Hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội: Khía cạnh lý luận và pháp luật hình sự Việt Nam (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ MINH YẾN

HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI:
KHÍA CẠNH LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ MINH YẾN

HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI:
KHÍA CẠNH LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM
Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS HỒ SỸ SƠN

HÀ NỘI, năm 2019


tuổi phạm tội ......................................................................................................... 51
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ HÌNH
PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI VÀ CÁC GIẢI PHÁP
BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG ................................................................................... 68
3.1. Các xu hướng hoàn thiện các quy định về hình phạt đối với người dưới 18
tuổi phạm tội ......................................................................................................... 68
3.2. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng ............................................................ 73
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS

Bộ luật hình sự

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự

CSHS

Chính sách hình sự

HĐXX

Hội đồng xét xử

TANDTC

nhân đạo của Nhà nước đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và coi họ là đối tượng
đặc biệt được pháp luật bảo vệ dưới cả hai góc độ là khi họ là chủ thể của tội
phạmvà cả khi họ là người bị hại.
Hình phạt nói chung, đặc biệt là hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội là một vấn đề cơ bản, phức tạp mang tính thời sự bởi tính chất nhân đạo và bởi
người dưới 18 tuổi phạm tội cũng chính là đối tượng đặc biệt cần có sự thận trọng
và phải được xem xét thấu đáo mọi khía cạnh khi áp dụng hình phạt vì người dưới
18 tuổi là chủ thể đạc biệt cần được pháp luật bảo vệ dưới cả hai góc độ là người
phạm tội thì cần phải được giáo dục, răn đe và vừa là đối tượng cần được bảo vệ,
chăm sóc và quan tâm đặc biệt. Việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội chỉ trong trường hợp thực sự cần thiết và hạn chế việc áp dụng hình phạt
tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
1


Để việc đấu tranh phòng chống tội phạm đối với người dưới 18 tuổi có hiệu
quả, thì ngoài việc phải tìm ra những nguyên nhân, điều kiện làm nảy sinh hành vi
phạm tội, từ đó tìm ra những giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa tội phạm là người
dưới 18 tuổi thì việc nghiên cứu về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
cũng không kém phần quan trọng, giúp đạt được hiệu quả cao nhất về mục đích của
hình phạt là không chỉ nhằm trừng trị, mà còn nhằm mục đích giáo dục người phạm
tội, giúp họ nhận ra sai lầm và tạo cho họ cơ hội để sửa chữa, sớm tái hòa nhập với
cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Trên cơ sở nghiên cứu đó đưa ra
những giải pháp bảo đảm hiệu quả của hình phạt, góp phần hoàn thiện chính sách
hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Vì những lý do đã nêu ở trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Hình phạt
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội: Khía cạnh lý luận và pháp luật hình sự Việt
Nam” cho luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một trong những vấn đề cơ

18 tuổi phạm tội. Do vậy, việc nghiên cứu về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội theo quy định của BLHS 2015 có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn sâu sắc
trong việc áp dụng pháp luật hình sự vào thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm
nói chung và tội phạm được thực hiện bởi người dưới 18 tuổi nói riêng, góp phần
phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả do các tội phạm là người dưới 18 tuổi
thực hiện.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một cách có hệ thống và lý luận nội
dung cơ bản của những quy định của pháp luật về hình phạt đối với người dưới 18
tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam, qua đó thấy được xu hướng phát
triển của pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội, các xu hướng hoàn thiện của các quy định về hình phạt đối với người dưới 18
tuổi phạm tội, đề xuất các giải pháp áp dụng đúng hình phạt đối với người dưới 18
tuổi phạm tội, góp phần tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của hình phạt đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội ở nước ta hiện nay.
3


