BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI ,PHÒNG CHỐNG BUÔN LẬU ,GIAN LẬN THƯƠNG MẠI CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM - Pdf 31

1

MỤC LỤC
MỤC LỤC................................................................................................................1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT...............................................................................3
MỞ ĐẦU...................................................................................................................3
Lý do chọn đề tài.......................................................................................................4
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước................................................................5
Mục đích, mục tiêu nghiên cứu.................................................................................5
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.................................................................................6
Phương pháp nghiên cứu...........................................................................................6
Nội dung của đề tài....................................................................................................6
CHƯƠNG I..............................................................................................................7
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
VỀ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG
MẠI...........................................................................................................................7
1.1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG BUÔN LẬU VÀ
GIAN LẬN THƯƠNG MẠI.....................................................................................7
1.2.KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG BUÔN
LẬU VÀ GLTM CỦA HẢI QUAN CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI....................17
CHƯƠNG II...........................................................................................................24
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH HẢI QUAN TRONG CÔNG
TÁC PHÒNG, CHỐNG BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI..........24
2.1.CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC VÀ CÁC BIỆN PHÁP
CỦA NGÀNH HẢI QUAN TRONG CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG BUÔN LẬU
VÀ GLTM...............................................................................................................24
2.2.KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG BUÔN LẬU & GLTM TRONG THỜI KÌ MỞ
CỬA NỀN KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.....................25
2.3.ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG BUÔN LẬU VÀ GLTM
CHUNG CỦA NGÀNH HẢI QUAN.....................................................................53


KTTMĐB

:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:

Gian lận thương mại
Thương mại quốc tê
Xuất Nhập Khẩu
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
sở hữu trí tuê
vận chuyển trái phép hàng hoá
quản lý rủi ro
Khoa học Công nghê Môi trường
Kiểm soát liên hợp
Giá trị gia tăng
Tạm nhập tái xuất
Kinh tê thương mại đặc biêt

MỞ ĐẦU



5
Trên đây là một vài nguyên nhân điển hình cho viêc nghiên cứu đề tài này.
Thực trạng nóng bỏng của hoạt động buôn lậu và GLTM vẫn đang diễn biên tiêp
tục từng ngày từng giờ luôn là một điều nhức nhối đối với các nhà quản lý. Đứng
trước thực trạng này nhóm nghiên cứu xin đưa ra đề tài “Hoạt động phòng, chống
buôn lậu và gian lận thương mại của ngành Hải quan” nhằm tìm ra những hướng đi
đúng đắn góp phần cải thiên tình hình trên thông qua viêc tìm hiểu thực trạng buôn
lậu và GLTM trên cả nước.
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
GLTM luôn đi kèm với hối lộ và tham nhũng đang là vấn nạn được nhiều
nhà nghiên cứu, nhiều quốc gia quan tâm. Có một số tài liêu trong nước đề cập đên
vấn đề này ở các góc độ khác nhau, phù hợp với tình hình hiên tại của từng quốc
gia. Buôn lậu và GLTM ở Viêt Nam trong những năm qua có chiều hướng gia
tăng, đang là vấn đề “nhức nhối” được Đảng và Nhà nước quan tâm. Chủ yêu là
tình hình buôn lậu và GLTM trong nội địa mà chưa có một tài liêu nào đề cập một
cách toàn diên, có hê thống về mặt lý luận và thực tiễn để từ đó đề ra các giải pháp
phòng, chống GLTM cho phù hợp với tình hình hiên nay ở nước ta nhằm giúp cho
các cơ quan hữu trách quản lí kinh doanh xuất nhập khẩu có hiêu quả.
Mục đích, mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Hoạt động phòng, chống buôn lậu và GLTM của ngành
Hải Quan – Thực trạng và Giải pháp” với mục tiêu:
Hê thống hóa và làm rõ những cơ sở lý luận về hoạt động phòng
chống GLTM. Đồng thời nghiên cứu thực tiễn hoạt động phòng chống GLTM ở
một số cảng và cửa khẩu để rút ra một một số bài học kinh nghiêm có ý nghĩa thực
tiễn với nước ta hiên nay.
Làm rõ chủ trương, chính sách của Nhà nước và biên pháp của ngành
Hải quan về phòng chống GLTM. Từ đó, phân tích tình hình phòng, chống GLTM
ở nước ta trong thời gian qua. Đó là cơ sở đề xuất những giải pháp.



