Quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả từ thực tiễn của lực lượng hải quan các tỉnh vùng tây nguyên - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VĂN NHUẬN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỐNG BUÔN LẬU, GIAN LẬN
THƯƠNG MẠI VÀ HÀNG GIẢ TỪ THỰC TIỄN CỦA LỰC
LƯỢNG HẢI QUAN CÁC TỈNH VÙNG TÂY NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ:
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Hà Nội, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VĂN NHUẬN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỐNG BUÔN LẬU, GIAN LẬN
THƯƠNG MẠI VÀ HÀNG GIẢ TỪ THỰC TIỄN CỦA LỰC
LƯỢNG HẢI QUAN CÁC TỈNH VÙNG TÂY NGUYÊN

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SỸ:
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS BÙI NGUYÊN KHÁNH

1.3. Kinh nghiệm của một số Hải quan địa phương và quốc tế.

30

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỐNG
BUÔN LÂU, GIAN LẬN THƯƠNG MẠI VÀ HÀNG GIẢ CỦA
LỰC LƯỢNG HẢI QUAN CÁC TỈNH VÙNG TÂY NGUYÊN

37

2.1. Chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Cục Hải quan Đắk
Lắk, Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum.

37

2.2. Kết quả công tác quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận
thương mại và hàng giả của Hải quan các tỉnh vùng Tây Nguyên .

40

2.3. Những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu.

61


CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỐNG BUÔN LẬU, GIAN LẬN

69


Ý NGHĨA

1

BCT

Bộ Tài chính

2

ĐTCBL

Điều tra chống buôn lậu

3

GSQL

Giám sát quản lý

4

KTSTQ

KIếm tra sau thông quan

5

TCHQ



39


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Quản lý nhà nước về hải quan được đề cập đến tại nhiều diễn đàn quốc tế,
đặc biệt là tại các cuộc họp của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và Tổ
chức Hải quan thế giới (WCO). Quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận
thương mại và hàng giả của lực lượng Hải quan đang đặt ra đối với các quốc
gia để giải quyết những thách thức trong quản lý. Tại Việt Nam, nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả của
các Cục Hải quan địa phương nhận thấy là giải pháp hữu hiệu để giải quyết bài
toán của Tổng cục Hải quan khi khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, hành
khách xuất nhập cảnh qua biên giới ngày càng tăng trong khi nguồn lực có
hạn. Thực hiện quản lý tốt tại từng địa phương sẽ giảm bớt chi phí và mang lại
hiệu quả hoạt động cho hải quan địa phương nói riêng, Tổng cục Hải quan
cũng như của Việt Nam nói chung.
Thời gian qua, các Cục Hải quan địa phương đã có nhận thức nhất định
về cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hải quan nhằm tạo thuận lợi cho
thương mại quốc tế, thực hiện phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và
hàng giả. Tuy nhiên, mức độ thực hiện của các Cục Hải quan địa phương chưa
đồng đều tùy thuộc vào địa bàn và sự phối hợp giữa các cơ quan của các bộ,
ngành, cơ quan chức năng của Việt Nam, cũng như giữa Hải quan Việt Nam
với Hải quan các nước có đường biên giới chung. Vì vậy, nhu cầu cấp thiết
đặt ra là cần có nghiên cứu sâu, toàn diện về nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả của Hải quan đáp
ứng nhu cầu hiện đại hóa, hội nhập nhất là trong bối cảnh thế giới bước vào
cuộc cách mạng 4.0. Cục Hải quan Đắk Lắk và Cục Hải quan Gia Lai – Kon
Tum được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về hải quan trên địa bàn các tỉnh

“Giải pháp nâng cao hiệu quả phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái

