Quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả từ thực tiễn hoạt động của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Gia Lai (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH VĂN HÀ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG HÀNG GIẢ
TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA LỰC LƯỢNG
QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH GIA LAI

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8 38 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH VĂN HÀ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG HÀNG GIẢ
TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA LỰC LƯỢNG
QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH GIA LAI

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8 38 01 02


2. Tình hình nghiên cứu đề tài ....................................................................................2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..........................................................................4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...........................................................................4
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ......................................................5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ...............................................................5
7. Bố cục của luận văn ................................................................................................6
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG TRONG QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG HÀNG GIẢ ..............................................................7
1.1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về hàng giả ........................................................7
1.2. Công tác quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả ......................................19
1.3. Kinh nghiệm một số tỉnh về phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả ...........26
Kết luận Chương 1 ....................................................................................................30
Chương 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG HÀNG
GIẢ TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA LỰC LƯỢNG QUẢN LÝ THỊ
TRƯỜNG TỈNH GIA LAI .......................................................................................31
2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu .............................................................................31
2.2. Thực trạng chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Cục QLTT tỉnh Gia Lai giai
đoạn 2014-2018 .........................................................................................................45
2.3. Đánh giá công tác phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Cục QLTT Gia
Lai..............................................................................................................................60
Kết luận Chương 2 ....................................................................................................66
Chương 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG HÀNG GIẢ TẠI CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG
TỈNH GIA LAI .........................................................................................................68
3.1. Dự báo sản xuất, buôn bán hàng giả trong những năm tới ................................68
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả trong quản lý nhà nước về phòng chống hàng
giả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Gia Lai ..............................................................70
Kết luận Chương 3 ....................................................................................................76
KẾT LUẬN ...............................................................................................................78
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................80

World Trade Organization - Tổ chức thương mại thế giới


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng/biểu
Bảng 2.1
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 2.5
Biểu đồ
2.6
Biểu đồ
2.7
Bảng 2.8

Tên bảng

Trang

Cơ cấu nguồn nhân lực theo giới tính, trình độ, độ tuổi
Phân phối nguồn nhân lực
Kết quả công tác đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ chống
hàng giả cho công chức QLTT Gia Lai giai đoạn 2014-2018
Kết quả xử lý vi phạm hành chính về hàng giả (2014-2018)
Tỷ lệ xử lý và số tiền nộp ngân sách nhà nước về hàng giả
(2014-2018)
Tỷ lệ % vụ xử lý về hàng giả các đơn vị (giai đoạn 20142018)
Tỷ lệ % số tiền xử phạt VPHC về hàng giả của các đơn vị

xuất ngày càng hiện đại; sản xuất, buôn bán hàng giả ngày càng phát triển, diễn biến
phức tạp, tinh vi và khó kiểm soát.
Vấn nạn hàng giả đã trở thành một thực trạng nhức nhối, lây lan nhanh, ngày
càng tinh vi, tàn phá kinh tế xã hội, phá hoại cạnh tranh công bằng và gây ảnh
hưởng rất xấu đến quyền lợi của các nhà sản xuất. Nó cũng ảnh hưởng xấu đến đời
sống xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng. Chính vì vậy, công tác
phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng,
cấp bách nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh của thị trường, bảo vệ người tiêu
dùng và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.
Tỉnh Gia Lai với dân số 1,37 triệu, có 34 dân tộc anh em sinh sống, trong đó
đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 45%, diện tích 15.536,9 Km2, có 90 Km đường
1