7

CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI VỀ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG
BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG BUÔN LẬU
VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI
Khái niệm buôn lậu, GLTM và các hình thức GLTM
Khái niệm buôn lậu
Thuật ngữ buôn lậu được sử dụng với những ý nghĩa khác nhau, theo Từ
điển tiêng Viêt, cụm từ “buôn lậu” có nghĩa là “buôn bán những hàng cấm hoặc
trốn thuê”. Đây là một khái niêm kê thừa những hiểu biêt xưa nay về cụm từ này
và khá phù hợp với quan niêm phổ thông hiên nay.
Từ năm 1985 Bộ luật Hình sự của nước CHXHCN Viêt Nam ra đời đã chính
thức ghi nhận tội danh buôn lậu, đên Bộ luật hình sự bổ sửa đổi, bổ sung năm
2009, căn cứ vào điều 153 có thể rút ra khái niêm buôn lậu: “Buôn lậu là hành vi
buôn bán trái phép qua biên giới hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí


8
quý, đã quý hoặc vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hóa”. Như vậy, tội danh
buôn lậu đã được xác định với 4 yêu tố cấu thành tội phạm và những dấu hiêu pháp
lý đặc trưng nên đã có tác dụng hướng dẫn nhận thức cũng như chỉ đạo thực thi
pháp luật.
1.1.1.2.

Khái niệm GLTM


So sánh khái niêm GLTM trong lĩnh vực Hải quan với khái niêm buôn lậu
hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tê qua biên giới có thể thấy có những
điểm khác nhau sau:
GLTM thực chất đó là tiên hành hoạt động xuất nhập khẩu có phép tắc, công
khai đên cơ quan Hải quan để làm thủ tục (khai báo, kiểm tra, nộp thuê) và công
khai, hợp pháp đưa hàng hóa qua cửa khẩu. Nhưng lợi dụng những kẽ hở để khai
báo gian dối như về mẫu mã,về số lượng, về chất lượng...nhằm đạt được kêt quả
cuối cùng là gian lận về mức thuê phải nộp. Hành vi này có khi chỉ là thủ đoạn
riêng của chủ hàng khi có sự tiêp tay của một số nhân viên Hải quan biên chất.
Buôn lậu là hành vi lén lút đưa hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới trốn
tránh hoặc chống lại sự kiểm tra, kiểm soát của Hải quan bằng cách không đi qua
cửa khẩu, hoặc tuy có đi qua cửa khẩu nhưng dùng thủ đoạn bí mật bất hợp pháp
như trà trộn hàng lậu trong các hàng hóa khác có làm thủ tục, cấu tạo chỗ bí mật để
giấu hàng lậu... để che dấu hàng hóa, trốn tránh, chống lại sự kiểm tra của Hải
quan, nhằm đạt được lợi ích cuối cùng là thu được lợi nhuận thặng dư siêu ngạch.
Hành vi buôn lậu có khi chỉ có giá trị nhỏ, nhưng hầu hêt phải do những tổ chức
bất hợp pháp có đường dây bất hợp pháp qua biên giới, có khi xuyên quốc gia thực
hiên.
Vấn đề đặt ra là ở Viêt Nam cũng như nhiều nước trên thê giới, hai khái
niêm này chưa được phân định rõ ràng. Nhiều nước coi buôn lậu cũng là hành vi
GLTM. WCO tại hội nghị lần thứ 5 về chống GLTM đã xêp buôn lậu vào một
trong những hình thức GLTM nhưng coi đó là loại hình GLTM đặc biêt nguy
hiểm.


10
Ở Viêt Nam hiên nay, buôn lậu được coi là hành vi vi phạm pháp luật,
không đồng nhất với GLTM.
Theo Bộ Luật hình sự 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định
tại điều 153 và điều 154, buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tê qua

bộ phận của GLTM là buôn lậu và buôn lậu bao gồm cả GLTM. Hai khái niêm này
thường đi đôi, gắn liền với nhau trong tiềm thức xã hội, chúng có phần giao thoa
với nhau nhưng không bao hàm tất cả. Đặc biêt là GLTM, ngoài buôn lậu, GLTM
còn bao gồm nhiều yêu tố khác như: buôn bán hàng giả, ăn cắp mẫu mã, khai báo
sai về số lượng, chất lượng hàng hóa...


