể hóa và thể chế hóa thành pháp luật, cho nên
chậm đi vào cuộc sống. Trình trạng mất dân chủ, không để dân bàn bạc quyết định
những công việc cụ thể liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân, bắt dân đóng
nhiều khoản vượt quá khả năng, lại không minh bạch về tài chính, thậm chí xà xẻo
vào những khoản tiền dân đóng góp như một số xã thuộc tỉnh Thái Bình và vài nơi
khác; tình trạng để tồn đọng hàng vạn đơn khiếu tố bị đùn đẩy không giải quyết
hoặc giải quyết không kịp thời, không đúng; tình trạng quan liêu, quản lý lỏng lẻo
để thất thoát một số ngân hàng hoặc gây lãng phí lớn trong xây dựng…chẳng những
làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền mà còn làm triệt
tiêu động lực của nhân dân và xâm phạm vào bản chất tốt đẹp của chế độ” [2]