biên giới giáp với nước Campuchia, ngoài ra giáp với các tỉnh Kon Tum, Đắk Lắk,
Bình Định, Phú Yên; các tuyến Quốc lộ 14 (nay là đường Hồ Chí Minh), 14C, 19,
19D, 25 và đường Trường Sơn Đông đi qua, có Cảng hàng không Pleiku, Cửa khẩu
quốc tế Lệ Thanh. Mặt dù không phải là địa bàn tập trung các đầu mối lớn về sản
xuất, buôn bán hàng giả, vận chuyển hàng cấm, hàng nhập lậu nhưng với địa bàn có
nhiều tuyến giao thông đia qua nên các đối tượng đầu nậu đã lợi dụng để vận
chuyển hàng giả, hàng cấm, hàng nhập lậu, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ vào
tiêu thụ tại địa bàn tỉnh và trung chuyển đi qua các tỉnh khác.
Lực lượng QLTT Gia Lai đã thường xuyên duy trì và đẩy mạnh công tác
kiểm tra, kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm trong sản xuất, buôn bán hàng giả,
đạt được nhiều kết quả khả quan, góp phần tích cực vào việc làm lành mạnh thị
trường. Tuy nhiên, tình hình buôn lậu, buôn bán hàng cấm, gian lận thương mại;
nhất là sản xuất, mua bán hàng giả vẫn diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, ảnh
hưởng rất lớn tới người tiêu dùng, các danh nghiệp và thị trường hàng hóa. Công
chức QLTT còn hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, nhiều vụ việc xử lý về hàng giả
còn lúng túng, văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều chồng chéo, bất cập.

Hương, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2006); Xử phạt vi phạm hành chính về buôn
bán hàng giả - từ thực tiễn Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ
Luật học của Nguyễn Trường Sơn, Học Viện Hành chính Quốc Gia, 2016).
- Một số nghiên cứu khoa học dưới dạng bài viết có liên quan đến đề tài của
tác giả có thể kể đến như: Hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật về hàng giả
và về đấu tranh phòng, chống sản xuất và buôn bán hàng giả của Trần Ngọc Việt
đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 08/2011; Một vài suy nghĩ về khái niệm
hàng giả trong bối cảnh cuộc chiến chống hàng giả và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
tại Việt Nam của Nguyễn Thị Quế Anh đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc
gia Hà Nội, Luật học, tập 30, số 1 (2014) 44-53 và một số đề tài nghiên cứu khoa
học các cấp của các cơ quan có chức năng đấu tranh phòng, chống hàng giả. Các
công trình nghiên cứu trên đã làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn trong công tác
phòng, chống hàng giả, hoặc đề cập đến công tác đấu tranh chống hàng giả của một
lực lượng, chưa nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện trong công tác quản lý nhà

3


nước về phòng, chống hàng giả của lực lượng Quản lý thị trường trên địa bàn tỉnh
Gia Lai, cũng như giải pháp để phòng ngừa, ngăn chặn, hạn chế đến mức thấp nhất
các hành vi vi phạm trong lĩnh vực hàng giả. Vì vậy đề tài tiếp tục kế thừa từ những
giá trị khoa học của các công trình đã được nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về phòng, chống sản xuất, buôn bán
hàng giả của lực lượng QLTT tỉnh Gia Lai, đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm
hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đấu tranh phòng,
chống sản xuất, buôn bán hàng giả góp phần ổn định thị trường, thúc đẩy phát triển
thương mại của địa phương.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng làm cơ sở, phương pháp luận cho việc
nghiên cứu để giải quyết những vấn đề về lý luận tình hình sản xuất, kinh doanh
hàng giả; thực trạng, nguyên nhân của các hành vi vi phạm về sản xuất, buôn bán
hàng giả tại Cục QLTT tỉnh Gia Lai, từ đó đề ra các giải pháp phòng ngừa sản xuất,
bán bán hàng giả trên địa bàn tỉnh Gia Lai làm cơ sở thực tiễn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thống
kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp
diễn giải.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ nhiều vấn đề lý luận quản
lý nhà nước về phòng, chống hàng giả; hệ thống hóa và làm rõ về hàng giả, nhấn

