Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội trộm cắp tài sản tại Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN PHƯƠNG NAM

NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TẠI QUẬN 5,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
TỘI PHẠM HỌC VÀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN PHƯƠNG NAM

NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TẠI QUẬN 5,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8380105

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHẠM VĂN TỈNH

HÀ NỘI, năm 2018


2.2. Thực trạng nguyên nhân và điều kiện cụ thể của tình hình tội trộm cắp tài sản tại
Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013-2017 ..............................................43
2.3. Thực trạng làm sáng tỏ nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội trộm cắp tài
sản tại Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông qua chủ thể phòng, chống tội phạm
...................................................................................................................................53
Chương 3 NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI TRỘM
CẮP TÀI SẢN TẠI QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ NHỮNG VẤN
ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI NÀY ......................59
3.1. Tăng cường nhận thức về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội trộm cắp
tài sản tại Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh trong phòng ngừa tình hình tội phạm này
...................................................................................................................................59
3.2. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội trộm cắp tài sản tại Quận 5, Thành
phố Hồ Chí Minh và vấn đề dự báo tình hình tội phạm này .....................................61
3.3. Giải quyết nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội trộm cắp tài sản và phòng
ngừa tình hình tội phạm này......................................................................................64
KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu

Tên đầy đủ

ANTT

An ninh trật tự

ATXH



DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Mức độ tổng quan của THTP nói chung và tình hình tội TCTS tại Quận 5,
Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013-2017 .........................................................30
Bảng 2.2. Cơ cấu của tình hình tội TCTS trong mối tương quan với tình hình các tội
xâm phạm sở hữu tại Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013-2017.........31
Bảng 2.3. Biểu đồ diễn biến tình hình tội TCTS tại Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh
giai đoạn 2013-2017 ..................................................................................................32
Bảng 2.4. Cơ số tội phạm nói chung và cơ số tội TCTS tại Quận 5, Thành phố Hồ
Chí Minh giai đoạn 2013-2017 (tính trên 100.000 dân) ...........................................32
Bảng 2.5. Diễn biến tình hình tội TCTS tại Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh giai
đoạn 2013-2017 (so sánh định gốc) ..........................................................................34
Bảng 2.6. Cơ cấu xét theo các bước thực hiện hành vi phạm tội .............................35
Bảng 2.7. Cơ cấu xét theo công cụ gây án................................................................36
Bảng 2.8. Cơ cấu xét theo thời gian gây án ..............................................................36
Bảng 2.9. Cơ cấu xét theo địa điểm thực hiện hành vi phạm tội ..............................37
Bảng 2.10. Cơ cấu xét theo phương tiện gây án .......................................................37
Bảng 2.11. Cơ cấu xét theo chế tài áp dụng .............................................................38
Bảng 2.12. Cơ cấu xét theo độ tuổi của người phạm tội ..........................................39
Bảng 2.13. Cơ cấu xét theo giới tính của người phạm tội ........................................39
Bảng 2.14. Cơ cấu xét theo hình thức cư trú ............................................................40
Bảng 2.15. Cơ cấu xét theo trình độ văn hóa của người phạm tội ...........................40
Bảng 2.16. Cơ cấu xét theo nghề nghiệp của người phạm tội ..................................41
Bảng 2.17. Cơ cấu xét theo hoàn cảnh gia đình của người phạm tội .......................42
Bảng 2.18. Cơ cấu xét theo tình trạng hôn nhân ......................................................42
Bảng 2.19. Cơ cấu xét theo đặc điểm tiền án, tiền sự...............................................43