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích đã nêu ở trên thì luận văn thực hiện các nhiệm vụ
sau:
- Phân tích khái niệm, bản chất, mục đích, nội dung của hình phạt; cơ sở của
việc xây dựng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; Biến đổi xã hội và các
loại hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; Các yếu tố bảo đảm hiệu quả
của hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
- Khái quát quá trình quy định và hoàn thiện pháp luật về hình phạt và các
quy định về những vấn đề liên quan đến hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội ở Việt Nam, tập trung làm rõ và đánh giá các quy định của Bộ luật hình sự 2015

con người; các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và
nhà nước về pháp luật hình sự nói chung, hình phạt đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu
của khoa học luật hình sự như: Phương pháp hệ thống lịch sử, phân tích, tổng hợp
và thống kê, phương pháp so sánh để nhằm đạt được mục đích nghiên cứu. cụ thể
như sau:
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp so sánh để làm
rõ các vấn đề lý luận, làm rõ các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hình
phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, đánh giá những thành tựu, những hạn chế
của các quy định, và làm rõ những thành tựu đã đạt được và những hạn chế để khắc
phục từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả của
hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống lý luận về hình phạt
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam. Kết quả
nghiên cứu của luận văn vì vậy góp phần phát triển lý luận về hình phạt đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội

5


6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn nghiên cứu thực tiễn quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về
hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, nhận diện xu hướng phát triển của
pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và các
giải pháp bảo đảm hiệu quả của hình phạt, vì vậy cũng qua nghiên cứu góp phần
hoàn thiện pháp luật hình sự về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đồng

định trong Bộ luật hình sự, do Tòa án áp dụng cho chính người đã thực hiện tội
phạm, nhằm trừng trị và giáo dục họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng và chống
tội phạm, bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân” [10, tr. 29].
Trong khi đó hình phạt được quy định trong BLHS 2015 như sau:“Hình phạt
là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ
luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại
phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương
mại đó”[21, tr. 26]
Điều 12 BLHS 2015 quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:
“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ
những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác”

7


“2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy
định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 150, 151, 170, 171, 173, 178,
248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 285, 286, 287, 289, 290, 299, 303, và 304”.
Điều 90 BLHS 2015 quy định việc áp dụng Bộ luật hình sự đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội cụ thể như sau: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm
tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của chương này; theo quy định
khác của phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của chương
này”[21, tr.63].
Khác với BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 không sử dụng cụm từ “người
chưa thành niên phạm tội” mà sử dụng cụm từ “người dưới 18 tuổi phạm tội” để
quy định về người phạm tội là người dưới 18 tuổi.
Ngoài ra, BLHS 2015 đã đưa ra khái niệm về tội phạm như sau:“1. Tội phạm
là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có

vệ chế độ kinh tế, bảo vệ chế độ chính trị, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ các
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa,
chống mọi hành vi phạm tội, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp
luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm”[20, tr. 5].
Hình phạt đối với người dưới 18 tuổi cũng thể hiện bản chất giai cấp là bảo
vệ chế độ kinh tế, bảo vệ chế độ chính trị, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ các
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, và bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa,
chống mọi hành vi phạm tội, đồng thời giáo dục mọi người có ý thức tuân thủ theo
pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm. Ngoài ra, còn thể hiện chính
sách nhân đạo của Nhà nước đối với họ, việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội.
phải bảo đảm lợi ích tốt nhất và chủ yếu nhằm mục đích giúp đỡ họ sửa chữa sai
lầm, phát triển lành mạnh và giáo dục họ trở thành công dân có ích cho xã hội.
1.1.3. Nội dung của hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Hiện nay trong khoa học luật hình sự cũng như trong pháp luật hình sự thực
định, nội dung của hình phạt nói chung và hình phạt đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội nói riêng được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Thậm chí còn có sự nhầm
lẫn giữa nội dung của hình phạt với mục đích của hình phạt. Xuất phát từ khái niệm
9


và bản chất cũng như mục đích của hình phạt, chúng tôi cho rằng nội dung của hình
phạt thể hiện ở tính trừng trị người phạm tội và tính cải tạo giáo dục người phạm tội
của nó. Tính trừng trị của hình phạt thể hiện ở việc “ hình phạt tước bỏ hoặc hạn chế
ở những người phạm tội (đã bị kết án) những quyền và lợi ích nhất định” và giáo
dục cải tạo họ trở thành người lương thiện. Nội dung trừng trị chỉ cần ở mức cần và
đủ, vì vậy mà đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, việc truy cứu TNHS không đồng
nhất với việc buộc họ phải chịu hình phạt, mà bên cạnh đó còn có thể áp dụng các
biện pháp tư pháp có tính chất giáo dục, phòng ngừa. Trong trường hợp cần thiết
phải áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì Tòa án chỉ được áp
dụng một trong các hình phạt quy định tại Điều 98 BLHS 2015. Nội dung của hình