Sự khác nhau cơ bản giữa GLTM và buôn lậu là buôn lậu trước hết là:
Hành vi GLTM nhưng ở mức cao hơn, tính chất phức tạp và nghiêm trọng

hơn. Nó là trường hợp đặc biêt của GLTM.
Về bản chất của những kẻ buôn lậu là mạo hiểm, sử dụng "cơ bắp" và các
phương tiên cần thiêt để đưa hàng qua biên giới.
Bản chất của GLTM là "cơ mưu, trí não" lợi dụng sự sơ hở, không rõ ràng,
không chính xác khoa học và đầy đủ của luật pháp, chính sách của các cơ quan
quản lý chức năng để thực hiên hành vi gian dối, lừa gạt qua cửa khẩu một cách
công khai nhằm thu lợi bất chính. Phạm vi của khái niêm GLTM rộng hơn khái
niêm buôn lậu.
Nêu xét ở mức độ nguy hiểm đối với nền kinh tê thì hành vi buôn lậu mang
ảnh hưởng nghiêm trọng hơn nhiều.
Nêu xét ở khía cạnh xử lý thì xử lý GLTM trong lĩnh vực Hải quan khó khăn
hơn và khung hình phạt nhẹ hơn.
Nêu xét ở góc độ nhận biêt thì buôn lậu dễ nhận thấy hơn còn GLTM thông
thường núp dưới những vỏ bọc hợp pháp.
Có thể nói, buôn lậu trước hêt là hành vi GLTM trong lĩnh vực Hải quan có
mức độ nguy hiểm cho xã hội đáng kể. Điều đó có nghĩa là hành vi khách quan và


12
hàng hóa GLTM phải ở mức bị coi là nguy hiểm đáng kể, phải xử lý hình sự (về tội

13
- Lợi dụng chê độ ưu đãi hàng gia công.
- Lợi dụng chê độ tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập (đây là hàng hóa
được miễn thuê XNK nhưng đã sử dụng sai mục đích…).
- Lợi dụng yêu cầu về giấy phép xuất nhập khẩu (như các loại giấy phép
theo nhu cầu chuyên ngành như hàng cho an ninh, quốc phòng, y tê, văn hóa,…).
- Lợi dụng chê độ quá cảnh.
- Khai sai về số lượng, chất lượng hàng hóa.
- Lợi dụng chê độ mục đích sử dụng, kể cả buôn bán trái phép hàng được ưu
đãi thuê, thuê nhập khẩu dành cho đối tượng sử dụng nhất định.
- Vi phạm đạo luật về diễn giải thương mại hoặc quy định bảo vê người tiêu
dùng.
- Hàng giả, hàng ăn cắp mẫu mã.
- Yêu cầu giả, khống viêc hoàn hoặc truy hoàn thuê Hải quan kể cả các
chứng từ hàng đã xuất khẩu.
- Kinh doanh “ma”, gian lận trong đăng ký kinh doanh nhằm hưởng tín dụng
trái phép
- Thanh lý có chủ đích
1.1.2. Nguyên nhân xuất hiện buôn lậu và GLTM
Buôn lậu và GLTM những hiên tượng mang tính lịch sử, chỉ khi có sản xuất
hàng hóa, các sản phẩm được mang ra trao đổi trên thị trường, có người mua,
người bán nhằm thực hiên phần giá trị được kêt tinh trong hàng hóa thì buôn lậu và
GLTM mới xuất hiên. Sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, thị trường ngày


14
càng mở rộng, các sản phẩm đưa ra trao đổi, buôn bán trên thị trường ngày càng
nhiều, tiêu chuẩn và chủng loại hàng hóa ngày càng đa dạng phong phú thì hành vi
buôn lậu và GLTM cũng ngày càng phức tạp và tinh vi hơn.
Xét trong điều kiên cụ thể ở Viêt Nam, có thể rút ra nguyên nhân và điều

kiên địa lý. Nước ta có 3730km biên giới đường bộ và 32690km đường biển với
địa hình núi non hiểm trở, địa hình ven biển thì phức tạp nhiều kênh rạch, đây là
địa bàn hoạt động thuận lợi cho dân buôn lậu nhập hàng trái phép và nước ta.
1.1.2.3.