MỞ ĐẦU


Mặt khác, việc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, trong đó có tội
TCTS, luôn luôn được Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể Quận 5 đặc biệt
quan tâm. Đảng ủy và Chính quyền Quận 5 trong những năm qua đã triển khai, thực
hiện nghiêm túc và có hiệu quả Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính
trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong
tình hình mới và Chương trình hành động số 04-CTr/TU ngày 31 tháng 12 năm 2010
của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22 tháng
10 năm 2010 của Bộ Chính trị khóa X. Do đó, đã đạt được những kết quả quan trọng,
nhận thức của mỗi người đối với công tác phòng, chống tội phạm có sự chuyển biến
tích cực, THTP có xu hướng giảm nhưng vẫn còn diễn biến phức tạp, đặc biệt là tội
TCTS, gây mất ANTT, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Tóm lại, nhìn nhận từ lý do thực tế của tình hình tội TCTS trên địa bàn Quận
5, cũng như từ lý do chính trị - pháp lý, tức là từ yêu cầu của Đảng và Chính quyền
Quận 5, cho phép khẳng định rằng, phải kéo giảm và tiến tới đẩy lùi tội TCTS trên
địa bàn Quận 5 là một nhu cầu bức thiết. Vậy nhu cầu này phải được thực hiện bằng
cách nào, theo hướng nào? Lịch sử đấu tranh với tội phạm đã cho thấy rõ hai hướng:
một là đấu tranh bằng pháp luật hình sự, tức là chống tội phạm và hai là PNTP, trong
đó hướng thứ hai được cho là nhân đạo hơn và hiệu quả hơn. Đi theo hướng PNTP
thì yêu cầu khắt khe được đặt ra là, mục đích kéo giảm và tiến tới đẩy lùi (loại trừ)
tội phạm khỏi đời sống xã hội không thể đạt được chỉ bằng kinh nghiệm, mà phải
bằng kết quả của nghiên cứu khoa học, tức là nghiên cứu theo sự hướng dẫn của khoa
học về PNTP, còn được gọi là Tội phạm học. Và theo đó, việc PNTP phải được thực
hiện trên cơ sở hiểu được tội phạm, tức là phải làm rõ được hiện trạng của THTP và
xác định được nguyên nhân, điều kiện của nó. Với nhận thức như vậy, đề tài “Nguyên
nhân và điều kiện của tình hình tội trộm cắp tài sản tại Quận 5, Thành phố Hồ Chí
Minh” đã được lựa chọn để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Để có cơ sở lý luận cho việc thực hiện đề tài, các công trình khoa học sau đây
đã được tham khảo:

Thành phố Hồ Chí Minh: tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa”, Luận
văn Thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội.
3


- Đoàn Văn Khựng (2015), “Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn quận Bình
Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh: tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa”,
Luận văn Thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội.
- Đỗ Thị Sánh (2016), “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội trộm cắp
tài sản trên địa bàn quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn Thạc sĩ luật
học, Học viện khoa học xã hội.
- Ngô Thị Kim Báu (2017), “Nguyên nhân và điều kiện của tội trộm cắp tài
sản do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận
văn Thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội.
- Nguyễn Hà Minh (2017), “Nguyên nhân và điều kiện của tội trộm cắp tài
sản trên địa bàn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn Thạc sĩ luật học,
Học viện khoa học xã hội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Xét trong tổng thể ngành Tội phạm học và PNTP, thì việc nghiên cứu đề tài
đang nói ở đây phải phục vụ cho mục đích phòng ngừa tình hình tội TCTS trên địa
bàn Quận 5, TP. Hồ Chí Minh. Vì mục đích tổng thể đó, đề tài này cũng có mục đích
riêng của mình. Đó là phải xác lập được cơ sở khách quan cần thiết cho việc kiến giải
các biện pháp (giải pháp) PNTP mà đề tài nghiên cứu. Cụ thể là phải xác định và làm
rõ mối liên hệ giữa các hiện tượng tiêu cực về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội, pháp luật…ở Quận 5 với tình hình tội TCTS trên địa bàn Quận 5, tức là đi tìm
những yếu tố làm phát sinh tình hình tội TCTS những năm qua (2013-2017) ở môi
trường sống của Quận 5, cũng như ở những con người sống trong môi trường đó.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm

tố tiêu cực thuộc môi trường sống tại Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh và các yếu tố
tâm - sinh lý - xã hội tiêu cực của con người trong những tình huống, hoàn cảnh nhất
định làm phát sinh tình hình tội TCTS tại Quận 5.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung, đề tài được nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học thuộc ngành
Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm.

