VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN GẤM
LÊ VĂN GẤM
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
KHÓA VIII ĐỢT 1 - 2017
HÀ NỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN GẤM
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Ngành
: Luật hiến pháp và luật hành chính
Lê Văn Gấm
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS. Đỗ Thị Kim Định và chưa được công bố trên
bất kỳ phương tiện nào. Các thông tin, số liệu sử dụng trong đề tài được dẫn
nguồn cụ thể theo quy định. Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về mặt pháp
lý và đạo đức đối với lời cam đoan này.
Người cam đoan
Lê Văn Gấm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ TÔN GIÁO ................................................................................ 1
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về tôn giáo ............. 9
1.2. Nội dung quản lý nhà nước về tôn giáo ................................................ 14
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về tôn giáo ...................... 25
Tiểu kết Chương 1 ....................................................................................... 30
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO TỪ
THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƯƠNG ......................................................... 31
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về tôn giáo tại tỉnh Bình
Dương .......................................................................................................... 31
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước về tôn giáo tại tỉnh Bình Dương ............. 38
2.3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn tỉnh Bình
Dương .......................................................................................................... 52
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước đa dân tộc, đa tôn giáo, với đời sống tôn giáo đa
dạng và khá phức tạp. Hiện nay, theo xu hướng chung của các tôn giáo trên
thế giới (thế tục hóa, đa dạng hóa và dân tộc hóa), tình hình đời sống tôn giáo
ở Việt Nam cũng có sự biến đổi. Các tôn giáo có sự phục hồi, phát triển nhanh
chóng và phức tạp, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội. Trong khi đó,
các thế lực xấu lợi dụng tôn giáo, nhân quyền nhằm chống phá nước ta. Vì
vậy, đòi hỏi nhà nước phải nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tôn giáo,
nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong Vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam, một trong những trung tâm phát triển năng động, có tốc
độ đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa cao. Tỉnh Bình Dương có 1 thành
phố, 4 thị xã và 4 huyện (với 41 phường, 2 thị trấn và 50 xã), với nhiều khu
công nghiệp thu hút lao động của các tỉnh, thành phố trong cả nước và cả
người nước ngoài đến sinh sống và làm việc. Nhận thức được tôn giáo là vấn
đề “nhạy cảm”, dễ xảy ra “điểm nóng chính trị” và là lĩnh vực mà các thế lực
thù địch trong và ngoài nước thường lợi dụng để chống phá nhà nước ta, chính
quyền địa phương, Ủy ban nhân dân các cấp trong tỉnh Bình Dương xác định
công tác quản lý nhà nước về tôn giáo có tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn.
Thực hiện tốt quản lý nhà nước về tôn giáo đã góp phần đảm bảo quyền tự do
Việt Nam hiện nay, Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo. Trong bài viết này, tác giả
đã phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay, cả thành tựu
và hạn chế, để thấy việc hoàn thiện pháp luật về tôn giáo ở nước ta đang là
2
một yêu cầu , một mục tiêu trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền
[19, tr. 19 - 30].
- Nguyễn Hồng Dương (2015), Những thách thức của đa dạng tôn giáo
tại Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Hà Nội, Số 6 (148), tr.
3 - 10. Bài viết nghiên cứu vấn đề đa dạng tôn giáo ở Việt Nam đem lại cho
tôn giáo ở Việt Nam diện mạo mới, làm phong phú đời sống tâm linh - tôn
giáo ở Việt Nam. Nền văn hóa Việt Nam dưới tác động của đa dạng tôn giáo
đã và đang được bổ sung thêm những giá trị văn hóa - tôn giáo mới,… Song
đa dạng tôn giáo ở Việt Nam đã và đang đặt ra những thách thức, đồng thời
đặt ra những vấn đề đối với công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam
hiện nay. Bài viết đi vào hai nội dung chính: (1) Những thách thức của đa
dạng tôn giáo; (2) Những vấn đề đặt ra đối với quản lý nhà nước về tôn giáo
tại Việt Nam hiện nay.