5


mạnh về tác hại của hàng giả đến sự ổn định và phát triển của nền kinh tế, tổn hại
đến lợi ích của cộng đồng.
Đánh giá và phân tích rõ thực trạng đấu tranh phòng, chống hàng giả tại Cục
QLTT tỉnh Gia Lai.
6.2. Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể giúp các cơ quan tổ chức tham khảo
để vận dụng vào việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao trình độ nhận thức và ý thức
pháp luật cho nhân dân trong hoạt động sản xuất kinh doanh; góp phần đổi mới tổ
chức hoạt động của Cục QLTT; đề ra phương án cụ thể, trước mắt và lâu dài nhằm
nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả, tăng cường quản lý nhà nước trong đấu
tranh phòng, chống hàng giả trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Đề tài này góp phần xây dựng phương án cho toàn Cục QLTT tỉnh Gia Lai;
đồng thời làm cơ sở để vận dụng chỉ đạo cho các Đội trong Cục QLTT về đấu tranh

cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Trong lý luận và thực tiễn hiện tồn tại nhiều quan niệm về hàng giả. Trước
hết, tìm hiểu khái niệm về hàng hoá và thế nào là giả: “Hàng hoá là sản phẩm dùng
để thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua
trao đổi” [34, tr.214], còn “Giả có nghĩa không phải là thật mà được làm với bề
ngoài giống như cái thật để người khác tưởng là thật” [35, tr.405].
Theo từ điển Bách khoa toàn thư: “Hàng giả là hàng làm bắt chước theo mẫu
mã của loại hàng thật nào đó đang được lưu hành, nhưng không bảo đảm đủ tiêu
chuẩn về phẩm chất hoặc không có giá trị sử dụng, hoặc không có giá trị sử dụng
đầy đủ, nhất là đối với mặt hàng thông dụng và có nhu cầu lớn. Về hình thức, các
loại hàng giả rất giống hàng thật, vì kĩ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi. Người

7


làm hàng giả cũng có khi sử dụng một phần nguyên liệu, các loại bao bì, tem nhãn
của hàng thật để lừa gạt người mua” [36]. Khái niệm này chỉ giải thích về mặt ngôn
ngữ, mà chưa phải là khái niệm mang tính pháp lý, thể hiện bản chất của hàng giả.
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm hàng giả lần đầu tiên được sử dụng kể từ khi
đất nước được thống nhất là trong Pháp lệnh Trừng trị tội đầu lậu cơ, buôn, làm
hàng giả, kinh doanh trái phép năm 1982 [18]. Điều 5 của Pháp lệnh này quy định
về Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả, với hình phạt có thể lên đến tù chung
thân. Tuy nhiên, đến thời điểm ban hành văn bản này, khái niệm hàng giả vẫn chưa
được làm rõ.
Bộ luật Hình sự đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất ban hành năm 1985
quy định Tội làm hàng giả, Tội buôn bán hàng giả tại Điều 176, thuộc nhóm Tội
kinh tế. Mặc dù có quy định chi tiết hơn, có chế tài nghiêm khắc hơn Điều 5 của
Pháp lệnh năm 1982, Điều 176 của Bộ luật hình sự năm 1985 không đưa ra định
nghĩa về hàng giả.
Văn bản pháp luật đầu tiên định nghĩa về hàng giả là Nghị định 140/HĐBT

trên nhãn, bao bì hàng hóa;
đ) Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa
chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm hàng hóa;
giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của
thương nhân khác;
e) Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về
nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;
g) Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí
tuệ năm 2005;
h) Tem, nhãn, bao bì giả gồm: đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, các
loại tem chất lượng, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa hoặc vật phẩm khác
của cá nhân, tổ chức kinh doanh có chỉ dẫn giả mạo tên và địa chỉ của thương nhân

9


khác; giả mạo tên thương mại, tên thương phẩm hàng hóa, mã số đăng ký lưu hành,
mã vạch hoặc bao bì hàng hóa của thương nhân khác.
Như vậy, tùy trong từng thời kỳ, từng bối cảnh của nền kinh tế, để phù hợp
với nhu cầu đầu tranh chống hàng giả trong từng lĩnh vực mà khái niệm hàng giả có
thể được hiểu theo nghĩa khác nhau. Hơn nữa, qua các giai đoạn, khái niệm hàng
giả trong pháp luật Việt Nam cũng đã có sự phát triển, hoàn thiện đáng kể.
Từ sự nghiên cứu tổng hợp dưới góc độ pháp lý và khoa học hàng hóa, có thể
đưa ra khái niệm: Quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả là hoạt động thực thi
pháp luật của Nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp
luật đối với các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả của các tổ chức, cá nhân
sản xuất, kinh doanh và hoạt động thương mại thông qua hệ thống các văn bản quy
phạm pháp luật quy định về chất lượng, nhãn hiệu hàng hóa, quyền SHTT, sở hữu
công nghiệp, về đăng ký kinh doanh, xử lý các hành vi vi phạm trong sản xuất kinh
doanh hàng hóa… được tổ chức thực hiện thông qua hệ thống các cơ quan quản lý