2


phép hàng hóa qua biên giới ở các cửa khẩu hàng không quốc tế” do ông
Nguyễn Phi Hùng – Cục trưởng Cục ĐTCBL làm chủ nhiệm…
Với cách tiếp cận là làm sáng tỏ những vấn đề mang tính lý luận như:
các phương thức, hành vi buôn bán, vận chuyển; đặc điểm địa hình nơi diễn ra
hoạt động đấu tranh phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại; những vấn
đề mang tính pháp lý của hoạt động phòng, chống buôn lậu, các giải pháp và
đề xuất kiến nghị trong tình hình buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả
ngày càng gia tăng…nên các đề tài nghiên cứu trên có ý nghĩa quan trọng
trong việc cung cấp thêm những thông tin, luận cứ khoa học cần thiết để tác
giả thực hiện các mục tiêu nghiên cứu được đề ra của luận văn.
Tuy nhiên đó là các đề tài có phạm vi nghiên cứu ở cấp toàn quốc nên
cũng chưa có những giải pháp cụ thể cho từng địa phương. Đề tài “Quản lý
nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả từ thực tiễn
của lực lượng hải quan các tỉnh vùng Tây Nguyên” là đề tài mới, trong
nước chưa có một đơn vị nào nghiên cứu.
3. Mục dích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về
chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, phân tích đánh giá thực
trạng chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả từ thực tiễn của lực
lượng hải quan các tỉnh vùng Tây Nguyên và từ đó đề xuất phương hướng,
giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương
mại và hàng giả của lực lượng Hải quan các tỉnh vùng Tây Nguyên trong thời
gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu chủ yếu dựa trên phương pháp luận duy vật biện
chứng, trong đó vận dụng các quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử khi
4


xem xét, đánh giá từng vấn đề trong thời điểm cụ thể. Đồng thời dựa trên
quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước về
những vấn đề liên quan.
- Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp cụ thể sử dụng trong quá trình nghiên cứu là phương
pháp thu thập dữ liệu kết hợp với phương pháp phân tích và tổng hợp.
Phương pháp thu thập số liệu: Dữ liệu được thu thập từ các văn bản quy
phạm pháp luật, sách, giáo trình, các công trình khoa học, tạp chí chuyên
ngành liên quan đến quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại
và hàng giả … có giá trị trong việc đưa ra những dẫn chứng rõ ràng, đảm bảo
tính logic, thuyết phục cho luận văn cũng như đáp ứng tính thực tiễn.
Phương pháp luật so sánh: được Luận văn sử dụng để làm rõ kinh
nghiệm điều chỉnh nghiệm quốc tế về quản lý nhà nước về hải quan trong
chống buôn lậu và gian lận thương mại và hàng giả của một số quốc gia trên
thế giới và đề xuất cho Việt Nam.
Phương pháp phân tích: Dựa trên những số liệu và thông tin đã thu
thập được trong phương pháp thu thập số liệu, tác giả tiến hành hệ thống hóa
những dữ liệu nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu đặt ra, phân tích, đánh giá
các nội dung của quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và
hàng giả của lực lượng hải quan hiện nay ở Việt Nam.
Phương pháp tổng hợp: Từ những kết quả nghiên cứu, Luận văn đã sử
dụng phương pháp này để đánh giá thực tiễn chống buôn lậu, gian lận thương
mại và hàng giả của các lực lượng hải quan các tỉnh Tây Nguyên (trong thời
gian từ 2013 đến 2018) và qua đó đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn
thiện quản lý nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả



CHƯƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ CHỐNG BUÔN LẬU, GIAN LẬN
THƯƠNG MẠI VÀ HÀNG GIẢ TRONG LĨNH
VỰC HẢI QUAN
1.1 Khái niệm quản lý Nhà nước về chống buôn lậu, gian lận thương
mại và hàng giả trong lĩnh vực Hải quan.
1.1.1 Khái niệm buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong lĩnh
vực hải quan.
1.1.1.1. Khái niệm buôn lậu, gian lận thương mại.
Thuật ngữ buôn lậu hiện nay được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Xét
theo khía cạnh khoa học ngôn ngữ thì cụm từ buôn lậu có nghĩa là buôn bán
hàng hóa trốn thuế và hàng cấm (từ điển tiếng Việt). Xét từ góc độ khoa học
pháp lý, thuật ngữ buôn lậu được hiểu phức tạp hơn, nó không bao hàm phản
ánh một thông tin rành mạch mà phải đặt vào tình huống hay ngữ cảnh cụ thể
mà nó mới được hiểu một cách chính xác phù hợp với tình huống hay ngữ
cảnh đó.
Buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những loại hàng
hóa hoặc tiền tệ, kim khí quý và đá quý, những vật phẩm có giá trị lịch sử,
văn hóa mà Nhà nước cấm xuất khẩu hay nhập khẩu hoặc buôn bán hàng hóa
nói chung qua biên giới mà trốn thuế và trốn sự kiểm tra của cơ quan Hải
quan. Tại Việt Nam, tội buôn lậu được quy định tại Điều 188, Bộ luật Hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Để chống buôn lậu người ta sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, trong
đó có hàng rào thuế quan. Ở mỗi quốc gia khác nhau có hàng rào thuế quan
khác nhau, do vậy có những mặt hàng buôn lậu khác nhau. Tuy nhiên cũng có
sự giống nhau về một số mặt hàng và thủ đoạn buôn lậu của gian thương.


8


và động cơ cuối cùng của cạnh tranh là lợi nhuận. Trong cạnh tranh chắc chắn
sẽ xuất hiện hình thức và thủ đoạn gian lận thương mại phức tạp và tinh vi thể
hiện ở các hành vi trốn thuế, lẩn tránh sự kiểm soát của Nhà nước, buôn lậu,
lừa đảo, hối lộ, lấy cắp bí mật sản xuất, cạnh tranh tiêu cực phi kinh tế... như
vậy, có thể thấy mục đích hành vi gian lận trong lĩnh vực thương mại nhằm
thu được lợi nhuận không chính đáng.
Ở nước ta hiện nay chưa có một văn bản pháp luật nào đề cập một cách
đầy đủ khái niệm về gian lận thương mại cũng như gian lận thương mại trong
lĩnh vực Hải quan. Tuy nhiên, từ việc khảo sát các tài liệu của Tổ chức Hải
Quan thế giới (World Customs Organization-WCO) cho phép đi đến một số
kết luận sau:
- Khác với gian lận thương mại nói chung, gian lận thương mại trong
lĩnh vực Hải quan là những hành vi gian lận nhằm trốn tránh việc kiểm soát
của cơ quan Hải quan để trốn thuế xuất nhập khẩu.
- Việc xác định khái niệm gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan
đã được Hội đồng hợp tác Hải quan quốc tế (nay là tổ chức Hải quan thế giới
World Customs Organization-WCO) thảo luận nhiều lần. Ngày 9/6/1977, các
nước thành viên họp tại Nairobi (CH Kenya) đã đưa ra định nghĩa: "gian lận
thương mại trong lh̃nh vực Hải quan là hành vi vi phạm pháp luật Hải quan,
lừa dối Hải quan để lẩn tránh một phần hoặc toàn bộ việc nộp thuế xuất nhập
khẩu, vi phạm các biện pháp cấm hoặc hạn chế do luật pháp Hải quan quy
định, để thu được một khoản lợi nào đó qua việc vi phạm pháp luật này”.
Hiện nay trong xu thế toàn cầu hóa, thương mại quốc tế ngày càng phát
triển, gian lận thương mại ngày càng phức tạp và tinh vi hơn. Vì vậy, tại Hội
nghị quốc tế lần thứ V về chống gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan
do WCO triệu tập tại Brussels, Bỉ ngày 9/10/1995 đã thống nhất đưa ra một
định nghĩa mới như sau: "Gian lận thương mại trong lh̃nh vực Hải quan là