5


- Về tội danh, đề tài đề cập đến đời sống thực tế của tội TCTS được quy định
tại Điều 138 của BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Điều 173 của
BLHS hiện hành.
- Về không gian, đề tài sử dụng số liệu thực tế tại Quận 5, Thành phố Hồ Chí
Minh, bao gồm số liệu thống kê của các cơ quan tư pháp hình sự, đặc biệt là của
TAND Quận 5 và 150 bản án hình sự sơ thẩm.
- Về thời gian, đề tài nghiên cứu giới hạn trong thời gian từ 2013 đến năm 2017.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Trong quá trình viết luận văn, tác giả dựa vào chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, lấy tư tưởng
Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam, các tư tưởng của Đảng được thể hiện trong các Nghị
quyết, Chỉ thị của Đảng và Pháp luật của Nhà nước về công tác đấu tranh, PNTP để
nghiên cứu các vấn đề của đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu viết luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp biện chứng, phương pháp logic, phương pháp
nghiên cứu hồ sơ, phương pháp tổng kết thực tiễn, phương pháp phân tích, tổng hợp,
thống kê, so sánh, kế thừa, hệ thống, diễn giải, quy nạp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN
CỦA TÌNH HÌNH TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TẠI QUẬN 5,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của
tình hình tội trộm cắp tài sản
1.1.1. Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội trộm cắp tài sản
Có quan điểm cho rằng: “Nguyên nhân của tình hình tội phạm là những hiện
tượng xã hội tiêu cực ở trong mối liên hệ tương tác hai mức độ sinh ra và tái sản xuất
ra tình hình tội phạm như là hậu quả tất yếu của mình. Điều kiện của tình hình tội
phạm là những hiện tượng xã hội tiêu cực, tự mình không sinh ra tình hình tội phạm
và các tội phạm, mà là hỗ trợ, làm dễ dàng và tăng cường cho sự hình thành và hoạt
động của các nguyên nhân” [60, tr. 87].
Quan điểm trên thể hiện bản chất nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội
phạm, định hướng cho việc tìm hiểu, làm rõ khái niệm mà đề tài đề cập. Hơn nữa để
có cái nhìn khách quan, toàn diện về nguyên nhân và điều kiện của THTP phải dựa
trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin (hay tội phạm học Mác-xít) làm cơ sở lý luận
cho việc nghiên cứu [31, tr. 79].
Trước hết, nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động qua lại giữa các mặt trong
một sự vật, hiện tượng hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây ra sự biến đổi
nhất định gọi là kết quả. Xét về bản chất, nguyên nhân không thể nào là hiện tượng
hay sự vật nào đó mà đó chính là sự tác động qua lại, không có sự tác động này thì
không có nguyên nhân. Nguyên nhân là cái có trước, chứa đựng khả năng sinh ra kết
quả. Do đó, để nguyên nhân có thể sinh ra kết quả nhất định nào đó chẳng hạn như
THTP chẳng hạn, thì trong quá trình tương tác phải diễn ra trong những điều kiện
phù hợp.
Điều kiện, đó là những sự kiện, hiện tượng, hoàn cảnh, tình huống thuận lợi,
tuy không trực tiếp sinh ra kết quả nhưng nó là chất xúc tác cần thiết thúc đẩy nhanh
chóng quá trình làm xuất hiện kết quả.
8


9


1.1.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội
trộm cắp tài sản
Mục đích cuối cùng mà tội phạm học hướng đến là kéo giảm tội phạm tiến
tới đẩy lùi chúng ra khỏi đời sống xã hội. Muốn làm được điều đó, phải tìm ra nguồn
gốc phát sinh THTP, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp PNTP có hiệu quả, bảo đảm trị
an xã hội. Vì vậy, nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội TCTS một
cách sâu sắc, toàn diện sẽ đem lại nhiều ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.
1.1.2.1. Ý nghĩa lý luận của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình
hình tội trộm cắp tài sản
Thứ nhất, việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội TCTS,
giúp ta có cái nhìn rõ hơn về tội TCTS, góp phần hoàn thiện lý luận về nguyên nhân
và điều kiện của tình hình tội TCTS. Qua việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện
của tình hình tội TCTS tại Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh góp phần làm rõ mức độ,
cơ cấu, động thái của tội phạm và dự đoán tình hình tội TCTS trong tương lai.
Thứ hai, thông qua việc nghiên cứu, trên cơ sở của cơ chế tác động còn giúp
hiểu rõ hơn về nguyên nhân và điều kiện thuộc quá trình tương tác nhập tâm và
nguyên nhân và điều kiện thuộc quá trình tương tác xuất tâm.
Thứ ba, nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội TCTS làm cơ
sở cho việc hoạch định chính sách xã hội cũng như chính sách hình sự.
Thứ tư, nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội TCTS góp phần
cung cấp thông tin cho các ngành khoa học pháp lý khác.
1.1.2.2. Ý nghĩa thực tế của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình
hình tội trộm cắp tài sản
Thứ nhất, trên cơ sở làm rõ nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội TCTS,
các chủ thể phòng ngừa, đề xuất các giải pháp tác động nhằm đẩy lùi, tiến tới loại bỏ
các nguyên nhân và điều kiện của tình tình tội TCTS.