1.1.3. Bản chất và đặc điểm về sản xuất, buôn bán hàng giả
1.1.3.1. Bản chất của việc sản xuất, buôn bán hàng giả
Bản chất của sản xuất và buôn bán hàng giả là hành vi cướp đoạt giá trị vật
chất và tinh thần của người khác, lừa dối người tiêu dùng để thu lợi bất chính, điều
này được thể hiện rất rõ đối với mọi loại hàng giả.
Với mục tiêu đặt lợi nhuận trên hết, bất chấp mọi quy định của pháp luật. Để
đạt được mục tiêu của mình, các đối tượng sản xuất và buôn bán hàng giả dùng rất
nhiều thủ đoạn tinh vi để lừa dối, che mắt người tiêu dùng để thu lợi bất chính, chủ
yếu dựa vào sự thiếu hiểu biết của khách hàng để lừa dối; thu hút khách hàng qua
chi tiết giống hàng thật; chúng thường tập trung vào sản xuất, buôn bán một số mặt
hàng có thương hiệu, sản phẩm nỗi tiếng được thị trường tín nhiệm và người tiêu
dùng ưa chuộng, nhằm dễ tiêu thụ sản phẩm của mình với khối lượng lớn, bán hàng
nhanh và thu lợi nhuận cao, tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất bỏ ra cho sản phẩm,

11


hàng hóa. Thậm chí siêu lợi nhuận thông qua việc sử dụng nguyên liệu cấp thấp,
công nghệ sản xuất thủ công, trốn tránh trách nhiệm nộp thuế.
Đã là hàng giả thì bao giờ chất lượng cũng kém hơn so với hàng thật, thậm
chí có những loại hàng giả có độc tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, tính mạng
của người tiêu dùng. Bên cạnh đó có loại hàng giả sử dụng nhãn mác bao bì của
hàng thật, loại hàng giả này rất nguy hiểm với người tiêu dùng vì khi sử dụng rồi
mới biết là hàng thật hay giả.
Tuy nhiên, trong việc sản xuất, buôn bán hàng giả cũng phải kể đến sự thiếu
hiểu biết, thiếu thông tin, kỹ năng nhận biết của khách hàng đối với sản phẩm và
còn có cả sự chấp nhận của người tiêu dùng. Do đó, số tiền mà người tiêu dùng bỏ
ra không đúng với giá trị vật chất và tinh thần thụ hưởng, ảnh hưởng đến sức khỏe,
thuần phong tập quán, môi trường sống của con người và xã hội.
1.1.3.2. Đặc điểm về sản xuất, buôn bán hàng giả

pháp, có trình độ về chuyên môn nhưng vẫn làm hàng giả; những người chủ cơ sở
đăng ký sản xuất một mặt hàng nhưng lại làm giả mặt hàng đã có uy tín.
Những đối tượng này có thể là:
- Doanh nghiệp trong nước: sản xuất giả mạo nhãn hoặc nhãn hiệu, xâm
phạm kiểu dáng công nghiệp, tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hàng thật hoặc
nhãn hiệu đã được bảo hộ tại Việt Nam; thậm chí đã có trường hợp xuất khẩu hàng
vi phạm nhãn hiệu ra nước ngoài, sản xuất giả hàng hóa của doanh nghiệp Việt
Nam có chất lượng tốt và tìm cách nhập khẩu vào Việt Nam để tiêu thụ.
- Các doanh nghiệp tại nước ngoài sản xuất hàng giả đưa vào Việt Nam tiêu
thụ: Chủ yếu là hàng cao cấp, có giá trị lớn như đồng hồ đeo tay, mỹ phẩm cao cấp,
thực phẩm, quần áo, thiết bị vệ sinh..., giả mạo nhãn hiệu hàng hóa của các hãng
nước ngoài có thương hiệu nổi tiếng như đồng hồ, máy tính Casio, Dove, Clear,
A_One, Adidas, Nike, Levi’s, Blue Exchange,... Tình trạng này đang xảy ra khá
phổ biến, loại hàng giả này đã và đang được bán công khai trên thị trường nước ta
mà phần lớn là nhập lậu từ nước láng giềng Trung Quốc.
- Hộ kinh doanh cá thể sản xuất, tiêu thụ hàng giả: đối tượng này sản xuất
13