- Trần Xuân Nghĩa (2017), Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và điểm
mới về chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước ta, Tạp chí Khoa học Đại
học Văn Lang, (số 5), tr. 16 -20. Tác giả bài viết đã đề cập về tư tưởng đoàn
kết dân tộc trong đó có đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng trong
chiến lược đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Luận điểm sáng tạo của
Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết
toàn dân tộc đã được Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo phù hợp
với tình hình thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.
- Đỗ Thu Hường và Nguyễn Thị Hòa (2017), Một số quan điểm của
Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo và việc vận dụng vào nước ta hiện nay, Bài
viết đề cập cán bộ công tác tôn giáo vừa giỏi về nghệ thuật quản lý, vừa giỏi
tác tôn giáo, từ tổng kết thực tiễn công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở tỉnh
Quảng Bình, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm bước đầu.
- Nguyễn Hồng Thúy (2012), Quản lý nhà nước về tôn giáo của Ủy
4
ban nhân dân cấp huyện từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc
sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. Luận văn đã nghiên cứu
những vấn chung về tôn giáo và quản lý nhà nước về tôn giáo của Ủy ban
nhân dân cấp huyện; thực tiễn quản lý nhà nước về tôn giáo của Ủy ban nhân
dân cấp huyện từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh; giải pháp nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nước về tôn giáo của Ủy ban nhân dân cấp huyện [34].
- Nguyễn Quốc Vũ (2013), Pháp luật về các tổ chức, cơ sở tôn giáo,
Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. Luận văn
đã nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sỏ pháp lý về tổ chức, cơ sở tôn giáo; thực
trạng pháp luật về tổ chức, cơ sở tôn giáo và giải pháp hoàn thiện từ thực tiễn
tỉnh Đồng Nai [51].
- Đề tài khoa học cấp tỉnh: “Tôn giáo ở Bình Dương, thực trạng và
giải pháp” của Ban Tôn giáo tỉnh Bình Dương, nghiệm thu năm 2005. Đề tài
đã khái quát đặc điểm cộng đồng các tôn giáo ở Bình Dương dưới góc độ nhân
khẩu học, mô tả hiện trạng các tôn giáo ở Bình Dương. Từ thực trạng các tôn
giáo ở Bình Dương, đề tài đã đặt ra ba vấn đề cần lưu ý trong công tác quản
lý nhà nước về tôn giáo là: mối quan hệ chặt chẽ và có hệ thống giữa các tôn
giáo ở Bình Dương với giáo hội các tôn giáo ở ngoài tỉnh và nước ngoài; hoạt
động của các phần tử cực đoan luôn tác động đến tôn giáo ở Bình Dương và
việc phát triển các tôn giáo bất hợp pháp và khôi phục các hội đoàn công giáo.
Điều đó, đòi hỏi công tác quản lý nhà nước của các cơ quan chức năng phải
ngày càng chặt chẽ, đảm bảo đúng pháp luật và đáp ứng nhu cầu chính đáng
về tín ngưỡng của tín đồ, giáo hội.
Hầu hết các nghiên cứu này chủ yếu tập trung về việc nghiên cứu tổ
- Đánh giá thực trạng về hoạt động quản lý nhà nước về tôn giáo tại tỉnh
Bình Dương; phân tích, làm sáng tỏ những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân
của những hạn chế.