tương tác nhập tâm thể hiện ra bên ngoài thường gồm các bước như động cơ hóa, kế
hoạch hóa và thực hiện hóa hành vi phạm tội.
Vì vậy, phân loại nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội TCTS bao gồm
hai quá trình: quá trình tương tác nhập tâm và quá trình tương tác xuất tâm.
1.2.1. Nguyên nhân và điều kiện thuộc quá trình tương tác nhập tâm

11


Quá trình tương tác nhập tâm trong cơ chế hành vi phạm tội diễn ra từ khi con
người nhận thức được thế giới khách quan cho đến khi chủ thể hành vi hình thành nên
động lực thực hiện hành vi phạm tội hay động cơ hóa hành vi. Sự kết hợp giữa các yếu
tố tiêu cực thuộc quá trình này và các yếu tố tâm - sinh lý - xã hội, vì lợi ích cá nhân thúc
đẩy hình thành động lực thực hiện hành vi đi ngược lại với các quy định của pháp luật.
1.2.1.1. Những nguyên nhân và điều kiện khách quan
Con đường hình thành và phát triển nhân cách cá nhân từ khi người đó sinh ra,
nhận thức được thế giới khách quan và phải trải qua quá trình tương tác lâu dài giữa
các yếu tố khách quan thuộc môi trường sống và yếu tố chủ quan của cá nhân. Dưới
tác động của các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường sống và yếu tố tiêu cực của cá nhân
dần dần hình thành trong nhân cách cá nhân những nhu cầu, lợi ích đi ngược lại với
chuẩn mực xã hội. Trong những hoàn cảnh, tình huống cụ thể, nhằm thỏa mãn nhu
cầu, lợi ích cá nhân, tức sẽ động cơ hóa thực hiện hành vi TCTS. Tuy vậy, không phải
bất cứ ai rơi vào hoàn cảnh môi trường sống không thuận lợi sẽ phạm tội TCTS mà
còn tùy thuộc cách xử sự của họ trước những tình huống đó.
a. Các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội, là cội nguồn đầu tiên, là môi trường giao tiếp gần
gũi nhất, giữ vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách mỗi cá nhân. Con người
từ khi sinh ra cho đến khi nhận thức được thế giới xung quanh phụ thuộc vào cách dạy
dỗ, giáo dục từ gia đình là thiết yếu. Nếu cá nhân được sống trong một gia đình thuận
lợi thì sẽ hình thành đặc điểm nhân thân tốt ngược nếu sống trong một gia đình không

trường nếu như tồn tại các yếu tố tiêu cực sẽ ảnh hưởng đến việc hình thành nhân
cách cho những người theo học ở môi trường đó và các yếu tố tiêu cực thường gặp là:
- Kỷ luật nhà trường lỏng lẻo, chưa nghiêm: thể hiện qua việc xử lý những học
sinh, sinh viên có biển hiện vi phạm nội quy học đường chưa thật sự nghiêm túc, triệt
để. Làm suy giảm niềm tin của các em vào sự công bằng trong nhà trường, bản thân
mất định hướng không biết dựa vào đâu, dẫn đến hệ lụy là các em sa sút trong việc
học thậm chí bỏ học, dễ bị dụ dỗ, lôi kéo vào hoạt động tiêu cực.
- Thầy cô giáo không phải là tấm gương cho học sinh, sinh viên: Đội ngũ thầy
cô trong nhà trường ngoài việc truyền thụ lại kiến thức còn phải là tấm gương sáng
để các em học hỏi, làm theo. Trong nhà trường có những thầy cô không gương mẫu