Hình phạt tiền.
Phạt tiền là hình phạt chính áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội,
phạt tiền tước đi quyền lợi vật chất của người phạm tội nhằm mục đích cải tạo và
giáo dục họ trở thành công dân có ích cho xã hội. Hình phạt này có tính cưỡng chế
cao hơn hình phạt cảnh cáo, nó tước bỏ một phần lợi ích vật chất của người dưới 18
tuổi phạm tội nhằm giáo dục họ có ý thức tuân theo pháp luật tôn trọng các quy tắc
trật tự công cộng, tôn trọng trật tự quản lý xã hội. Ngoài việc tác động vào ý thức và
danh dự của người phạm tội, hình phạt này còn tước bỏ một phần lợi ích vật chất
thuộc sở hữu của người dưới 18 tuổi phạm tội.
Vì là tước đi quyền lợi vật chất của người phạm tội nên người phạm tội dưới
18 tuổi được áp dụng hình phạt tiền là người có thu nhập hoặc có tài sản riêng. Đây
là biểu hiện của nguyên tắc trách nhiệm cá nhân
Như vậy, hình phạt tiền được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
khi họ thỏa mãn các điều kiện sau:
Thứ nhất, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì người phạm tội phải ở
độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Quy định này nhằm đảm bảo cho tính khả thi
khi áp dụng hình phạt tiền, và hình phạt tiền không áp dụng đối với người từ đủ 14
tuổi đến dưới 16 tuổi. Bởi vì, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chưa có khả năng
độc lập về kinh tế, còn phụ thuộc vào gia đình, chưa có nghề nghiệp ổn định và còn
đang trong độ tuổi đi học nên không thể áp dụng hình phạt tiền đối với độ tuổi này.
Thứ hai, người phạm tội phải có thu nhập hoặc có tài sản riêng. Tài sản riêng
ở đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của riêng người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi,
11


có thể đó là tài sản được tặng cho, được thừa kế hay do bản thân tự tạo nên, tự tích
lũy. Có thu nhập được hiểu là thu nhập hợp pháp trên thực tế từ các hoạt động sản
xuất, kinh doanh hoặc từ hợp đồng lao động của người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18
tuổi phạm tội.
Các trường hợp mà người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội là người

đạo của Nhà nước ta đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Khác với biện pháp xử phạt hành chính, hình phạt tiền được quy định trong
BLHS chỉ do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội. Và người bị áp dụng hình
phạt tiền phải mang án tích trong một thời gian theo luật định.
- Hình phạt cải tạo không giam giữ
Người bị áp dụng hình phạt này không bị cách ly ra khỏi xã hội nhưng hình
phạt này là hình phạt chính được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi khi họ phạm
tội. Đây là loại hình phạt không tước tự do của người dưới 18 tuổi phạm tội nhưng
là hình phạt nghiêm khắc hơn so với hình phạt cảnh cáo và hình phạt tiền. Bởi ngoài
việc tác động đến ý thức và danh dự của người phạm tội thì hình phạt cải tạo không
giam giữ còn hạn chế một phần tự do cá nhân của người phạm tội, buộc họ phải
tuân thủ theo một chế độ quản lý, giám sát của gia đình, tổ chức xã hội, nhà trường.
Về mặt lý luận và lập pháp thì hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới
18 tuổi phạm tội được coi là hình phạt có vị trí rất quan trọng thể hiện chính sách
nhân đạo của Nhà nước ta đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Hình phạt cải tạo
không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được áp dụng khi có các điều
kiện cần và đủ sau:
“Người từ đủ16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội
nghiêm trọng hoặc phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý” có thể bị áp dụng hình phạt
cải tạo không giam giữ [20, tr. 70].
Người phạm tội đã phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý mà tại thời điểm phạm
tội người đó thuộc độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì người phạm tội đó có
thể bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.
Tuy nhiên, trong trường hợp Tòa án quyết định chuyển sang loại hình phạt
khác nhẹ hơn từ hình phạt tù có thời hạn thì người dưới 18 tuổi phạm tội cũng có
thể được áp dụng hình phạt này. Tất nhiên “Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ
13


theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này” thì Tòa án quyết định một hình