6
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao quản lý nhà nước về tôn giáo
nói chung và tôn giáo tại tỉnh Bình Dương nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về tôn giáo
tại tỉnh Bình Dương; những quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo tại tỉnh Bình Dương.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: tại địa bàn tỉnh Bình Dương
- Phạm vi thời gian: luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề QLNN về tôn
giáo theo quy định của pháp luật trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2018.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận là chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do
tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và những quan điểm, chính sách của Đảng,
Nhà nước để hoạch định cơ chế chính sách, pháp luật và phương thức quản lý
nhà nước về tôn giáo; thực tiễn tình hình quản lý nhà nước về tôn giáo của
tỉnh Bình Dương hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương
pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp đánh giá, phương pháp thống kê, mô
tả, phương pháp so sánh, phương pháp quan sát trực tiếp…
Chương 1: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để phân tích các
Bình Dương
- Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước về tôn giáo ở tỉnh Bình Dương
8
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ TÔN GIÁO
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về tôn giáo
1.1.1. Khái niệm về tôn giáo, quản lý nhà nước về tôn giáo
1.1.1.1. Khái niệm về tôn giáo
Tôn giáo: (Tiếng Latinh - Religio) đồng nghĩa với sự sùng đạo, mộ đạo,
đối tượng được sùng bái. Trong các từ điển thông dụng, thường định nghĩa
tôn giáo là sự sùng bái và sự thờ phụng của con người đối với thần linh hoặc
các mối quan hệ của con người đối với thần linh [25, tr.13].
Theo tác giả Nguyễn Bá Dương (2017) cho rằng: “Tôn giáo là một hiện
tượng xã hội mang tính lịch sử, bao gồm ý thức tôn giáo, hoạt động tôn giáo
và tổ chức tôn giáo, mà sự tồn tại, phát triển của nó là do sự phản ánh hư ảo
hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người” [12, tr.11].
Theo Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học (2012) thì: “Tôn giáo là
hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái
những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu tự nhiên
quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ. Tôn giáo
nảy sinh từ rất sớm, từ trong xã hội nguyên thủy. Tôn giáo là hệ thống những
quan niệm tín ngưỡng một hay những vị thần linh nào đó và những hình thức
lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy. Ở Việt Nam có nhiều tôn giáo: đạo Phật, đạo
Thiên Chúa, đạo Cao Đài, v.v,” [31, tr.1293].
Cần khẳng định một luận điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng
cho rằng: “Con người sáng tạo ra tôn giáo, chứ tôn giáo không sáng tạo ra
nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ
máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát
triển của xã hội [26, tr.3]. Theo đó, QLNN về tôn giáo là một dạng quản lý xã
10
hội đặc biệt của nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp
luật và chính sách tôn giáo để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên
lĩnh vực của đời sống về tôn giáo do các cơ quan nhà nước thực hiện, nhằm
phục vụ nhân dân, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, duy trì sự ổn định và phát
triển của xã hội.
QLNN về tôn giáo là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh để các
hoạt động tôn giáo diễn ra theo đúng quy định của pháp luật [25, tr.51].
QLNN về tôn giáo là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực
hiện sự quản lý nhà nước đối với tôn giáo nhằm đảm bảo quyền tự do tôn giáo
của nhân dân, hướng các tôn giáo vào các hoạt động tôn giáo phục vụ lợi ích
chính đáng của các tín đồ vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam XHCN.
Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo
và quản lý tổ chức của tôn giáo (Khoản 11, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo
năm 2016).
Như vậy, có thể hiểu QLNN về tôn giáo là quá trình quản lý bảo đảm
việc chấp hành pháp luật về tổ chức hoạt động của các tổ chức cơ sở tôn giáo
diễn ra theo quy định của pháp luật như việc giảng đạo, hành đạo, nghi lễ tôn
giáo,v.v…
1.1.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về tôn giáo
Một là, chủ thể QLNN về tôn giáo rất đặc biệt, đặc thù vì mang tính
quyền lực nhà nước, do các cơ quan nhà nước thực hiện đối với lĩnh vực hết
sức phức tạp, vấn đề nhạy cảm. Đó là các cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà
nước được trao quyền, gồm: Ở Trung ương có Ban Tôn giáo Chính phủ là cơ
các lĩnh vực khác, trong đó có lĩnh vực tôn giáo. QLNN về tôn giáo là hoạt
động thực thi quyền hành pháp, là sự tác động, điều chỉnh có tổ chức bằng
quyền lực pháp luật nhà nước đối với các hoạt động của các cá nhân, tổ chức
12
tôn giáo do các cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương
đến cơ sở (Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp) tiến hành.