Nguyên nhân về tâm lý xã hội

Nền kinh tê thị trường đem đên cho đất nước ta cả những mặt tích cực và
tiêu cực. Xóa bỏ bao cấp yêu cầu người dân phải tự có ý thức vươn lên khẳng định
mình. Lối sống chạy theo đồng tiền, chạy theo lợi nhuận có xu hướng gia tăng. Từ
đó, nhiều biểu hiên tiêu cực nảy sinh, các giá trị đạo đức chuẩn mực bị phá vỡ.
Tình trạng tiêu pha lãng phí diễn ra ngày càng tăng trong thời điểm nước ta còn
nghèo với mức GDP bình quân hiên nay là khoảng 1.300 USD/năm.
Như vậy, viêc xác định rõ thực trạng tâm lý xã hội ở nước ta hiên nay có ý
nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần xây dựng đời sống tâm lý xã hội
lành mạnh, hạn chê, khắc phục tiêu cực trong xã hội, trong đó có buôn lậu và
GLTM.
1.1.2.4.

Sự chống phá từ bên ngoài

Trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, lợi dụng đất nước ta còn đang đổi mới,
chính sách an ninh và pháp luật còn nhiều khó khăn sơ hở, các thê lực thù dịch
dùng lợi nhuận kích thích hoạt động buôn bán, kể cả các thủ đoạn gian lận trong
thương mại để biên nước ta thành thị trường tiêu thụ và bòn rút tài nguyên quý của
nước ta.
Để đẩy mạnh âm mưu biên nước ta thành trị trường tiêu thụ, khống chê nền
kinh tê nước ta, một số nước còn thực hiên chính sách bù lỗ, hạ giá thành sản phẩm
và sử dụng con đường tiểu ngạch, buôn lậu đẩy hàng hóa ê thừa để sang nước ta để
thu hồi vốn và giải quyêt nạn thất nghiêp của nước họ.


17
Những tác hại mà buôn lậu và GLTM gây ra cho nền kinh tê và văn hóa xã hội sẽ
khiên lòng tin với Nhà nước bị mai một.
Buôn lậu và GLTM sẽ làm mất đi các giá trị đạo đức. Đồng tiền bất chính
cám dỗ người dân và làm gia tăng các tê nạn xã hội.
1.2.

KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG

BUÔN LẬU VÀ GLTM CỦA HẢI QUAN CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.2.1. Quy định quốc tế về phòng, chống buôn lậu và GLTM
Vì hoạt động Hải quan trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh và quá
cảnh có liên quan trực tiêp đên sự điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau, nên
nhìn chung luật Hải quan các nước được xây dựng thành Bộ Luật, có nhiều nội
dung mang tính liên ngành, bao gồm các quy định của các Bộ luật như: Luật thuê
xuất khẩu, thuê nhập khẩu; Luật hành chính; Luật Hình sự; Luật Hàng hải; Luật Tố
tụng hình sự. Những phạm vi pháp luật Hải quan thường được phân chia thành hai
loại như: Loại thứ nhất là xử lý về hành chính đối với các vi phạm nhỏ; bắt nộp
phạt, vv…; Loại thứ hai là xử lý về hình sự khi có dấu hiêu phạm tội. Nhằm mục
đích phòng, chống GLTM thật chủ động và hiêu quả, pháp luật của nhiều nước có
những quy định cụ thể, chặt chẽ, nghiêm khắc với hành vi GLTM; Đồng thời giao
cho cơ quan Hải quan nhiều quyền hạn phù hợp với chức năng của mình để kiểm
tra, kiểm soát, điều tra và xử lý các hoạt động GLTM.
Đối với cộng đồng EU, Điều 13, Luật Hải quan EU quy định: “Cơ quan Hải
quan có quyền áp dụng tất cả các quy định trong Luật Hải quan để tiên hành mọi
biên pháp kiểm tra mà họ thấy cần thiêt nhằm đảm bảo Luật Hải quan được thi
hành nghiêm chỉnh” và Điều 68 quy định: “nhằm xác minh sự đúng đắn của tờ
khai, cơ quan Hải quan có quyền”.