Hình phạt tù có thời hạn là loại hình phạt có lịch sử lâu đời và được quy định
và áp dụng phổ biến ở hầu hết trong pháp luật hình sự của các nước trên thế giới,
hình phạt này mang lại hiệu quả cao trong việc trừng trị, giáo dục, cải tạo người
phạm tội. Người bị áp dụng hình phạt tù phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam
giữ trong một thời hạn nhất định. Đây là hình phạt nghiêm khắc nhất trong số các
hình phạt được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, vì nó có nội dung tước
đi tự do của người bị kết án và buộc người bị kết án phải cách ly ra khỏi xã hội
trong một thời gian do mà tòa án đã áp dụng đối với người bị kết án, đồng thời
người bị kết án hình phạt tù có thời hạn phải thực hiện chế độ lao động, học tập theo
những quy định nghiêm ngặt tại nơi giam giữ.
Tuy nhiên, so với người từ đủ 18 tuổi trở lên, người phạm tội dưới 18 tuổi
được áp dụng hình phạt tù ở mức thấp hơn, cụ thể là:
“1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật
được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao
nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt
cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định”.
“2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật
được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao
nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt
cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy
định”[21, tr. 75].
Người dưới 18 tuổi phạm tội do đặc điểm tâm sinh lý và chính sách nhân
đạo, khoan hồng đặc biệt nên không bị áp dụng hình phạt tử hình hoặc chung thân
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, cho dù tội phạm mà họ thực hiện là rất nghiêm
trọng hay đặc biệt nghiêm trọng. Mặt khác, “Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có
thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt như cảnh
cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ không tác dụng răn đe, phòng ngừa”[20, tr.
65] và tùy vào tính chất, mức độ hành vi gây nguy hiểm cho xã hội.


tuổi phạm tội, vừa phù hợp với yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm.
1.1.4. Mục đích (xã hội) của hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
16


Hiện nay mặc dù pháp luật hình sự quy định mục đích của hình phạt là trừng
trị và cải tạo, giáo dục, ngăn ngừa người phạm tội mới và phòng ngừa tội phạm,
song cần nhận thức hình phạt được quy định và áp dụng nhằm bảo đảm công lý,
công bằng xã hội và phòng ngừa tội phạm.Với nội dung là sự tước bỏ, hạn chế nhất
định về quyền và lợi ích của người phạm tội theo quy định của pháp luật, hình phạt
có nội dung là sự trừng phạt của nhà nước đối với người phạm tội. Như vậy, nội
dung của hình phạt trước hết là trừng trị người phạm tội, nếu không có trừng trị thì
không có hình phạt. Tuy nhiên, hình phạt là biện pháp TNHS mà Nhà nước sử dụng
để trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội. Do đó, hình phạt có nội dung trừng trị
và nội dung giáo dục, cải tạo người phạm tội. Bằng việc áp dụng hình phạt, Nhà
nước trừng trị và đồng thời lên án họ về việc họ đã thực hiện hành vi phạm tội gây
nguy hiểm cho xã hội, thông qua đó thuyết phục, giáo dục để họ nhận thức được
nghĩa vụ, trách nhiệm của mình đối với hành vi phạm tội đã thực hiện, làm cho họ
hiểu và nhận thức được sự sai trái, lỗi lầm và tính chất tội phạm của hành vi do
mình gây ra; thấy được sự lên án, phản ứng của Nhà nước đối với tội phạm do họ
thực hiện, từ đó có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội,
trở thành người có ích cho xã hội.
Ngoài ra, hình phạt còn có mục đích phòng ngừa tội phạm: Phòng ngừa riêng
và phòng ngừa chung. Cụ thể, về mục đích phòng ngừa riêng, thông qua trừng trị và
cải tạo giáo dục hình phạt ngăn ngừa người phạm tội tái phạm, và mục đích phòng
ngừa chung thể hiện việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội trong từng
trường hợp cụ thể bao giờ cũng tác động đến các thành viên khác trong xã hội,
phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung là hai mặt không thể tách rời của hình phạt,
có tác dụng tương tác và hỗ trợ lẫn nhau.
Như vậy, có thể hiểu hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là biện