chủ yếu dựa những mặt hàng tiêu dùng thông thường cho nhu cầu tiêu dùng hàng
ngày của người tiêu dùng: xà phòng, dầu gội đầu, muối Iốt, bột ngọt, bánh kẹo...
- Một số doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng sản xuất và tiêu
thụ hàng giả. Việc sản xuất hàng giả của loại đối tượng này thường ở dạng vi phạm
quyền sở hữu công nghiệp, sử dụng nhãn hiệu của người khác mà không có sự đồng
ý của chủ thể quyền. Những sản phẩn hàng hóa giả, xâm phạm quyền SHTT này đi
vào thị trường Việt Nam bằng các con đường như: Nhập lậu; nhập tiểu ngạch; thậm
chí có cả nhập chính ngạch những hàng hóa có yếu tố vi phạm sở hữu công nghiệp.
Nhiều tổ chức, cá nhân sản xuất, buôn bán hàng giả gần như mang tính
chuyên nghiệp. Họ tổ chức hoạt động thành những kênh, những đường dây khép
kín, khá chặt chẽ trong việc sản xuất - giao nhận - vận chuyển - buôn bán - tiêu thụ

hàng giả, bao bì nhãn hiệu thật (A-One, dầu gội đầu).
- Tẩy xóa, sửa lại nhãn hàng đã quá hạn sử dụng, hàng chất lượng không
đảm bảo an toàn thành hàng còn trong thời hạn sử dụng... để tiêu thụ. Phương thức
này chủ yếu tiêu thụ hàng bao gói sẵn, đồ hộp đóng gói sẵn.
- Hàng giả được sản xuất với mẫu mã bên ngoài rất giống, thậm chí nhìn bên
ngoài còn đẹp hơn hàng thật, nếu để 2 sản phẩm thật - giả cạnh nhau, thì người tiêu
dùng không phân biệt được.
1.1.5.2. Phương thức buôn bán
Lợi dụng tâm lý khách hàng luôn muốn mua hàng muốn giá rẻ mà hàng lại
tốt nhất nhằm mục tiêu đạt lợi nhuận cao nhất nên các đối tượng đã áp dụng những
phương thức tiêu thụ khác nhau đối với từng loại hàng hóa khác nhau, mang những
đặc trưng khác nhau, cụ thể như sau:
- Hàng có giá trị lớn, quy trình công nghệ sản xuất phức tạp, thị trường tiêu
thụ rộng thì việc sản xuất và tiêu thụ rất tinh vi: hàng giả rất giống hàng thật, thậm
chí đẹp hơn hàng thật nhưng chất lượng kém hơn hàng thật. Những loại hàng hóa
trên nhiều khi là hàng nhập khẩu, hàng cao cấp, người tiêu dùng không am hiểu
nhiều về nhãn mác, xuất xứ, cấu tạo... đó là một yếu tố dẫn đến loại hàng giả này