Thứ tư, mục tiêu của quản lý nhà nước về tôn giáo là phục vụ nhân dân,
đối với cộng đồng xã hội, người theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo, dựa
trên nền tảng tôn trọng quyền tự do tôn giáo của công dân nhằm duy trì sự ổn
định và phát triển của toàn xã hội, đặc biệt đối với chức sắc, chức việc và nhà
tu hành. Theo đó, QLNN về tôn giáo cần phải đảm bảo quyền tự do về tín
ngưỡng, tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật; thực hiện được mục tiêu
đoàn kết đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng
tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc; phát huy những giá trị tích cực của tôn giáo, khắc phục những
hạn chế, tiêu cực của tôn giáo trong quá trình xây dựng xã hội văn minh và
hội nhập quốc tế của đất nước hiện nay.
1.1.3. Vai trò của quản lý nhà nước về tôn giáo
Vai trò của QLNN về tôn giáo được thể hiện trong những nội dung
chính sau đây:
Thứ nhất, cho đến hiện nay, vấn đề tôn giáo đang được nhiều người
quan tâm về vai trò của nó, bởi lẽ tôn giáo không chỉ là vấn đề tinh thần, tâm
linh, đạo đức mà còn quan hệ đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội như
chính trị, kinh tế văn hóa. Vai trò của tôn giáo được thể hiện khác nhau qua
từng thời kỳ lịch sử. Điều này cho thấy rằng, QLNN về nước về tôn giáo rộng,
phức tạp, liên quan đến các vấn đề chính trị, kinh tế - xã hội và an ninh, trật
tự. Đồng thời, Đảng và Nhà nước cũng hết sức quan tâm đến công tác tôn
giáo, cho nên, hoạt động quản lý nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc
chu trình (quy trình) xây dựng chính sách pháp luật về tôn giáo sẽ đảm bảo
tính nguyên tắc, khách quan, dân chủ, pháp quyền, công khai, minh bạch và
trách nhiệm giải trình trong toàn bộ quá trình xây dựng chính sách pháp luật
14
về tôn giáo. Ngược lại, việc không tuân thủ các bước này trong quy trình xây
dựng chính sách pháp luật về tôn giáo sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng để xâm
phạm đến các quyền tự do tôn giáo của người dân.
Chính sách tôn giáo là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan
của nhà nước để lựa chọn mục tiêu và những giải pháp, công cụ chính sách
tôn giáo nhằm giải quyết các vấn đề chính sách tôn giáo theo mục tiêu tổng
thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền. Còn pháp luật về tôn giáo là hệ
thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước ban hành hoặc
thừa nhận, thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân, được nhà nước đảm bảo thực
hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến hoạt động của tôn
giáo vì mục đích bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do về tôn giáo của con người
và sự phát triển bền vững.
Xây dựng chính sách, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về tôn giáo
là hoạt động xây dựng và đưa ra các quyết định chính sách, ban hành văn bản
quy phạm pháp luật. Các cơ quan đơn vị chuyên môn phân tích, xác định mục
tiêu chính sách, giải pháp chính sách, đánh giá tác động của văn bản quy phạm
pháp luật về tôn giáo để đưa ra những lựa chọn chính sách đúng đắn, các quy
định của pháp luật về tôn giáo. Đây thực ra là một quá trình mà thông qua đó
vấn đề tôn giáo xác định được đưa vào chương trình nghị sự của nhà nước cho
đến khi một chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về tôn giáo được ban
hành nhằm giải quyết vấn đề đã được đặt ra đó, đặc biệt là đối với công tác
QLNN về tôn giáo.
Nhà nước xây dựng chính sách, pháp luật về tôn giáo nhằm bảo đảm
các quyền con người về tôn giáo, đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần của
lang pháp lý thuận lợi trong việc bảm đảm quyền tự do tôn giáo và quyền tự
do không tôn giáo của người dân; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công
tác tôn giáo.