Ban kiểm nghiêm



Ban cho hàng đi



Ban phúc tra

Bốn ban này hoạt động độc lập, cùng phối hợp dây chuyền song cũng kiềm
chê lẫn nhau.
Động tác kiểm nghiêm phải thực hiên trên một nửa số hàng có giá trị cao,
hoặc có tính đại biểu, xem xét từ bề mặt đên phía giữa Container từ trên xuống
dưới. Thực tê chứng minh viêc cải cách kiểm tra hàng hóa ở Hải quan Trung Quốc
cho thấy quyền lực kiểm tra được quy chê hóa, công viêc được vận hành trên một
dây truyền công khai trong sáng, nhân tố tiêu cực nhất định bị loại bỏ. Từ tháng 7
năm 2011 đên nay phát hiên 1020 vụ buôn bán có giá trị 300,08 triêu NDT nhưng


19
kêt quả quan trọng nhất thu hoạch được là tác phong làm viêc, đạo đức của cán bộ
Hải quan được nâng cao, chiêm được sự tin tưởng của lãnh đạo và nhân dân.
1.2.2.2.

Kinh nghiệm của Singapore


theo thẩm quyền riêng được công nhận và dữ liêu được xử lý thống nhất tại cơ
quan Hải quan. Nhờ vào viêc áp dụng cơ chê một cửa thống nhất trên nền tảng
công nghê thông tin, trong giai đoạn 2002 - 2012, số lượng các vụ vi phạm về thuê
được phát hiên tăng từ 20,4% lên 36,8% trong lĩnh vực thuê và chính sách thương
mại.
1.2.2.4.

Kinh nghiệm của Australia

Với quan điểm chống tham nhũng trước tiên phải thực hiên trong nội bộ cơ
quan Hải quan, lãnh đạo Hải quan Australia rất chú trọng tới viêc cải tiên nhận
thức về cách ứng xử và nhận thức về mặt xã hội của các nhân viên Hải quan.Một
trong những sáng kiên xuất phát từ hoạt động trên chính là sự ra đời của “thẻ Z”.
Thẻ Z được cấp cho tất cả nhân viên Hải quan và sẽ do bộ phận các chuẩn mực
nghề nghiêp và liêm chính quản lý. Những giá trị chính của thẻ Z – hay còn gọi là
thẻ chống gian lận trong nhân viên Hải quan và bảo vê biên giới – là “chuẩn bị,
ngăn chặn, kiểm tra phát hiên và giải quyêt” các vấn đề. Để đạt được mục tiêu này,
cần có được các phương tiên hiêu quả và minh bạch trong xử lý các nghi vấn về
gian lận, tham nhũng và lạm quyền.
Các thông tin được quy định trong thẻ Z phù hợp với chính sách nội bộ về
liêm chính và các chuẩn mực nghề nghiêp về liêm chính hiên hành của chính phủ
Australia. Với cấu trúc đơn giản nhưng chứa đựng đầy đủ thông tin cần thiêt, thẻ Z
là một công cụ tham khảo và tư vấn nhanh chóng.
1.2.2.5.

Kinh nghiệm của My

Hải quan Mỹ là cơ quan duy nhất và thống nhất quản lý biên giới, cơ quan
Hải quan và Bảo vê Biên giới Mỹ (CBP) có vai trò đặc biêt quan trọng trong bảo
vê an ninh nước Mỹ và người dân Mỹ.

trong viêc quyêt định luân chuyển, đề bạt, phát triển nghề nghiêp của nhân viên
Hải quan.
Chỉ tính trong năm 2010, ba cơ quan chính trong công cuộc chống tham
nhũng và rửa tiền ở Malaysia là Cảnh sát Hoàng gia Malaysia, Ủy ban chống tham
nhũng và Hải quan Hoàng gia đã tiên hành hàng chục chiên dịch và đã có 3.000