15


nhiều khi được sản xuất và tiêu thụ công khai.
- Các loại hàng giả khác, phương thức tiêu thụ phổ biến ở các dạng sau:
+ Sử dụng nhiều hình thức, chiêu thức khuyến mãi đánh vào tâm lý, cuốn hút
người tiêu dùng để tiêu thụ hàng giả, hàng nhái như: giảm giá, mua 2 tặng 1, mua
hàng kèm theo phiếu trúng thưởng...
+ Giá bán nhiều loại hàng rẻ hơn hàng thật để người mua tham rẻ mà tiêu thụ
là phổ biến nhưng cũng có loại để tránh người tiêu dùng nghi ngờ thì hàng giả lại
được bán ngang giá hàng thật.
+ Nhiều loại hàng hóa khi bán phải kèm theo phiếu bảo hành, nhưng đối với

thích dùng hàng ngoại, ham rẻ, dễ chấp nhận với hàng giả theo quan niệm “tiền nào
của ấy”, khi hàng hoá giá rẻ, phù hợp với thu nhập thì họ mua về để dùng. Đó là
nhân tố tiếp tay cho hàng hàng giả có điều kiện tồn tại và lưu thông trên thị trường.
Nguyên nhân thứ tư là sự phối hợp giữa nhà sản xuất và các ngành, các lực
lượng chức năng chưa thường xuyên, đồng bộ; chưa làm tốt công tác tuyên truyền
và cung cấp những kiến thức cơ bản cho người tiêu dùng từ đó nhận biết được hàng
thật - hàng giả đang lưu thông trên thị trường.
Nguyên nhân thứ năm là hệ thống quy định pháp lý về hàng giả và thực thi
quyền SHTT chưa đồng bộ, còn nhiều chồng chéo bất cập, chưa có sự thống nhất
trong công tác xử lý vi phạm giữa các cơ quan chức năng; công tác giám định còn
mất rất nhiều thời gian, chưa đáp ứng được nhu cầu đấu tranh trong phòng, chống
sản xuất, buôn bán hàng giả.
1.1.7. Tác hại của hàng giả đối với nền kinh tế - xã hội
1.1.7.1. Tác hại đối với người sản xuất
Nạn sản xuất và buôn bán hàng giả có ảnh hưởng rất xấu đối với đời sống
kinh tế và xã hội của một quốc gia. Đối với người sản xuất kinh doanh, nó có ảnh
hưởng vô cùng to lớn, cụ thể như sau:

17


Hàng giả giúp cho các đối tượng hoạt động thương mại trái pháp luật thu
được lợi nhuận cao, đồng thời hạ uy tín và làm giảm lợi nhuận của các doanh
nghiệp hoạt động đúng theo quy định của Pháp luật, làm giảm số thu của nhà nước
từ nguồn thu ngân sách.
Hàng giả có gắn nhãn mác, tên thương mại của các thương hiệu nổi tiếng,
các thương hiệu đã đăng ký bảo hộ sẽ làm hạ uy tín của các doanh nghiệp ấy, mất
uy tín đối với khách hàng, sản lượng bán ra không nhiều gây thất thu lớn đối với các
doanh nghiệp. Các doanh nghiệp phải đầu tư một số lượng tiền khá lớn vào việc
chống hàng giả và việc cải tạo nhãn mác sản phẩm của mình sao cho hàng giả ít có

tiến, hiện đại trên thế giới để mở rộng sản xuất, tăng sản lượng trong nước. Việt
Nam sẽ không có cơ hội để rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực và
trên thế giới.
Bên cạnh đó, tác hại của hàng giả còn ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh,
chất lượng công trình… ảnh hưởng đến toàn xã hội, kìm hãm sự phát triển của nền
kinh tế, thất thu ngân sách nhà nước làm rối loạn trật tự quản lý kinh tế.
Tóm lại: Nạn sản xuất và buôn bán hàng giả tạo ra rất nhiều mối nguy hại
cho nền kinh tế. Việt Nam muốn hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, muốn tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững thì phải kiên quyết đấu tranh
mạnh mẽ với tệ nạn này.
1.2. Công tác quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả
1.2.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước và chính sách, pháp luật về đấu tranh
phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả
1.2.1.1. Cơ sở pháp lý
Trong những năm qua, công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương
mại và hàng giả đã được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; các Bộ,
ngành, địa phương, lực lượng chức năng và nhân dân tích cực thực hiện và đã đạt
được những kết quả quan trọng, góp phần ổn định và thúc đẩy sản xuất kinh doanh,

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status