16
1.2.2. Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo
Chủ thể QLNN về tôn giáo, bao gồm: Chính phủ; Bộ Nội vụ; Ban Tôn
giáo Chính phủ; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Nội vụ; Cấp huyện; Cấp xã.
Theo quy định tại Điều 61, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 về trách
nhiệm quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo như sau:
Chính phủ thống nhất QLNN về tôn giáo trong phạm vi cả nước.
Cơ quan QLNN về tôn giáo ở Trung ương chịu trách nhiệm trước Chính
phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về tôn giáo.
Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về tôn giáo.
Đối với huyện không có đơn vị hành chính xã, thị trấn thì Ủy ban nhân
dân huyện đồng thời thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp
xã quy định tại Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
Căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, tổ chức bộ máy quản lý
nhà nước về tôn giáo được quy định cụ thể như sau:
Chính phủ thống nhất quản lý các lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hóa
- xã hội, trong đó có hoạt động tôn giáo (thống nhất QLNN về tôn giáo trong
phạm vi cả nước).
Bộ Nội vụ thuộc Chính phủ, là cơ quan tham mưu, giúp Chính phủ quản
lý nhà nước về tôn giáo như: tham gia đóng góp xây dựng các văn bản quy
phạm pháp luật, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và tổ chức thực
hiện pháp luật về tôn giáo.
Ban Tôn giáo Chính phủ thuộc Bộ Nội vụ, đây là cơ quan tham mưu,
giúp Bộ trưởng Bộ Nội vụ quản lý nhà nước về tôn giáo. Theo Khoản 1, Điều
ngày 16/9/2004 của Bộ Nội vụ đã hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ quyền hạn
và cơ cấu tổ chức cơ quản chuyên môn giúp UBND QLNN về công tác tôn
giáo ở địa phương, trong đó quy định: Ban Tôn giáo là cơ quan chuyên môn
18
thuộc UBND tỉnh có chức năng tham mưu, giúp UBND cùng cấp QLNN về
lĩnh vực công tác tôn giáo tại địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền
hạn theo sự ủy quyền của UBND cùng cấp; góp phần bảo đảm sự thống nhất
quản lý trong lĩnh vực công tác tôn giáo từ Trung ương đến địa phương.
Đối với tổ chức bộ máy của Ban Tôn giáo cấp tỉnh, Trưởng ban Tôn
giáo đồng thời là Phó Giám đốc Sở Nội vụ, phân công các phòng ban chuyên
môn theo từng tôn giáo như Phòng Kitô, Phòng Phật giáo, Phòng các tôn giáo
khác,…nhằm quản lý có hiệu lực và hiệu quả các tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
Việc phụ trách và chịu trách nhiệm về công việc đối với công tác tôn giáo của
UBND cấp huyện do Phòng Nội vụ đảm nhận và phân công các chuyên viên
phụ trách theo từng lĩnh vực như theo dõi về hoạt động của Công giáo, Phật
giáo, Tin Lành, Cao Đài và các tôn giáo khác nhằm nắm bắt kịp thời tư tượng,
nguyện vọng của các tín đồ, chức sắc về hoạt động của các tôn giáo trên địa
bàn. Đối với cấp xã, UBND cấp xã có các công chức chuyên trách giúp Chủ
tịch UBND quản lý nhà nước về tôn giáo.
1.2.3. Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo
Quản lý nhà nước về tôn giáo bằng pháp luật là quá trình cơ quan nhà
nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình để sử dụng pháp
luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình QLNN về tôn
giáo. Chính sách và pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói chung và các hoạt
động tôn giáo nói riêng là sự thể chế hóa đường lối, chủ trương, quan điểm
của Đảng đối với công tác tôn giáo. Pháp luật về tôn giáo của nhà nước là
công cụ bảo vệ quyền tự do tôn giáo của công dân, quyền hoạt động bình
thường của các tôn giáo, cũng là cơ sở pháp lý để đấu tranh, ngăn chặng các