hệ xã hội, dễ dàng bị chi phối và bị ảnh hưởng bởi người khác. Nhìn chung, khả
năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của người dưới 18 tuổi phạm tội
hạn chế hơn so với người đủ 18 tuổi trở lên”. [33, tr. 336]
Thứ hai, “Nguyên nhân và điều kiện thúc đẩy hành vi phạm tội ở những
người dưới 18 tuổi phạm tội chủ yếu bắt nguồn từ những thiếu sót, bất cập và có cả
những việc nuôi dưỡng, giáo dục, trong điều chỉnh, tổ chức quan hệ xã hội của
18


người lớn. Từ nguyên nhân này đã đặt ra một đòi hỏi hết sức cần thiết và chính
đáng là người dưới 18 tuổi phạm tội cần phải có sự quan tâm và bảo trợ đặc biệt
của gia đình, nhà trường, xã hội và pháp luật”. [33, tr. 337]
Thứ ba, “Người dưới 18 tuổi là người đang ở ngưỡng cửa cuộc đời, đang
trong giai đoạn hình thành nhân cách, cá tính, lập trường, quan điểm chưa lộ rõ,
tất cả có thể làm lại từ đầu, khả năng tiếp thu sự giáo dục, cải tạo ở họ là rất lớn.
Đặc điểm này cho phép các cơ quan bảo vệ pháp luật thực hiện mục đích cải hóa,
giáo dục người phạm tội thông qua những biện pháp, cách thức hiệu quả hơn là
việc buộc họ phải gánh chịu các chế tài nghiêm khắc của luật hình sự. Đây cũng
chính là cơ sở để cơ quan tư pháp hình sự và người tiến hành tố tụng có thẩm quyền
thay thế các hình phạt bằng hệ thống các biện pháp riêng ít nghiêm khắc hơn đối
với người đủ18 tuổi trở lên phạm tội”. [33, tr. 337]
1.2.2. Các điều kiện xã hội
Các điều kiện xã hội là một trong các cơ sở để xây dựng hình phạt đối với
người dưới 18 tuổi. Bởi các điều kiện xã hội là một trong những yếu tố quyết định
và là bảo đảm tính khả thi của hình phạt. Bởi vậy, để xây dựng hình phạt đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội thì không thể thiếu yếu tố về các điều kiện xã hội như
điều kiện kinh tế , chính trị, văn hóa…, nó là cơ sở của việc xây dựng hình phạt đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội. Bởi vì, mục đích hình phạt có đạt được hay không
phụ thuộc vào các điều kiện xã hôi liên quan đến hình phạt. Điều kiện quan trọng có
ý nghĩa tác động trực tiếp đến hiệu quả của hình phạt đối với người dưới 18 tuổi là

sự phát triển và xã hội hóa các lực lượng sản xuất đưa lại sự tăng trưởng kinh tế cao
cho tất cả các quốc gia. Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng tác động đến nhiều mặt, hoạt
động và đời sống con người trở nên kém an toàn như: kinh tế, tài chính; văn hóa, xã
hội; môi trường và an toàn chính trị. Một trong những vấn đề đó là sự hình thành và
phát triển của tội phạm đặc biệt là tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện. Trong
điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa, tình hình tội phạm là người dưới 18 tuổi sẽ có
những diễn biến sau:
- Số vụ tội phạm là người dưới 18 tuổi hàng năm được phát hiện có sự tăng,
giảm không đều, nhưng nhìn chung có xu hướng tăng và hậu quả do những hành vi
phạm tội gây ra cho xã hội có xu hướng ngày càng phức tạp, đặc biệt là các loại tội
phạm xâm phạm sở hữu, tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tội phạm ma túy.
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status