lậu là hành vi buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa

11


hoặc ngược lại tráo pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý,
đá quý.
So sánh khái niệm gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan của Tổ
chức Hải quan Thế giới WCO với khái niệm buôn lậu hoặc vận chuyển trái
phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới có thể thấy có những điểm khác nhau sau:
- Gian lận thương mại thực chất đó là tiến hành hoạt động xuất nhập
khẩu có phép tắc, công khai đến cơ quan Hải quan để làm thủ tục (khai báo,
kiểm tra, nộp thuế) và công khai, hợp pháp đưa hàng hóa qua cửa khẩu.
Nhưng lợi dụng những kẽ hở để khai báo gian dối như về mẫu mã,về số
lượng, về chất lượng... nhằm đạt được kết quả cuối cùng là gian lận về mức
thuế phải nộp. Hành vi này có khi chỉ là thủ đoạn riêng của chủ hàng khi có
sự tiếp tay của một số nhân viên Hải quan biến chất;
- Buôn lậu là hành vi lén lút đưa hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới
trốn tránh hoặc chống lại sự kiểm tra, kiểm soát của Hải quan bằng cách
không đi qua cửa khẩu, hoặc tuy có đi qua cửa khẩu nhưng dùng thủ đoạn bí
mật bất hợp pháp như trà trộn hàng lậu trong các hàng hóa khác có làm thủ
tục, cấu tạo chỗ bí mật để giấu hàng lậu...để che dấu hàng hóa, trốn tránh,
chống lại sự kiểm tra của Hải quan, nhằm đạt được lợi ích cuối cùng là thu
được lợi nhuận thặng dư siêu ngạch. Hành vi buôn lậu có khi chỉ có giá trị
nhỏ, nhưng hầu hết phải do những tổ chức bất hợp pháp có đường dây bất hợp
pháp qua biên giới, có khi xuyên quốc gia thực hiện.
Vấn đề đặt ra là ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, hai khái
niệm này chưa được phân định rõ ràng. Nhiều nước coi buôn lậu cũng là hành
vi gian lận thương mại. Tổ chức Hải quan Thế giới tại Hội nghị lần thứ 5 về
chống gian lận thương mại đã xếp buôn lậu vào một trong những hình thức

vực Hải quan có mức độ nguy hiểm cho xã hội đáng kể. Điều đó có nghĩa là
hành vi khách quan và hàng hóa gian lận thương mại phải ở mức bị coi là
13


nguy hiểm đáng kể, phải xử lý hình sự (về tội buôn lậu). Dưới mức đó thì bị
coi là gian lận thương mại nguy hiểm chưa đáng kể và chỉ bị xử lý hành
chính.
1.1.1.3. Khái niệm hàng giả
Khái niệm hàng giả theo quy định của pháp luật Việt Nam tại Nghị định
số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ, hàng giả gồm các loại
sau:
- Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công
dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có
giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công
bố hoặc đăng ký;
- Hàng hóa có hàm lượng định lượng chất chính hoặc trong các chất dinh
dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so
với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp
dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
- Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất;
có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủ loại
dược chất đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì
hàng hóa
- Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉ đạt
từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng
ký, công bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác
với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
- Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân,
địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm

móng cho hoạt động hải quan đạt hiệu quả cao nhất trên cơ sở thực hiện
những nhiệm vụ cơ bản của hải quan trong nền kinh tế hiện đại và hội nhập cụ
2 Theo Công ước Kyoto sửa đổi 1999
3 Lane, Michael. Hiện đại hóa hải quan và con đường thương mại quốc tế. Quorum Books: Westport,