22
đối tượng bị khởi tố liên quan tới 94 vụ rửa tiền, tham nhũng với số tiền thu về lên
tới 1,2 tỷ ringgit (375 triêu USD).
1.2.3. Bài học kinh nghiêm rút ra cho Viêt Nam
Qua kinh nghiêm của các nước trong khu vực và trên Thê giới chúng ta có
thể rút ra những bài học đối với Viêt Nam đó là:
Cuộc chiên chống gian lận và tham nhũng nói chung và trong ngành Hải
quan nói riêng cần phải kiên quyêt hơn nữa. Để chống GLTM thì ngành Hải quan
không chỉ phải tiên hành cải cách hê thống văn bản pháp luật, chính sách, thay đổi
cơ cấu tổ chức mà còn phải áp dụng những tiên bộ của tin học và sử dụng các công
cụ kỹ thuật khác vào quy trình làm thủ tục Hải quan cũng như công tác quản lý số
liêu, hồ sơ trong các khâu quản lý hàng nhập, kê toán thuê, theo dõi nợ đọng thuê.
Qua tìm hiểu nghiên cứu kinh nghiêm của một số nước trong lĩnh vực áp
dụng kỹ thuật QLRR vào quy trình thủ tục Hải quan đối với hàng hóa XNK, chúng
ta có thể rút ra những bài học kinh nghiêm sau:
- Cách tốt nhất của Viêt Nam là chủ động và khẩn trương chuẩn bị điều kiên
để triển khai nhanh kỹ thuật QLRR trong các khâu nghiêp vụ Hải quan.
- Viêt Nam phải chú trọng đầu tư xây dựng hê thống đảm bảo thông tin ngay
từ đầu, nhất là vấn đề tổ chức thu thập thông tin tình báo ở nước ngoài và tổ chức
hê thống nối mạng hiêu quả trong nước.
- Phải xây dựng tổ chức thực thi QLRR chuyên nghiêp để chuẩn hóa các tiêu
chí lựa chọn và làm đầu mối tổng hợp thông tin.
- Phải tạo căn cứ pháp lý đủ mạnh cho viêc áp dụng QLRR trong thủ tục Hải

BUÔN LẬU VÀ GLTM
2.1.1. Chủ trương, chính sách của Nhà nước
Đấu tranh phòng chống buôn lậu và GLTM thông qua hoạt động XNK, đầu
tư nước ngoài... là nhiêm vụ quan trọng mà Đảng và Nhà nước đã giao cho ngành
Hải quan. Nhà nước cũng đưa ra những quy chê phối hợp giữa các lực lượng trong
Chi cục Hải quan, giữa các Chi cụ Hải quan thuộc Cục Hải quan các tỉnh, thành
phố thông qua Biên giới bản bàn giao, thông qua hồi báo bằng fax, điên thoại trao
đổi trực tiêp. Các biên pháp tăng cường giám sát, quản lý được tăng cường và triển
khai đồng bộ giữa các lực lượng chuyên trách của cơ quan Hải quan như khâu thủ
tục thông quan, khâu giám sát, khâu giám sát hồ sơ và nhiều khâu khác.
2.1.2. Hệ thống văn bản pháp quy hiện hành liên quan đến phòng, chống buôn
lậu và GLTM
Chống buôn lậu và GLTM luôn là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thê
giới. Tê nạn buôn lậu và GLTM ở nước ta trong những năm gần đây có nhiều diễn
biên phức tạp và đang là một trong những trở ngại lớn cho công cuộc xây dựng và
phát triển đất nước. Chính vì thê Đảng và Nhà nước ta hêt sức coi trọng lĩnh vực


25
đấu tranh phòng, chống buôn lậu & GLTM và đã đề ra nhiều chủ trương , chính
sách để phòng ngừa, ngăn chặn tê nạn này.
Hộp 1: Các Luật, Chỉ thị, Quyêt định, Thông tư Nhà nước đã ban hành về vấn đề chống
buôn lậu và GLTM năm 2005 đên nay.
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đên viêc chỉ đạo phòng, chống buôn lậu và GLTM thể
hiên:


Luật Hải Quan 2001và luật Hải quan sửa đổi, bổ sung 2005

Chỉ thị 1007/CT-TCHQ ngày 18/04/2008 của Bộ Tài Chính – Tổng Cục Hải Quan

Thông
93/2010/TT-BTC
ban hành
28/06/2010,
có TẾ
hiêuTHỊ
lực 12/08/2010
KÌ MỞ
NỀNtưKINH
TẾ VÀ PHÁT
TRIỂN
KINH
TRƯỜNGHướng
dẫn viêc xác định các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài chính là hành vi buôn lậu,
GLTM
hànghình
giả. chung
2.2.1. và
Tình

Thông tư 57/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính về viêc hướng dẫn về cơ chê thí điểm
Từkinh
Đạiphí
hộihỗđại
quốc lần
thứbuôn
XI Đảng
Cộng
sản và
Viêt

xướng
đạotácđãchống
giànhbuôn
được
và hàng giả trên tuyên biên giới phía Bắc

thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status