13


biểu hiện như là ứng xử với các em thiếu chuẩn mực, vòi vĩnh, biến chất, sống buông
thả,… làm cho các em không còn động lực học tập ảnh hưởng đến nhận thức, hình
thành nhân cách của các em sau này.
- Tồn tại, hạn chế trong công tác giảng dạy: Trong công tác giảng dạy, yếu tố
quan trọng hàng đầu là phải có phương pháp truyền đạt lại kiến thức làm sao cho các
em có hứng thú học tập tiếp thu kiến thức. Không chỉ nhà trường chưa có phương
pháp giảng dạy phù hợp, đội ngũ thầy cô giáo có trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa
cao, vốn kiến thức hạn hẹn và chưa chuyên sâu mà còn chưa chú trọng đào tạo kỹ
năng mềm cho các em. Nếu thiếu hành trang cần thiết này khi bước vào đời các em
khó tránh khỏi bở ngỡ, lúng túng trong việc xử sự vì môi trường ngoài xã hội khác
xa so với những gì các em được học trong môi trường nhà trường.
c. Các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường bạn bè
Ở môi trường này, các em thường xuyên giao lưu, kết giao đủ mọi thành phần
trong xã hội, khó tránh khỏi các yếu tố tiêu cực tồn tại xung quanh tác động, nếu chơi
chung một nhóm bạn có những biểu hiện tiêu cực, tụ tập ăn chơi xa đọa, bỏ bê việc
học, bản thân nếu không có bản lĩnh rất có thể bị ảnh hưởng bởi những thói hư, tật

Công tác quản lý của nhà nước về kinh tế, xã hội còn nhiều sơ hở, hạn chế.
Hơn nữa, trong công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao kiến thức pháp luật về các
nguyên nhân và điều kiện dẫn đến THTP diễn biến phức tạp đặc biệt là tội TCTS đến
người dân chưa thật sự đem lại hiệu quả.
e. Các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường văn hóa, tư tưởng, đạo đức
Văn hóa là sản phẩm do bàn tay con người tạo ra, đến lượt mình nó lại có ảnh
hưởng đến việc định hình nên nhân cách một con người. Từ xưa, các giá trị về văn
hóa, tư tưởng, đạo đức vẫn luôn được gìn giữ, đặt lên hàng đầu mọi xử sự giữa người
với người phải dựa trên quy chuẩn, nguyên tắc đó. Hiện nay, do tác động tiêu cực của
cơ chế thị trường những quy tắc, chuẩn mực ấy dần bị mai một, biến dạng thay vào
đó là sự suy thoái về đạo đức, lối sống đua đòi, ham vật chất, không tôn trọng quyền
sở hữu của người khác.
Các yếu tố tiêu cực này nếu không bị triệt tiêu, con người sống trong môi
trường như vậy chịu sự tác động của chúng trong thời gian dài nhất định ảnh hưởng
rất lớn đến việc hình thành nên những đặc điểm, thuộc tính riêng của cá nhân và cá
nhân đó với khả năng lĩnh hội của mình có thể không bị tác động bởi các yếu tố tiêu

15


cực đó còn trường hợp xấu là bị các yếu tố đó xâm nhập, hòa tan hình thành nên
những đặc điểm nhân thân tiêu cực mầm móng của tội phạm sau này.
1.2.1.2. Những nguyên nhân và điều kiện chủ quan
Nguyên nhân và điều kiện chủ quan từ phía người phạm tội người phạm tội nó
bao gồm tất cả các yếu tố tiêu cực bên trong chủ thể từ suy nghĩ cho đến hành động
thể ra bên ngoài. Khi nghiên cứu quá trình này giúp tìm ra những dấu hiệu, đặc trưng
cũng như động lực thúc đẩy thực hiện tội phạm. Đây cũng là dấu hiệu lý giải vì sao
rơi vào môi trường sống bất lợi như nhau người này lại phạm tội trộm cắp, người
khác thì không.
Quá trình hình thành động cơ hóa hành vi phạm tội diễn ra trong suy nghĩ