Connecticut. 1998

15


thể như sau:
- Thu thuế nhập khẩu và các loại thuế khác;
- Chống lại việc buôn lậu chất gây nghiện và các tệ nạn buôn lậu khác;
- Đóng góp vào chiến dịch chống tội phạm quốc tế;
- Ngăn cấm việc nhập khẩu các loại hàng hóa gây nguy hiểm cho sức
khoẻ, sự an toàn của con người và môi trường;
- Tạo điều kiện cho các hoạt động thương mại, du lịch, từ đó thúc đẩy
đầu tư và phát triển kinh tế;
- Tăng cường hệ thống xử lý hải quan đồng bộ và minh bạch trên toàn
thế giới.
Phù hợp với thông lệ quốc tế, Điều 12, Luật Hải quan số 54/2014/QH13
có quy định nhiệm vụ của Hải quan: “Thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa,
phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa
qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu; thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của Luật
này và quy định khác của pháp luật có liên quan; kiến nghị chủ trương, biện
pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu,
xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu”.
Để quản lý một cách hiệu quả, hải quan phải xây dựng và thực hiện các

kiện cho công tác điều tra chống buôn lậu, kiểm tra sau thông quan, thu thập
số liệu thống kê.
- Xu hướng hiện nay, các quốc gia mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế
giới đều trở thành thành viên của các tổ chức khu vực và quốc tế. Các tổ chức
này có vai trò thúc đẩy sự hài hòa và đơn giản hóa các thủ tục hải quan theo
các tiêu chuẩn quốc tế. Mặt khác, các tổ chức này cũng đưa ra các yêu cầu về
các chế độ ưu đãi thương mại, do vậy gây khó khăn trong quản lý cho hải
quan, thương mại và đây là cơ hội cho những sơ hở có thể bị lợi dụng
Theo khuyến nghị của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO), những đặc
17


trưng cơ bản của hải quan trong nền kinh tế hiện đại và hội nhập đòi hỏi các
nước thành viên phải có sự thay đổi về mặt tổ chức cho phù hợp để thực hiện
một cách có hiệu quả quy trình thủ tục hải quan theo chuẩn mực quốc tế. Theo
đó, Tiểu ban Thủ tục hải quan của APEC bắt đầu xây dựng các cam kết nhằm
hài hòa thủ tục hải quan giữa các nền kinh tế dựa trên các chuẩn mực của
WCO với xuất phát điểm là những mục tiêu cụ thể về thời điểm thực hiện các
chương trình nghiệp vụ hải quan thể hiện trong Kế hoạch hành động Manila,
tiếp đó, đã đưa ra chương trình hành động tập thể gồm 14 mục tiêu mà các cơ
quan hải quan của các nền kinh tế thành viên cần đạt tới là:
- Hài hòa cấu trúc biểu thuế quan với Công ước HS;
- Công khai hóa các thông tin về luật pháp, quy định, chỉ dẫn hành chính
và quản lý đối với doanh nghiệp;
- Đơn giản và hài hòa thủ tục hải quan trên cơ sở Công ước Kyoto;
- Áp dụng chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử UN/EDIFACT của Liên hiệp
quốc dùng trong hành chính, thương mại và vận tải;
- Áp dụng trị giá GATT/WTO;
- Áp dụng các nguyên tắc Hiệp định Bảo vệ sở hữu trí tuệ (TRIPS) của
WTO;

lận thương mại và hàng giả trong lh̃nh vực Hải quan.
Hải quan Việt Nam là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức
năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về hải quan
và tổ chức thực thi pháp luật về hải quan trong phạm vi cả nước. Trên cơ sở
đó Hải quan Việt Nam thực hiện:
- Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ xem xét, quyết định các dự án Luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết
của Quốc hội; dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo
nghị quyết, nghị định của Chính phủ; dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ
tướng Chính phủ về hải quan; Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình

19


mục tiêu quốc gia, chương trình hành động, đề án, dự án quan trọng về hải
quan;
- Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét, quyết định: Dự thảo thông tư,
quyết định, chỉ thị và các văn bản khác về hải quan; Kế hoạch hoạt động hàng
năm của ngành hải quan; Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam
theo quy định của Luật Hải quan.
- Ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp
vụ; văn bản cá biệt theo quy định của pháp luật thuộc phạm vi quản lý của
Tổng cục Hải quan.
- Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch, chương trình dự án, đề án về hải quan sau khi được cấp có
thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt.
- Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ:
+ Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu,
quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
+ Phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status