thực hóa hành vi phạm tội. Trong quá trình này, bước đầu tiên là động cơ hóa hành
vi là một quá trình tâm - sinh lý - xã hội, chủ thể có động lực thực hiện hành vi phạm
tội, quá trinh này do điều kiện xã hội, hoàn cảnh sống cụ thể của mỗi cá nhân tạo nên.
Tiếp theo là khâu kế hoạch hóa hành vi để chuẩn bị cho việc thực hiện tội phạm, chủ
thể hành vi xác định mục đích, đối tượng, phương tiện, địa điểm, thời gian, phương
thức khi thực hiện hành vi và sau khi đã hoàn thành tìm mọi cách xóa hết dấu vết
phạm tội. Sau khi chuẩn bị đủ mọi điều kiện về vật chất và tinh thần, chủ thể tiến
hành thực hiện hóa hành vi bằng hành động cụ thể ra bên ngoài chẳng hạn như thực
hiện hành vi TCTS. Để thực hiện được các bước trong quá trình tương tác xuất tâm
cần phải tìm hiểu nguyên nhân bắt nguồn từ đâu.
1.2.2.1. Những nguyên nhân và điều kiện khách quan
- Các cơ quan chức năng nhất là cơ quan điều tra thể hiện sự yếu kém trong
việc phát hiện và ngăn chặn tội phạm. Các cơ quan chức năng này được Đảng, Nhà
nước và Nhân dân giao một trong những trọng trách quan trọng là giữ gìn ANTT,
đảm bảo cuộc sống an bình cho người dân. Thế nhưng, trong nội bộ các cơ quan này
vẫn còn một số cán bộ điều tra khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao không
đảm bảo chức trách, nhiệm vụ của mình, có thái độ thờ ơ, gây phiền hà cho nạn nhận
hay người dân biết sự việc khi họ có thông tin tố giác, trình báo tội phạm. Công tác
tiếp nhận tin báo còn nhiều thủ tục phức tạp và một số nạn nhân, người dân thiếu sự
tin tưởng vào các cơ quan chức năng. Vì vây, cho dù là nạn nhân hay người dân biết
được sự việc họ không muốn đến cơ quan chức năng trình báo điển hình là các vụ TCTS.

17


- Sự thụ động của con người trong môi trường xã hội. Trong các vụ TCTS thị
sự thờ ơ của mỗi cá nhân trong xã hội là yếu tố góp phần làm cho tình hình tội TCTS
diễn biến phức tạp. Mỗi thành viên trong xã hội mà chỉ biết sống cho bản thân mình,
mặc kệ người khác sống ra sao, hay lo sợ, sống khép kín vô tình tạo điều kiện cho các
đối tượng xấu hoạt động tội phạm.

tội, bao hàm từ khâu chuẩn bị, thực hiện và che giấu hành vi phạm tội. Các yếu tố
thời gian, địa điểm và phương tiện gây án cũng được xem xét ở góc độ tội phạm học.
Phương thức thực hiện tội phạm chứa đựng những thông tin về động cơ, thái độ, đặc
điểm tâm lý của đối tượng. Vấn đề này được làm rõ bao nhiêu thì tính chất của chúng
theo đó cũng sẽ hiện rõ ra bấy nhiêu.
Theo cách nhìn nhận của đa số nhà nghiên cứu tội phạm học thì mô hình đầy
đủ của phương thức thực hiện tội phạm cơ cấu ba bước gồm bước chuẩn bị, thực hiện
và che giấu hành vi phạm tội.
1.3. Cơ chế tác động của nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội trộm
cắp tài sản
Như đã nhận định ở mục 1.1.1 thì tội phạm tồn tại với hai tư cách, với tính cách
là hành vi - hành vi TCTS hay với tính cách là hiện tượng - tình hình tội TCTS là do sự
tác động qua lại giữa các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường sống và các yếu tố tâm - sinh
lý - xã hội tiêu cực của chủ thể hành vi. Sự tác động ở đây không phải là tác động trực
tiếp mà là sự tác động giáp tiếp, tức phải thông qua đầu óc con người, không phải là tác
động một chiều mà là tác động qua lại, liên tục trong khoảng thời gian dài.
Để thuận lợi cho việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội
trộm cắp tài, có thể thực hiện theo hướng làm rõ hệ thống các yếu tố tiêu cực của từng
bộ phận tham gia vào cơ chế hành vi phạm tội. Và cơ chế đó được vận hành theo
công thức S - X - R, trong đó S là các yếu tố thuộc môi trường sống (kích thích khách
thể), X là các yếu tố tâm - sinh lý - xã hội của chủ thể hành vi (kích thích phương
tiện), R là hành động đáp trả các kích thích đó (hành vi phạm tội) trong những tình
huống, hoàn cảnh nhất định. Có thể nói, mọi hành vi của con người đều diễn ra theo
quy luật, cơ chế chung đó. Để phân biệt được giữa các hành vi với nhau là do mục
đích của hành vi đó quy định, sự khác nhau này chỉ có thể nhận biết thông qua các
đặc điểm riêng biệt trong từng bộ phận của cơ chế trên.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status